← Kinh Trung Bộ

MN71 · Majjhima Nikāya

Kinh Vacchagotta về Ba Thông Giải

Tevijjavacchasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Bài kinh diễn ra khi Đức Phật trú ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong hội trường mái nhọn. Buổi sáng, thấy giờ khất thực ở Vesālī còn quá sớm, Đức Phật đến du viện Một Hoa Sen, nơi du sĩ Vacchagotta đang trú; được mời ngồi vào chỗ đã trải sẵn, Ngài nhận lời, và Vacchagotta lấy một chỗ thấp ngồi xuống một bên rồi hỏi về một lời truyền miệng: Sa-môn Gotama là bậc toàn tri, toàn kiến, tuyên bố tri kiến không còn dư sót, dù đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến luôn luôn hiện tiền.

Đức Phật trả lời thẳng: những người nói như vậy không phải nói đúng lời Ngài, mà đang vu khống Ngài bằng điều không thật. Cách trả lời đúng là Sa-môn Gotama là bậc có Ba Thông Giải. Vì Ngài tùy ý muốn có thể nhớ lại nhiều loại đời sống quá khứ với các đặc điểm và chi tiết; dùng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh, thấp kém, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sinh vào cõi lành hay cõi dữ, biết chúng đi theo nghiệp của mình; và tự mình chứng biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú tâm giải thoát không lậu hoặc cùng huệ giải thoát ngay trong hiện tại, nhờ đoạn tận các lậu hoặc.

Vacchagotta hỏi tiếp từng câu. Không có vị cư sĩ nào chưa từ bỏ sự trói buộc của người tại gia mà khi thân hoại mạng chung được chấm dứt khổ; nhưng không phải chỉ một trăm mà hai, ba, bốn, năm trăm và còn nhiều hơn nữa những vị cư sĩ như vậy được sinh lên cõi trời. Về đạo sĩ Ājīvaka, không có vị nào khi thân hoại mạng chung được chấm dứt khổ; và từ chín mươi mốt kiếp trước mà Ta nhớ lại, Ta không nhớ có đạo sĩ Ājīvaka nào được sinh lên cõi trời, trừ một vị dạy về nghiệp và dạy về hành động.

Khi Vacchagotta thưa rằng như vậy là đạo trại ấy trống rỗng, chẳng có gì, kể cả người được sinh lên cõi trời, Đức Phật xác nhận đúng vậy. Bài kinh khép lại ở sự đối sánh ấy: cách nói đúng về Đức Phật không phải là bậc toàn tri toàn kiến mà là bậc có Ba Thông Giải, và bên cạnh nhiều cư sĩ lên cõi trời là một đạo trại Ājīvaka được gọi là trống rỗng.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 420 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 7fe20c17-8771-483e-8fdb-dcffa0a501e2 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: bada408632f7073f050628c4dfc268b96690e4eb63522623ee19e60a415f6541

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 420 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 82521e4c-5a77-457e-b665-387c7075ba2d · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: bada408632f7073f050628c4dfc268b96690e4eb63522623ee19e60a415f6541

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 46 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2ae1f52c-ebc1-417f-a340-c25f2fd7d898 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 356861718f4b9e8456824fd88746d74bf305941299daaffbd61e1de6cd5bc818

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 46 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 3ff850e2-e9fc-4459-8476-b6623f03aa39 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 356861718f4b9e8456824fd88746d74bf305941299daaffbd61e1de6cd5bc818

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.63/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.5
Đối chiếu nguồn9.5
Tiếng Việt sáng rõ9.5
Hán–Việt & súc tích9.4
Bất định & trung thực9.4
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

46/46 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

45/46 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

46/46 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 71
Middle Discourses 71
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 71
Tevijjavacchasutta
To Vacchagotta on the Three Knowledges
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Vacchagotta về Ba Thông Giải
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā vesāliyaṁ viharati mahāvane kūṭāgārasālāyaṁ.
At one time the Buddha was staying near Vesālī, at the Great Wood, in the hall with the peaked roof.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Vesālī, tại Đại Lâm, trong hội trường mái nhọn.
Tena kho pana samayena vacchagotto paribbājako ekapuṇḍarīke paribbājakārāme paṭivasati.
Now at that time the wanderer Vacchagotta was residing in the Single Lotus monastery for the wanderers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc ấy, du sĩ Vacchagotta đang trú ở du viện Một Hoa Sen.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya vesāliṁ piṇḍāya pāvisi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Vesālī for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y, vào Vesālī khất thực.
Atha kho bhagavato etadahosi:
Then it occurred to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, Đức Phật nghĩ:
“atippago kho tāva vesāliyaṁ piṇḍāya carituṁ;
“It’s too early to wander for alms in Vesālī.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bây giờ đi khất thực ở Vesālī thì còn quá sớm.
yannūnāhaṁ yena ekapuṇḍarīko paribbājakārāmo yena vacchagotto paribbājako tenupasaṅkameyyan”ti.
Why don’t I visit the wanderer Vacchagotta at the Single Lotus Monastery?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta hãy đến nơi du viện Một Hoa Sen, nơi du sĩ Vacchagotta đang trú.”
Atha kho bhagavā yena ekapuṇḍarīko paribbājakārāmo yena vacchagotto paribbājako tenupasaṅkami.
So that’s what he did.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật đến nơi du viện Một Hoa Sen, nơi du sĩ Vacchagotta trú.
Addasā kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Vacchagotta saw the Buddha coming off in the distance,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Du sĩ Vacchagotta thấy Đức Phật từ xa đi đến,
Disvāna bhagavantaṁ etadavoca:
and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thấy xong, bèn thưa:
“Etu kho, bhante, bhagavā.
“Let the Blessed One come, sir!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đến đây.
Svāgataṁ, bhante, bhagavato.
Welcome to the Blessed One, sir!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, chúc mừng Thế Tôn đến.
Cirassaṁ kho, bhante, bhagavā imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya.
It’s been a long time since you took the opportunity to come here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, đã lâu lắm rồi Thế Tôn mới tạo duyên đến đây.
Nisīdatu, bhante, bhagavā idamāsanaṁ paññattan”ti.
Please, sir, sit down, here, a seat is ready.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn ngồi, chỗ này đã được trải sẵn.”
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
The Buddha sat down on the seat spread out,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật ngồi xuống chỗ đã trải sẵn,
Vacchagottopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
while Vacchagotta took a low seat and sat to one side.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
du sĩ Vacchagotta cũng lấy một chỗ thấp ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
Then Vacchagotta said to the Buddha:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngồi xuống một bên, du sĩ Vacchagotta thưa với Đức Phật:
“sutaṁ metaṁ, bhante:
“Sir, I have heard this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con nghe truyền:
‘samaṇo gotamo sabbaññū sabbadassāvī, aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti,
‘The ascetic Gotama claims to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception, thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sa-môn Gotama là bậc toàn tri, toàn kiến, tuyên bố tri kiến không còn dư sót,
carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
“Knowledge and vision are constantly and continually present to me, while walking, standing, sleeping, and waking.”’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dù đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến luôn luôn hiện tiền.’
Ye te, bhante, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo sabbaññū sabbadassāvī, aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti, carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti, kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti?
I trust those who say this repeat what the Buddha has said, and do not misrepresent him with an untruth? Is their explanation in line with the teaching? Are there any legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, những người nói vậy — ‘Sa-môn Gotama là bậc toàn tri, toàn kiến, tuyên bố tri kiến không còn dư sót, dù đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến luôn luôn hiện tiền’ — họ có nói đúng lời Đức Phật không, có vu khống Đức Phật bằng điều không thật không, có diễn giải đúng với Pháp không, và có ai phản bác hay chê trách hợp Pháp không?”
“Ye te, vaccha, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo sabbaññū sabbadassāvī, aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti, carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti, na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca pana maṁ asatā abhūtenā”ti.
“Vaccha, those who say this do not repeat what I have said. They misrepresent me with what is false and untrue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Vaccha, những người nói vậy — ‘Sa-môn Gotama là bậc toàn tri, toàn kiến, tuyên bố tri kiến không còn dư sót, dù đi, đứng, ngủ hay thức, tri kiến luôn luôn hiện tiền’ — không phải nói đúng lời Ta, mà đang vu khống Ta bằng điều không thật.”
“Kathaṁ byākaramānā pana mayaṁ, bhante, vuttavādino ceva bhagavato assāma, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkheyyāma, dhammassa cānudhammaṁ byākareyyāma, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti?
“So how should we answer so as to repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? How should we explain in line with his teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, chúng tôi nên trả lời thế nào để vừa nói đúng lời Đức Phật, không vu khống Đức Phật bằng điều không thật, vừa diễn giải đúng với Pháp, và không ai phản bác hay chê trách hợp Pháp?”
“‘Tevijjo samaṇo gotamo’ti kho, vaccha, byākaramāno vuttavādī ceva me assa, na ca maṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyya.
“‘The ascetic Gotama has the three knowledges.’ Answering like this you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Vaccha, nếu trả lời rằng ‘Sa-môn Gotama là bậc có Ba Thông Giải,’ thì người ấy vừa nói đúng lời Ta, không vu khống Ta bằng điều không thật, vừa diễn giải đúng với Pháp, và không ai phản bác hay chê trách hợp Pháp.
Ahañhi, vaccha, yāvadeva ākaṅkhāmi anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi,
For, Vaccha, whenever I want, I recollect my many kinds of past lives.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bởi vì, này Vaccha, Ta tùy ý muốn có thể nhớ lại nhiều loại đời sống quá khứ,
seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarāmi.
That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. I remember: ‘There, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn somewhere else. There, too, I was named this, my clan was that, I looked like this, and that was my food. This was how I felt pleasure and pain, and that was how my life ended. When I passed away from that place I was reborn here.’ And so I recollect my many kinds of past lives, with features and details.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn một đời, hai đời … Ta nhớ lại nhiều loại đời sống quá khứ với các đặc điểm và chi tiết.
Ahañhi, vaccha, yāvadeva ākaṅkhāmi dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passāmi cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāmi.
And whenever I want, with clairvoyance that is purified and superhuman, I see sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. I understand how sentient beings pass on according to their deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Vaccha, Ta tùy ý muốn có thể dùng thiên nhãn thanh tịnh, vượt hơn mắt người, thấy các chúng sinh chết đi và tái sinh — thấp kém, cao quý, đẹp đẽ, xấu xí, sinh vào cõi lành hay cõi dữ … Ta biết các chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Ahañhi, vaccha, āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharāmi.
And I have realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. I live having realized it with my own insight in this very life due to the ending of defilements.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Vaccha, Ta tự mình chứng biết trực tiếp, chứng ngộ và an trú tâm giải thoát không lậu hoặc cùng huệ giải thoát ngay trong hiện tại, nhờ đoạn tận các lậu hoặc.
‘Tevijjo samaṇo gotamo’ti kho, vaccha, byākaramāno vuttavādī ceva me assa, na ca maṁ abhūtena abbhācikkheyya, dhammassa cānudhammaṁ byākareyya, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgaccheyyā”ti.
‘The ascetic Gotama has the three knowledges.’ Answering like this you would repeat what I have said, and not misrepresent me with an untruth. You would explain in line with my teaching, and there would be no legitimate grounds for rebuttal and criticism.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sa-môn Gotama là bậc có Ba Thông Giải’ — trả lời như vậy, này Vaccha, thì người ấy vừa nói đúng lời Ta, không vu khống Ta bằng điều không thật, vừa diễn giải đúng với Pháp, và không ai phản bác hay chê trách hợp Pháp.
Evaṁ vutte, vacchagotto paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
When he said this, the wanderer Vacchagotta said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nói xong, du sĩ Vacchagotta thưa với Đức Phật:
“atthi nu kho, bho gotama, koci gihī gihisaṁyojanaṁ appahāya kāyassa bhedā dukkhassantakaro”ti?
“Worthy Gotama, are there any laypeople who, without giving up the fetter of lay life, make an end of suffering when the body breaks up?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch ông Gotama, có vị cư sĩ nào chưa từ bỏ sự trói buộc của người tại gia mà khi thân hoại mạng chung được chấm dứt khổ không?”
“Natthi kho, vaccha, koci gihī gihisaṁyojanaṁ appahāya kāyassa bhedā dukkhassantakaro”ti.
“No, Vaccha.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Vaccha, không có vị cư sĩ nào chưa từ bỏ sự trói buộc của người tại gia mà khi thân hoại mạng chung được chấm dứt khổ.”
“Atthi pana, bho gotama, koci gihī gihisaṁyojanaṁ appahāya kāyassa bhedā saggūpago”ti?
“But are there any laypeople who, without giving up the fetter of lay life, go to heaven when the body breaks up?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa ông Gotama, có vị cư sĩ nào chưa từ bỏ sự trói buộc của người tại gia mà khi thân hoại mạng chung được sinh lên cõi trời không?”
“Na kho, vaccha, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye gihī gihisaṁyojanaṁ appahāya kāyassa bhedā saggūpagā”ti.
“There’s not just one hundred laypeople, Vaccha, or two or three or four or five hundred, but many more than that who, without giving up the fetter of lay life, go to heaven when the body breaks up.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Vaccha, không phải chỉ một trăm, mà hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm — lại còn nhiều hơn nữa — những vị cư sĩ chưa từ bỏ sự trói buộc của người tại gia mà khi thân hoại mạng chung được sinh lên cõi trời.”
“Atthi nu kho, bho gotama, koci ājīvako kāyassa bhedā dukkhassantakaro”ti?
“Worthy Gotama, are there any Ājīvaka ascetics who make an end of suffering when the body breaks up?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch ông Gotama, có đạo sĩ Ājīvaka nào khi thân hoại mạng chung được chấm dứt khổ không?”
“Natthi kho, vaccha, koci ājīvako kāyassa bhedā dukkhassantakaro”ti.
“No, Vaccha.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Vaccha, không có đạo sĩ Ājīvaka nào khi thân hoại mạng chung được chấm dứt khổ.”
“Atthi pana, bho gotama, koci ājīvako kāyassa bhedā saggūpago”ti?
“But are there any Ājīvaka ascetics who go to heaven when the body breaks up?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa ông Gotama, có đạo sĩ Ājīvaka nào khi thân hoại mạng chung được sinh lên cõi trời không?”
“Ito kho so, vaccha, ekanavuto kappo yamahaṁ anussarāmi, nābhijānāmi kañci ājīvakaṁ saggūpagaṁ aññatra ekena;
“Vaccha, when I recollect the past ninety-one eons, I can’t find any Ājīvaka ascetics who have gone to heaven, except one;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Vaccha, từ chín mươi mốt kiếp trước mà Ta nhớ lại, Ta không nhớ có đạo sĩ Ājīvaka nào được sinh lên cõi trời, trừ một vị;
sopāsi kammavādī kiriyavādī”ti.
and he taught the efficacy of deeds and action.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy dạy về nghiệp và dạy về hành động.”
“Evaṁ sante, bho gotama, suññaṁ aduṁ titthāyatanaṁ antamaso saggūpagenapī”ti?
“In that case, worthy Gotama, that sectarian fold is empty even of the chance to go to heaven.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa ông Gotama, như vậy là đạo trại ấy trống rỗng, chẳng có gì, kể cả người được sinh lên cõi trời?”
“Evaṁ, vaccha, suññaṁ aduṁ titthāyatanaṁ antamaso saggūpagenapī”ti.
“Yes, Vaccha, that sectarian fold is empty even of the chance to go to heaven.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đúng vậy, này Vaccha, đạo trại ấy trống rỗng, chẳng có gì, kể cả người được sinh lên cõi trời.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamano vacchagotto paribbājako bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, the wanderer Vacchagotta approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Du sĩ Vacchagotta hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Tevijjavacchasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Vacchagotta về Ba Thông Giải, bài thứ nhất, kết thúc.