← Kinh Trung Bộ

MN69 · Majjhima Nikāya

Kinh Goliyāni

Goliyānisutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Bài kinh được nói ở Rājagaha, tại vườn Bambu, chỗ nuôi dưỡng các con sóc, khi vị tỳ-kheo Goliyāni, sống nơi rừng, cư xử thô kệch, đến vào giữa Tăng đoàn vì một công việc nào đó. Tôn giả Sāriputta nhân chuyện ấy nói với các tỳ-kheo, và toàn bài là lời giảng của Ngài về những điều vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần có khi đến ở trong Tăng đoàn.

Trước hết là nhóm điều về ứng xử trong đại chúng: vị ấy nên kính trọng và thân thiện với các đồng phạm hạnh, nên thạo trong việc chọn chỗ ngồi sao cho không xâm phạm các tỳ-kheo thượng tọa và không chiếm chỗ của các tỳ-kheo hạ tọa, cần biết cả những pháp về nghi tiết tu hành, không nên vào làng quá sớm hay trở về quá muộn, không nên đi lại với các gia đình trước hoặc sau bữa ăn, nên sống không xao động, không dao động, không nhiều lời, không nói năng lộn xộn, và nên dễ được khuyên bảo, có bạn lành. Mỗi điều đều đi kèm cùng một lập luận: nếu vị ấy vi phạm, sẽ có những kẻ chê hỏi vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, rồi kết bằng lời vì vậy nên làm như vậy.

Tiếp đến là các phẩm chất tu tập: cần phòng hộ các căn, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên cần tỉnh thức, tinh tấn, có niệm hiện tiền, có định, có trí tuệ. Cuối cùng là ba yêu cầu cao hơn: cần nỗ lực về Thắng Pháp và Thắng Luật để khi bị hỏi có thể trả lời trôi chảy, nỗ lực chứng những giải thoát trầm lặng vượt khỏi sắc, thuộc vô sắc, và nỗ lực chứng pháp siêu nhân; nếu bị hỏi mà không trả lời trôi chảy, sẽ có kẻ chê nói chính vị ấy không biết mục tiêu mình xuất gia.

Nghe vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna hỏi những pháp này chỉ nên thực hành bởi vị tỳ-kheo sống nơi rừng, hay cả bởi vị tỳ-kheo sống tại làng. Sāriputta đáp những pháp này nên thực hành bởi vị tỳ-kheo sống nơi rừng, và càng hơn nữa bởi vị tỳ-kheo sống tại làng. Kinh khép lại ở câu đáp ấy: những phẩm chất được nêu không phải đặc quyền của sống nơi rừng, mà là điều càng hơn nữa đối với người sống tại làng.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 411 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 0dd946e9-08f3-4d13-af10-bf9f16fd4fa3 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 12ab5255b7a3c0bac8636568587ff0a75cccf06c008116589a0787c785248eae

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 411 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 1165d9f8-7d51-450f-bd1f-6692b7c4b6dd · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 12ab5255b7a3c0bac8636568587ff0a75cccf06c008116589a0787c785248eae

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 104 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: e707dbae-cf7d-41fa-8a2e-e47b60b06bce · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: d64edcd26ed9843c1bbb6f1dd516baa29d90216798b3e6c7f7122f133a6deff9

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 104 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 9dea6ffd-e5c1-4312-aaf9-7fe2c79d9ff3 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: d64edcd26ed9843c1bbb6f1dd516baa29d90216798b3e6c7f7122f133a6deff9

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.60/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.5
Ngữ pháp & logic9.5
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.4
Đối chiếu nguồn9.5
Tiếng Việt sáng rõ9.5
Hán–Việt & súc tích9.4
Bất định & trung thực9.4
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

104/104 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

85/104 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

104/104 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 69
Middle Discourses 69
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 69
Goliyānisutta
With Gulissāni
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Goliyāni
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Rājagaha, tại vườn Bambu, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Tena kho pana samayena goliyāni nāma bhikkhu āraññiko padasamācāro saṅghamajjhe osaṭo hoti kenacideva karaṇīyena.
Now at that time a wilderness mendicant of boorish behavior named Gulissāni had come down to the midst of the Saṅgha on some business.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc ấy, có vị tỳ-kheo tên Goliyāni, sống nơi rừng, cư xử thô kệch, đến vào giữa Tăng đoàn vì một công việc nào đó.
Tatra kho āyasmā sāriputto goliyāniṁ bhikkhuṁ ārabbha bhikkhū āmantesi:
There Venerable Sāriputta spoke to the mendicants about Gulissāni:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tại đó, Tôn giả Sāriputta nhân chuyện vị tỳ-kheo Goliyāni nói với các vị tỳ-kheo:
“Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena sabrahmacārīsu sagāravena bhavitabbaṁ sappatissena.
“Reverends, a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should have respect and reverence for his spiritual companions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên kính trọng và thân thiện với các đồng phạm hạnh.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto sabrahmacārīsu agāravo hoti appatisso, tassa bhavanti vattāro.
If he doesn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà không kính trọng, không thân thiện với các đồng phạm hạnh, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena, yo ayamāyasmā sabrahmacārīsu agāravo hoti appatisso’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he has no respect and reverence for his spiritual companions?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy không kính trọng, không thân thiện với các đồng phạm hạnh?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena sabrahmacārīsu sagāravena bhavitabbaṁ sappatissena.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should have respect and reverence for his spiritual companions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên kính trọng và thân thiện với các đồng phạm hạnh.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena āsanakusalena bhavitabbaṁ:
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should be careful where he sits, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên thạo trong việc chọn chỗ ngồi, nghĩ rằng:
‘iti there ca bhikkhū nānupakhajja nisīdissāmi nave ca bhikkhū na āsanena paṭibāhissāmī’ti.
‘I shall sit so that I don’t intrude on the senior monks and I don’t block the junior monks from a seat.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta sẽ ngồi sao cho không xâm phạm các tỳ-kheo thượng tọa và không chiếm chỗ ngồi của các tỳ-kheo hạ tọa.’
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto na āsanakusalo hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he doesn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà không thạo trong việc chọn chỗ ngồi, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena, yo ayamāyasmā āsanakusalo na hotī’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not careful where he sits?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy không thạo trong việc chọn chỗ ngồi?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena āsanakusalena bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should be careful where he sits.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên thạo trong việc chọn chỗ ngồi.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena ābhisamācārikopi dhammo jānitabbo.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should know even the supplementary regulations.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn cần biết cả những pháp về nghi tiết tu hành.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto ābhisamācārikampi dhammaṁ na jānāti, tassa bhavanti vattāro.
If he doesn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà không biết cả những pháp về nghi tiết tu hành, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā ābhisamācārikampi dhammaṁ na jānātī’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t even know the supplementary regulations?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy không biết cả những pháp về nghi tiết tu hành?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena ābhisamācārikopi dhammo jānitabbo.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should know even the supplementary regulations.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn cần biết cả những pháp về nghi tiết tu hành.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena nātikālena gāmo pavisitabbo nātidivā paṭikkamitabbaṁ.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t enter the village too early or return too late in the day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn không nên vào làng quá sớm, không nên trở về quá muộn.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto atikālena gāmaṁ pavisati atidivā paṭikkamati, tassa bhavanti vattāro.
If he does so, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà vào làng quá sớm, trở về quá muộn, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā atikālena gāmaṁ pavisati atidivā paṭikkamatī’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he enters the village too early or returns too late in the day?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy vào làng quá sớm, trở về quá muộn?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena nātikālena gāmo pavisitabbo, nātidivā paṭikkamitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t enter the village too early or return too late in the day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn không nên vào làng quá sớm, không nên trở về quá muộn.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena na purebhattaṁ pacchābhattaṁ kulesu cārittaṁ āpajjitabbaṁ.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t have relations with families before or after the meal.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn không nên đi lại với các gia đình trước hoặc sau bữa ăn.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto purebhattaṁ pacchābhattaṁ kulesu cārittaṁ āpajjati, tassa bhavanti vattāro.
If he does so, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà đi lại với các gia đình trước hoặc sau bữa ăn, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Ayaṁ nūnimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena viharato vikālacariyā bahulīkatā, tamenaṁ saṅghagatampi samudācaratī’ti—
‘This wilderness venerable, staying alone and autonomous in the wilderness, must be used to wandering about at the wrong time, since he behaves like this when he’s come to the Saṅgha.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chắc hẳn vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này thường hay đi lại trái giờ với các gia đình, nên khi đến ở trong Tăng đoàn mới cư xử như vậy.’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena na purebhattaṁ pacchābhattaṁ kulesu cārittaṁ āpajjitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t have relations with families before or after the meal.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn không nên đi lại với các gia đình trước hoặc sau bữa ăn.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena anuddhatena bhavitabbaṁ acapalena.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be restless and fickle.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên sống không xao động, không dao động.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto uddhato hoti capalo, tassa bhavanti vattāro.
If he is, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà xao động, dao động, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Idaṁ nūnimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena viharato uddhaccaṁ cāpalyaṁ bahulīkataṁ, tamenaṁ saṅghagatampi samudācaratī’ti—
‘This wilderness venerable, staying alone and autonomous in the wilderness, must be used to being restless and fickle, since he behaves like this when he’s come to the Saṅgha.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chắc hẳn vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này thường hay xao động và dao động, nên khi đến ở trong Tăng đoàn mới cư xử như vậy.’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena anuddhatena bhavitabbaṁ acapalena.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be restless and fickle.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên sống không xao động, không dao động.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena amukharena bhavitabbaṁ avikiṇṇavācena.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be scurrilous and loose-tongued.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên sống không nhiều lời, không nói năng lộn xộn.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto mukharo hoti vikiṇṇavāco, tassa bhavanti vattāro.
If he is, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà nhiều lời, nói năng lộn xộn, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā mukharo vikiṇṇavāco’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s scurrilous and loose-tongued?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy nhiều lời, nói năng lộn xộn?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena amukharena bhavitabbaṁ avikiṇṇavācena.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha shouldn’t be scurrilous and loose-tongued.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên sống không nhiều lời, không nói năng lộn xộn.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena suvacena bhavitabbaṁ kalyāṇamittena.
A wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should be easy to admonish, with good friends.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên dễ được khuyên bảo và có bạn lành.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu saṅghagato saṅghe viharanto dubbaco hoti pāpamitto, tassa bhavanti vattāro.
If he’s hard to admonish, with bad friends, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng đến ở trong Tăng đoàn mà khó được khuyên bảo và có bạn dữ, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā dubbaco pāpamitto’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s hard to admonish, with bad friends?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy khó được khuyên bảo và có bạn dữ?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā saṅghagatena saṅghe viharantena suvacena bhavitabbaṁ kalyāṇamittena.
That’s why a wilderness monk who has come to stay in the Saṅgha should be easy to admonish, with good friends.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng khi đến ở trong Tăng đoàn nên dễ được khuyên bảo và có bạn lành.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā indriyesu guttadvārena bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should guard the sense doors.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần phòng hộ các căn.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu indriyesu aguttadvāro hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he doesn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng không phòng hộ các căn, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā indriyesu aguttadvāro’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t guard the sense doors?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy không phòng hộ các căn?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā indriyesu guttadvārena bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk should guard the sense doors.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần phòng hộ các căn.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā bhojane mattaññunā bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should eat in moderation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần biết tiết độ trong ăn uống.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu bhojane amattaññū hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he doesn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng không biết tiết độ trong ăn uống, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā bhojane amattaññū’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he eats too much?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy không biết tiết độ trong ăn uống?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā bhojane mattaññunā bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk should eat in moderation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần biết tiết độ trong ăn uống.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā jāgariyaṁ anuyuttena bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be committed to wakefulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần chuyên cần tỉnh thức.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu jāgariyaṁ ananuyutto hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he isn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng không chuyên cần tỉnh thức, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā jāgariyaṁ ananuyutto’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not committed to wakefulness?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy không chuyên cần tỉnh thức?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā jāgariyaṁ anuyuttena bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk should be committed to wakefulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần chuyên cần tỉnh thức.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā āraddhavīriyena bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be energetic.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần tinh tấn.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu kusīto hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he isn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng lười biếng, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā kusīto’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not energetic?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy lười biếng?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā āraddhavīriyena bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk should be energetic.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần tinh tấn.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā upaṭṭhitassatinā bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be mindful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần có niệm hiện tiền.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu muṭṭhassatī hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he isn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng thất niệm, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā muṭṭhassatī’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not mindful?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy thất niệm?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā upaṭṭhitassatinā bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk should be mindful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần có niệm hiện tiền.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā samāhitena bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should have immersion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần có định.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu asamāhito hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he doesn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng không có định, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā asamāhito’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t have immersion?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy không có định?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā samāhitena bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk should have immersion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần có định.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā paññavatā bhavitabbaṁ.
A wilderness monk should be wise.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần có trí tuệ.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu duppañño hoti, tassa bhavanti vattāro.
If he isn’t, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng thiếu trí tuệ, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā duppañño’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he’s not wise?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi vị ấy thiếu trí tuệ?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā paññavatā bhavitabbaṁ.
That’s why a wilderness monk should be wise.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần có trí tuệ.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā abhidhamme abhivinaye yogo karaṇīyo.
A wilderness monk should make an effort in regards to the teaching and training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần nỗ lực về Thắng Pháp và Thắng Luật.
Santāvuso, āraññikaṁ bhikkhuṁ abhidhamme abhivinaye pañhaṁ pucchitāro.
There are those who will question a wilderness monk about the teaching and training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, sẽ có những người hỏi vị tỳ-kheo sống nơi rừng về Thắng Pháp và Thắng Luật.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu abhidhamme abhivinaye pañhaṁ puṭṭho na sampāyati, tassa bhavanti vattāro.
If he is stumped, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng bị hỏi về Thắng Pháp và Thắng Luật mà không trả lời trôi chảy, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā abhidhamme abhivinaye pañhaṁ puṭṭho na sampāyatī’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he is stumped by a question about the teaching and training?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi bị hỏi về Thắng Pháp và Thắng Luật mà không trả lời trôi chảy?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā abhidhamme abhivinaye yogo karaṇīyo.
That’s why a wilderness monk should make an effort to learn the teaching and training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần nỗ lực về Thắng Pháp và Thắng Luật.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha yogo karaṇīyo.
A wilderness monk should practice meditation to realize the peaceful liberations that are formless, transcending form.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần nỗ lực chứng những giải thoát trầm lặng vượt khỏi sắc, thuộc vô sắc.
Santāvuso, āraññikaṁ bhikkhuṁ ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha pañhaṁ pucchitāro.
There are those who will question a wilderness monk about the formless liberations.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, sẽ có những người hỏi vị tỳ-kheo sống nơi rừng về những giải thoát trầm lặng vượt khỏi sắc, thuộc vô sắc.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha pañhaṁ puṭṭho na sampāyati, tassa bhavanti vattāro.
If he is stumped, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng bị hỏi về những giải thoát trầm lặng ấy mà không trả lời trôi chảy, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha pañhaṁ puṭṭho na sampāyatī’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he is stumped by a question about the formless liberations?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi bị hỏi về những giải thoát trầm lặng vượt khỏi sắc, thuộc vô sắc mà không trả lời trôi chảy?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā ye te santā vimokkhā atikkamma rūpe āruppā tattha yogo karaṇīyo.
That’s why a wilderness monk should practice meditation to realize the peaceful liberations that are formless, transcending form.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần nỗ lực chứng những giải thoát trầm lặng vượt khỏi sắc, thuộc vô sắc.
Āraññikenāvuso, bhikkhunā uttari manussadhamme yogo karaṇīyo.
A wilderness monk should practice meditation to realize the superhuman state.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần nỗ lực chứng pháp siêu nhân.
Santāvuso, āraññikaṁ bhikkhuṁ uttari manussadhamme pañhaṁ pucchitāro.
There are those who will question a wilderness monk about the superhuman state.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các hiền giả, sẽ có những người hỏi vị tỳ-kheo sống nơi rừng về pháp siêu nhân.
Sace, āvuso, āraññiko bhikkhu uttari manussadhamme pañhaṁ puṭṭho na sampāyati, tassa bhavanti vattāro.
If he is stumped, there’ll be some who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu, này các hiền giả, vị tỳ-kheo sống nơi rừng bị hỏi về pháp siêu nhân mà không trả lời trôi chảy, thì sẽ có những kẻ chê:
‘Kiṁ panimassāyasmato āraññikassa ekassāraññe serivihārena yo ayamāyasmā yassatthāya pabbajito tamatthaṁ na jānātī’ti—
‘What’s the point of this wilderness venerable’s staying alone and autonomous in the wilderness, since he doesn’t know the goal for which he went forth?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị tỳ-kheo sống đơn độc tự tại nơi rừng này có ích gì, khi chính vị ấy không biết mục tiêu mình xuất gia?’—
tassa bhavanti vattāro.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sẽ có những kẻ chê.
Tasmā āraññikena bhikkhunā uttari manussadhamme yogo karaṇīyo”ti.
That’s why a wilderness monk should practice meditation to realize the superhuman state.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, vị tỳ-kheo sống nơi rừng cần nỗ lực chứng pháp siêu nhân.”
Evaṁ vutte, āyasmā mahāmoggallāno āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
When Venerable Sāriputta said this, Venerable Mahāmoggallāna said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe vậy, Tôn giả Mahāmoggallāna nói với Tôn giả Sāriputta:
“āraññikeneva nu kho, āvuso sāriputta, bhikkhunā ime dhammā samādāya vattitabbā udāhu gāmantavihārināpī”ti?
“Reverend Sāriputta, should these things be undertaken and followed only by wilderness monks, or by those who live within a village as well?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả Sāriputta, những pháp này chỉ nên thực hành bởi vị tỳ-kheo sống nơi rừng, hay cả bởi vị tỳ-kheo sống tại làng?”
“Āraññikenāpi kho, āvuso moggallāna, bhikkhunā ime dhammā samādāya vattitabbā pageva gāmantavihārinā”ti.
“Reverend Moggallāna, these things should be undertaken and followed by wilderness monks, and still more by those who live within a village.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả Moggallāna, những pháp này nên thực hành bởi vị tỳ-kheo sống nơi rừng, và càng hơn nữa bởi vị tỳ-kheo sống tại làng.”
Goliyānisuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Goliyāni, bài thứ chín, kết thúc.