Chương 02
Đích đến và nền đất Một buổi ngồi giúp ta bắt đầu. Để biết mình đang đi về đâu, ta cần nhìn rộng hơn: hiểu khổ, học cách sống không gây hại và tu tập toàn bộ con đường. Trong SN 55.5, “dòng” được xác định là Bát Chánh Đạo.
BIÊN SOẠN · đọc K05 · K06
Sau những ngày đầu làm quen với việc ngồi, bạn có thể tự hỏi: “Việc thực hành này hướng đến điều gì?”. Chương này trở lại những lời dạy nền tảng. Ta sẽ phân biệt đích đến với các điều kiện nâng đỡ việc tu, để một kinh nghiệm dễ chịu không bị hiểu lầm thành thành tựu, và một buổi ngồi khó cũng không khiến mình vội nản lòng.
KINH · K05 · SN 56.11, diễn ý bốn nhiệm vụ Khổ cần được hiểu trọn vẹn; nguồn gốc của khổ cần được từ bỏ; sự chấm dứt khổ cần được chứng ngộ; con đường đưa đến chấm dứt khổ cần được tu tập.Bốn sự thật và bốn việc cần làm Tứ Thánh Đế , cũng thường gọi là Tứ Diệu Đế , là bốn sự thật được trình bày trong phần dưới. “Đế” ở đây có nghĩa là sự thật. Bạn chưa cần thuộc cách gọi; điều quan trọng hơn là hiểu mỗi sự thật đi cùng một việc cần làm.
KINH · K05 · SN 56.11:4.1–4.10, diễn ý Bài kinh nêu sinh, già, bệnh, chết là khổ; gặp điều không ưa, xa điều yêu và không được điều mình muốn là khổ; nói gọn, năm thủ uẩn là khổ. Nguồn gốc của khổ được nêu là ái dẫn đến tái hữu, đi cùng sự thích thú và đắm trước, tìm vui chỗ này chỗ khác: dục ái, hữu ái và phi hữu ái. Sự chấm dứt khổ là sự ly tham, đoạn diệt hoàn toàn, từ bỏ, buông xả, giải thoát và không còn nương vào chính ái ấy. Con đường đưa đến chấm dứt khổ là Bát Chánh Đạo.BIÊN SOẠN Để dễ theo dõi, ái có thể được hiểu gần nghĩa là sự khát khao, bám víu. Dục ái hướng đến các thú vui giác quan; hữu ái là khát khao hiện hữu; phi hữu ái là khát khao không hiện hữu. Tái hữu nói đến sự tiếp tục hiện hữu, không chỉ một tâm trạng lặp lại. Những từ này không đồng nghĩa với mọi mong muốn: ý muốn học, sửa sai hay làm điều thiện không phải vì mang tên “muốn” mà đều trở thành ái. Đắm trước là sự say mê, bám chặt vào đối tượng.
Năm uẩn là năm nhóm được kinh dùng để phân tích kinh nghiệm: sắc, phần vật chất; thọ, cảm nhận dễ chịu, khó chịu hay trung tính; tưởng, sự nhận ra và nhận dạng; hành, các hoạt động tạo tác của tâm; thức, sự nhận biết theo các cửa giác quan. “Năm thủ uẩn” nói đến các uẩn hữu lậu, có thể bị chấp thủ; “hữu lậu” nói đến sự liên hệ với lậu hoặc, những ô nhiễm ràng buộc tâm. Không nên thu hẹp thuật ngữ này thành riêng những lúc ta nhận ra mình đang bám víu. Đối chiếu SN 22.48 ở K53. Đây là cách giải thích ngắn để đọc tiếp; Chương 10 sẽ trở lại mối liên hệ giữa các uẩn, chấp thủ và thân kiến.
KINH · K05 · SN 56.11:5–10 Với mỗi Thánh đế, bài kinh trình bày ba vòng: biết sự thật ấy; biết nhiệm vụ đối với sự thật ấy; biết nhiệm vụ đã hoàn tất. Bốn Thánh đế với ba vòng như vậy thành mười hai phần. Đức Phật nói đến sự thanh tịnh của thấy biết này khi trình bày sự giác ngộ của Ngài.BIÊN SOẠN Với người đang học, có thể bắt đầu bằng hai câu hỏi: “Điều gì cần được hiểu?” và “Việc gì cần được làm?”. Hiểu khổ không có nghĩa là ghét cuộc sống. Từ bỏ ái không phải đè nén mọi ý muốn. Tu tập con đường cũng không chỉ là nhớ tên các chi đạo. Ta học cách đem lời dạy vào việc thấy, việc nói và việc làm, đồng thời giữ rõ khoảng cách giữa đang tu tập và đã hoàn tất nhiệm vụ.MINH HỌA · BIÊN SOẠN THEO K05
Một lần không được ghi nhận
Bạn làm một việc cẩn thận nhưng chưa được ghi nhận. Có thể nhận ra sự khó chịu, ý nghĩ “mình bị xem thường” và sức ép phải chứng minh ngay. Trước hết, hãy phân biệt điều thực sự đã xảy ra với điều tâm đang suy đoán.
Tiếp đến, thử nhìn phần bám víu: mình có đang đòi người khác phải phản ứng đúng như mong đợi không? Nhận ra điều ấy giúp chọn lời đáp thay vì vội tranh hơn thua. Điều này không có nghĩa phải im lặng trước sự bất công; bạn vẫn có thể hỏi lại hoặc trình bày sự việc chân thật.
Khi không tiếp tục nuôi cuộc tranh cãi trong tâm, sự căng thẳng có thể lắng. Đó là thay đổi tạm thời của một phản ứng, không phải bằng chứng đã chứng Niết-bàn. Ví dụ này chỉ giúp liên hệ khổ, ái và việc tu trong một tình huống, không thay toàn bộ bốn Thánh đế.
BIÊN SOẠN Niết-bàn là cứu cánh giải thoát mà sự thật thứ ba hướng đến. Sách không dùng từ ấy như tên khác của thư giãn, hết suy nghĩ trong chốc lát hay bớt giận sau một cuộc đối thoại. Những thay đổi nhỏ có giá trị trong việc tu, nhưng cần được gọi đúng mức của chúng.“Dòng” là Bát Chánh Đạo KINH · K06 · SN 55.5, đối thoại giữa Đức Phật và Tôn giả Sāriputta Khi Đức Phật hỏi “dòng” là gì, Tôn giả Sāriputta trả lời: đó là Bát Chánh Đạo, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Đức Phật xác nhận câu trả lời ấy. Người thành tựu Thánh đạo tám chi này được gọi là người nhập dòng.Tám tên gọi dưới đây chỉ những phần cần được học và tu tập cùng nhau. Các lời giải nghĩa trong ngoặc là cách nói gần gũi của sách; phần định nghĩa được gắn với bài kinh tương ứng.
BIÊN SOẠN Xuất ly ở đây là hướng rời sự đắm nhiễm dục; tà hạnh trong dục nói đến hành vi tình dục sai trái. Phù phiếm chỉ lời nói vô ích, không phải mọi cuộc trò chuyện thân tình. Thiện và bất thiện nói đến phẩm chất cần được nuôi lớn hoặc từ bỏ trên đường tu. Chương 3 sẽ giải thích các từ thân, thọ, tâm, pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác và chánh niệm.
Có một khác biệt văn bản cần giữ rõ. Bản Pāli SN 45.8 được đối chiếu dùng abrahmacariyā veramaṇī, nghĩa là từ bỏ hành vi trái phạm hạnh, ở đây gồm việc kiêng quan hệ tình dục. MN 117:25.2 dùng kāmesumicchācārā veramaṇī, từ bỏ tà hạnh trong dục. Vì đây là sách dành cho người tại gia, dòng chánh nghiệp ở trên ghi rõ căn cứ MN 117, không âm thầm đổi cách diễn đạt của SN 45.8 thành giới dành cho cư sĩ.
MINH HỌA · BIÊN SOẠN THEO K23 · K25
Một lời phê bình, nhiều phần của con đường
Khi nhận lời phê bình, bạn có thể xem lại điều gì đúng, điều gì mình đang suy đoán và điều gì đang nuôi sự bực bội. Đó là một cách vận dụng hướng học của chánh kiến . Chọn không trả đũa liên hệ với chánh tư duy . Trả lời chân thật, không sỉ nhục liên hệ với chánh ngữ .
Không làm hại người hay chiếm đoạt của họ liên hệ với chánh nghiệp . Không kiếm lợi bằng lừa dối liên hệ với chánh mạng . Không nuôi tiếp sân, tập kiên nhẫn liên hệ với chánh tinh tấn . Nhớ hướng tu và nhận ra trạng thái đang có liên hệ với chánh niệm . Việc rèn tâm bằng định nâng đỡ khả năng không bị cuốn đi.
Đây là ví dụ ứng dụng, không phải bằng chứng rằng một lần xử lý khéo đã thành tựu đủ tám chi. Đặc biệt, dừng lại vài giây không đồng nghĩa với thành tựu chánh định được trình bày bằng bốn thiền.
Bảng sau giúp chọn một việc để thực hành, không dùng để chấm mức chứng đắc. Các ứng dụng là phần biên soạn cho đời sống hôm nay.
Chi đạo Điều cần lưu ý Một cách thực hành Chánh kiến một cảm giác yên chưa nói hết hướng tu trở lại bốn sự thật và nhiệm vụ đi cùng Chánh tư duy ý muốn thắng có thể lấn át ý muốn hiểu chọn ý hướng không sân, không hại trong bất đồng Chánh ngữ lời đúng sự thật vẫn có thể được nói thiếu thiện ý xem lại sự thật và cách nói trước khi trả lời Chánh nghiệp giữ giới cả khi bực bội không để cơn giận thành hành vi gây hại Chánh mạng cách kiếm sống cũng thuộc việc tu nhận ra và sửa một cách làm dựa vào lừa dối Chánh tinh tấn nỗ lực cần đúng hướng ngừng nuôi một điều bất thiện, làm một việc thiện trong khả năng Chánh niệm có thể quên hướng tu giữa sinh hoạt dùng bốn điểm nhắc ở Chương 7 Chánh định định cần được tu tập, không thể suy ra từ một lần tạm yên thực hành vừa sức theo hướng dẫn ở Chương 1
Giới hạn cần nhớ
Một kỹ thuật nằm trong một con đường rộng hơn
BIÊN SOẠN · đối chiếu K06 · K23 · K25
Ghi nhận trong thiền có thể hỗ trợ việc rèn tâm. Việc học thấy đúng, giữ giới và sửa cách sống vẫn cần được thực hiện trong phạm vi riêng. Ta không phải hoàn hảo rồi mới được bắt đầu; đồng thời, một kỹ thuật không thay thế những phần còn lại của con đường.
Nhập lưu được kinh mô tả thế nào? Kiết sử là những trói buộc khiến hữu tình còn lưu chuyển trong luân hồi, không phải tên chung cho mọi thói quen chưa tốt. Phần dưới giới thiệu những nét chính; Chương 10 sẽ giải thích riêng ba kiết sử đầu.
KINH · K03 · SN 55.4; K08 · DN 16; K10 · AN 3.88; K24 · AN 10.13 Các bài kinh mô tả bậc Nhập lưu là người đã dứt ba kiết sử đầu: thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Vị ấy không còn bị đọa vào khổ cảnh (những cảnh giới đau khổ), chắc chắn hướng đến giác ngộ. AN 3.88 nêu các loại người đã dứt ba kiết sử này, trong đó có loại còn lưu chuyển giữa người và trời nhiều nhất bảy lần trước khi chấm dứt khổ.BIÊN SOẠN Thân kiến là cái thấy chấp các uẩn làm tự ngã; hoài nghi ở đây là sự nghi ngờ trói buộc đối với con đường, không đồng nghĩa với mọi câu hỏi cần tìm hiểu; giới cấm thủ là sự chấp thủ vào giới và cách thực hành như thể tự chúng đủ đem lại thanh tịnh, không có nghĩa giữ giới là sai. Đây là lời giới thiệu ngắn, chưa thay phần giải thích ở Chương 10.
Tái sinh và khổ cảnh ở trên được trình bày theo nội dung kinh điển. Chúng không phải một lịch hẹn do sách lập cho người đọc. Sách cũng không suy từ thân phận xã hội, thời lượng tu hay cảm giác mạnh để kết luận ai đã chứng quả.
KINH · K20 · MN 44, lời Tỷ-kheo-ni Dhammadinnā Tỷ-kheo-ni Dhammadinnā phân tích thân kiến qua bốn cách đối với mỗi uẩn: xem uẩn ấy là tự ngã; xem tự ngã có uẩn ấy; xem uẩn ấy ở trong tự ngã; hoặc xem tự ngã ở trong uẩn ấy. Khi Visākha thuật lại cuộc đối thoại, Đức Phật tán thán trí tuệ của Dhammadinnā và xác nhận cách trả lời của vị ấy.BIÊN SOẠN Như vậy, dùng chữ “tôi” trong sinh hoạt không tự nó là toàn bộ vấn đề thân kiến. Ngược lại, đồng ý với câu “không có cái tôi” cũng chưa chứng minh sự chấp tự ngã đã được nhổ tận gốc. Điều cần học là hiểu đúng cái thấy đang được bài kinh phân tích, không đổi một khẩu hiệu lấy một khẩu hiệu khác.KINH · K03 · SN 55.4 Bài kinh nêu lòng tịnh tín bất động đối với Phật, Pháp, Tăng và giới hạnh được các bậc Thánh quý trọng: không bị phá vỡ, không hoen ố, được người trí tán thán và đưa đến định.BIÊN SOẠN Tịnh tín bất động ở đây diễn đạt lòng tin đã được xác chứng, không chỉ một lúc xúc động hay tin theo lời người khác. Các phẩm chất kinh nêu thuộc cả thấy biết lẫn đời sống. Vì vậy, câu hỏi về Nhập lưu rộng hơn câu hỏi “buổi thiền ấy đặc biệt đến mức nào?”.KINH · K21 · AN 10.92 AN 10.92 đặt cạnh nhau ba điều: sự lắng yên của năm mối sợ hãi và thù hận gắn với năm hành vi gây hại; bốn phẩm chất nêu trên; và sự thấy rõ pháp duyên khởi. Khi các điều kiện được bài kinh nêu đã đầy đủ, vị Thánh đệ tử có thể tự tuyên bố mình là bậc Nhập lưu.Giới hạn cần nhớ
Đọc tiêu chuẩn mà không vội tự kết luận
BIÊN SOẠN · đối chiếu K03 · K21
Sách không phủ nhận khả năng tự biết được kinh nói đến. Giới hạn ở đây là: một bảng hỏi, một lời xác nhận hay một trải nghiệm riêng lẻ không đủ để cuốn sách xác nhận thánh quả. Khi còn chưa rõ, hãy giữ lời mô tả đúng với điều đã biết, tiếp tục học và trao đổi với người hướng dẫn có năng lực.
Bốn điều kiện đưa đến nhập dòng Những phẩm chất vừa đọc mô tả người đã vào dòng. Bốn yếu tố dưới đây nói về những điều nâng đỡ con đường đi đến đó. Phân biệt hai nhóm giúp ta dành sức cho việc có thể tu tập, thay vì chỉ tìm dấu hiệu để tự xếp hạng.
KINH · K02 · SN 55.50 Bốn yếu tố đưa đến Nhập lưu là thân cận người chân chánh, nghe Chánh pháp, như lý tác ý và hành pháp thuận pháp.BIÊN SOẠN Nói gần gũi, ta cần người và nguồn học đáng tin; cần nghe lời dạy đúng; cần hướng sự chú ý một cách thích đáng; và cần thực hành phù hợp với điều đã học. Như lý tác ý không chỉ là suy nghĩ nhiều, mà là hướng sự chú ý đúng cách; hành pháp thuận pháp là thực hành tương ứng với Pháp. Những lời giải nghĩa này giúp mở câu kinh, không biến bốn yếu tố thành lịch tu bảo đảm kết quả.NHÌN LẠI · BIÊN SOẠN THEO K02
Thỉnh thoảng nhìn lại nền thực hành
Tôi đang học từ ai và từ nguồn nào? Những điểm chưa rõ có được hỏi lại không? Điều đã học đang giúp tôi bớt tham, sân, si và bớt gây hại ra sao? Khi khổ xảy ra, tôi có tìm hiểu điều kiện của nó, kể cả phần phản ứng của mình không? Điều đã hiểu đã đi vào lời nói, công việc và cách đối xử với người thân thế nào? Chọn một điều cần điều chỉnh là đủ cho lần nhìn lại này. Đây là gợi ý thực hành, không phải bài kiểm tra thánh quả.
Nền của người tại gia Việc tu của người tại gia diễn ra giữa những bổn phận đang có. Sách vì thế trở lại những việc gần: giữ giới, học Pháp, nuôi dưỡng quan hệ lành và dành chỗ cho thực hành đều đặn.
KINH · K04 · AN 10.1 Trong cuộc đối thoại với Tôn giả Ānanda, Đức Phật trình bày lợi ích của giới thiện là không hối hận. Từ không hối hận đến hân hoan, hỷ, khinh an, lạc, định, thấy biết như thật, nhàm lìa và ly tham, rồi tri kiến giải thoát. Bài kinh kết luận rằng giới thiện dẫn tuần tự đến mục đích cao nhất.BIÊN SOẠN Hỷ là sự hứng khởi; khinh an là sự lắng dịu; định là sự quy tụ của tâm; ly tham là lìa sự đắm nhiễm; tri kiến giải thoát là thấy biết về giải thoát. Chưa cần tìm cho đủ những trạng thái ấy trong mỗi buổi ngồi. Điều gần nhất mà đoạn kinh gợi cho người mới là chăm sóc giới hạnh, thay vì coi giới chỉ là phần mở đầu có thể bỏ qua.KINH · K21 · AN 10.92; K23 · MN 117 AN 10.92 nêu sự từ bỏ sát sinh, lấy của không cho, tà hạnh trong dục, nói dối và dùng rượu gây phóng dật. MN 117 trình bày việc từ bỏ tà mạng và nuôi sống bằng chánh mạng, trong mối liên hệ với chánh kiến, chánh tinh tấn và chánh niệm.BIÊN SOẠN Khi xét những việc hiện đại như dùng dữ liệu, quảng cáo hay kinh doanh, sách vận dụng các nguyên tắc không chiếm đoạt, không lừa dối và không gây hại. Đây là sự vận dụng cần cân nhắc từng hoàn cảnh, không phải các quy định về công nghệ đã có sẵn trong kinh.KINH · K15 · DN 31 DN 31 trình bày những bổn phận trong các quan hệ giữa cha mẹ và con cái, thầy và trò, vợ và chồng, bạn bè, người chủ và người làm công, người tại gia và người tu. Các quan hệ được nêu với trách nhiệm từ cả hai phía.BIÊN SOẠN Từ khung ấy, sách gợi ý nhìn việc tu cả trong cách mình chăm sóc người thân, giữ lời và sửa một hành vi đã làm người khác khổ. Một buổi ngồi có ích không cần cạnh tranh với những trách nhiệm thiết yếu. Bạn có thể bắt đầu bằng thời lượng vừa sức, một nguồn kinh đáng tin và một việc cụ thể để sống ngay thẳng hơn hôm nay.Gấp sách lại: ba điều để nhớ GẤP SÁCH LẠI · TỰ NHỚ
Thử kể lại bằng lời của bạn
Với mỗi Thánh đế, sự thật được nêu là gì và nhiệm vụ đi cùng là gì? Vì sao chánh niệm không thay toàn bộ Bát Chánh Đạo? Hãy kể ba chi khác cùng việc tu tương ứng. Bốn yếu tố đưa đến Nhập lưu khác thế nào với các phẩm chất mô tả người đã vào dòng? Chỗ nào chưa rõ, hãy mở lại phần tương ứng. Nhớ được hướng đi và biết chỗ cần hỏi tiếp có ích hơn cố đưa ra một câu trả lời có vẻ đúng.