← Kinh Trung Bộ

MN54 · Majjhima Nikāya

Kinh Potaliya

Potaliyasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Potaliya được Đức Phật thuyết trong rừng gần thị trấn Āpaṇa, xứ Aṅguttarāpa. Gia chủ Potaliya, đã giao hết tài sản cho các con, sống với thức ăn, y phục cần thiết, nổi giận khi bị gọi là gia chủ ba lần, cho điều đó không hợp với mình. Đức Phật đáp: điều ông gọi là dứt bỏ các việc thế tục là một chuyện, còn sự dứt bỏ trong giới luật bậc Thánh là chuyện khác; Potaliya xin nghe.

Tám pháp ấy là nương vào không sát sinh để từ bỏ sát sinh, vào chỉ lấy vật được cho để từ bỏ lấy của không cho, vào lời chân thật để từ bỏ nói dối, và vào không chia rẽ, không tham lam, không chê bai, không giận dữ, không kiêu mạn. Với từng pháp, vị Thánh đệ tử suy xét: pháp ấy là kiết sử, chướng ngại; nếu phạm phải, chính mình sẽ tự trách, người có trí sẽ chê trách, mạng chung có thể sinh vào cảnh giới xấu; những lậu hoặc do nó sinh ra sẽ không có nơi người đã từ bỏ.

Đức Phật cho biết đó vẫn chưa phải dứt bỏ hoàn toàn, rồi nêu bảy ví về nguy hại của dục: con chó đói gặm xương róc sạch thịt; con kền kền quắp miếng thịt bị bầy đuổi; bó đuốc cỏ cháy ngược gió; hố than hồng sâu hơn người; giấc mơ thấy cảnh đẹp, tỉnh dậy mất sạch; của vay mượn bị lấy lại; và người leo cây hái quả khi cây bị chặt. Sau mỗi ví, kinh lặp lại: các dục đem lại nhiều khổ đau, phiền toái, nguy hại còn lớn hơn nữa; vị Thánh đệ tử tránh xả dựa trên đa dạng, phát triển xả dựa trên nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào thế gian chấm dứt.

Nương vào sự thanh tịnh tối thượng của niệm và xả ấy, vị Thánh đệ tử nhớ lại nhiều đời quá khứ; bằng thiên nhãn thấy các chúng sinh đi theo nghiệp; do lậu hoặc đã tận, tự mình chứng ngộ, an trú trong tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Đến mức ấy mới là dứt bỏ hoàn toàn các việc thế tục theo giới luật của bậc Thánh, về mọi phương diện.

Hỏi ông có thấy nơi mình sự dứt bỏ tương đương, Potaliya nhận còn cách rất xa, nhận ra trước đây đã nhầm du sĩ ngoại đạo là ngựa thuần chủng trong khi tỳ-kheo mới thật sự là ngựa thuần chủng. Ông nói Đức Phật đã sinh khởi lòng quý mến, tin tưởng, kính trọng, và xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời. Bài kinh phân biệt rành rẽ việc từ bỏ hình thức ngoài đời với sự dứt bỏ thật sự theo giới luật Thánh.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 960537b5-120d-46ea-9f6a-345725ddc3f4 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: cf64d4e93bb395e42f64b2bfc760d414aa40e28a900c8fc0f5fa08620eeee03d

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 70c98a82-440b-48d7-a01e-1bb238271342 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: cf64d4e93bb395e42f64b2bfc760d414aa40e28a900c8fc0f5fa08620eeee03d

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 209 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 68447c3c-6d7f-418a-82f7-1975e51bae07 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 5e531a903734fd35b30611f642d592d38291d6af9314b47541ca58d0f61dd0b4

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 209 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: fd9b4095-3f73-4d57-a769-0f173f868ac9 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 5e531a903734fd35b30611f642d592d38291d6af9314b47541ca58d0f61dd0b4

2026-10-05 · Scorecard lịch sử · 9.70/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.9
Đúng nghĩa Pāli9.4
Ngữ pháp & logic9.7
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.5
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.7
Hán–Việt & súc tích9.7
Bất định & trung thực9.5
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

209/209 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

151/209 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

209/209 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 54
Middle Discourses 54
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 54
Potaliyasutta
With Potaliya the Householder
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Potaliya
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā aṅguttarāpesu viharati āpaṇaṁ nāma aṅguttarāpānaṁ nigamo.
At one time the Buddha was staying in the land of the Aṅguttarāpans, near the town of theirs named Āpaṇa.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở xứ Aṅguttarāpa, tại thị trấn Āpaṇa của người Aṅguttarāpa.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āpaṇaṁ piṇḍāya pāvisi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Āpaṇa for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y ngoài, đi vào Āpaṇa khất thực.
Āpaṇe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yenaññataro vanasaṇḍo tenupasaṅkami divāvihārāya.
He wandered for alms in Āpaṇa. After the meal, on his return from almsround, he went to a certain forest grove for the day’s meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi khất thực ở Āpaṇa và dùng bữa xong, Ngài đi đến một khu rừng để nghỉ ban ngày.
Taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Having plunged deep into it, he sat at the root of a certain tree to meditate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đi sâu vào khu rừng ấy, Ngài ngồi nghỉ dưới một gốc cây.
Potaliyopi kho gahapati sampannanivāsanapāvuraṇo chattupāhanāhi jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena so vanasaṇḍo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Potaliya the householder also approached that forest grove while going for a walk. He was well dressed in sarong and cloak, with parasol and sandals. Having plunged deep into it, he went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ Potaliya, ăn mặc chỉnh tề với áo choàng, che lọng và mang dép, cũng đang đi dạo. Ông đi vào khu rừng, đến gặp Đức Phật và trao đổi lời chào hỏi thân thiện với Ngài.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitaṁ kho potaliyaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
When the greetings and polite conversation were over, he stood to one side, and the Buddha said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau lời chào hỏi, ông đứng sang một bên. Đức Phật nói với ông:
“saṁvijjanti kho, gahapati, āsanāni; sace ākaṅkhasi nisīdā”ti.
“There are seats, householder. Please sit if you wish.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Gia chủ, ở đây có chỗ ngồi. Nếu muốn, ông hãy ngồi.”
Evaṁ vutte, potaliyo gahapati “gahapativādena maṁ samaṇo gotamo samudācaratī”ti kupito anattamano tuṇhī ahosi.
When he said this, Potaliya was angry and upset. Thinking, “The ascetic Gotama addresses me as ‘householder’!” he stayed silent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe gọi mình là “gia chủ”, Potaliya nổi giận, không hài lòng và im lặng.
Dutiyampi kho bhagavā …pe…
For a second time …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, Đức Phật …
tatiyampi kho bhagavā potaliyaṁ gahapatiṁ etadavoca:
and a third time the Buddha said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, Đức Phật nói với Potaliya:
“saṁvijjanti kho, gahapati, āsanāni; sace ākaṅkhasi nisīdā”ti.
“There are seats, householder. Please sit if you wish.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Gia chủ, ở đây có chỗ ngồi. Nếu muốn, ông hãy ngồi.”
Evaṁ vutte, potaliyo gahapati “gahapativādena maṁ samaṇo gotamo samudācaratī”ti kupito anattamano bhagavantaṁ etadavoca:
When he said this, Potaliya was angry and upset. Thinking, “The ascetic Gotama addresses me as ‘householder’!” he said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nghe gọi mình là “gia chủ”, Potaliya tức giận, không vui và nói với Đức Phật:
“tayidaṁ, bho gotama, nacchannaṁ, tayidaṁ nappatirūpaṁ, yaṁ maṁ tvaṁ gahapativādena samudācarasī”ti.
“Worthy Gotama, it is neither proper nor appropriate for you to address me as ‘householder’.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôn giả Gotama, gọi tôi là ‘gia chủ’ như vậy không thích hợp, không đúng với tôi.”
“Te hi te, gahapati, ākārā, te liṅgā, te nimittā yathā taṁ gahapatissā”ti.
“Well, householder, you have the features, attributes, and signs of a householder.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhưng ông có dáng vẻ, đặc điểm và dấu hiệu của một gia chủ.”
“Tathā hi pana me, bho gotama, sabbe kammantā paṭikkhittā, sabbe vohārā samucchinnā”ti.
“Worthy Gotama, it’s because I have turned down all work and cut off all business.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôn giả Gotama, tôi đã từ bỏ mọi công việc và cắt đứt mọi việc làm ăn.”
“Yathā kathaṁ pana te, gahapati, sabbe kammantā paṭikkhittā, sabbe vohārā samucchinnā”ti?
“Householder, in what way have you turned down all work and cut off all business?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Gia chủ, ông đã từ bỏ mọi công việc và cắt đứt mọi việc làm ăn như thế nào?”
“Idha me, bho gotama, yaṁ ahosi dhanaṁ vā dhaññaṁ vā rajataṁ vā jātarūpaṁ vā sabbaṁ taṁ puttānaṁ dāyajjaṁ niyyātaṁ, tatthāhaṁ anovādī anupavādī ghāsacchādanaparamo viharāmi.
“Worthy Gotama, all the money, grain, gold, and silver I used to have has been handed over to my children as their inheritance. And in this matter I do not advise or reprimand them, but live with nothing more than food and clothes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôn giả Gotama, tất cả tài sản trước đây của tôi, gồm tiền của, lúa gạo, bạc và vàng, tôi đã giao hết cho các con làm tài sản thừa kế. Tôi không còn khuyên bảo hay trách cứ chúng về những việc ấy, chỉ sống với thức ăn và y phục cần thiết.
Evaṁ kho me, bho gotama, sabbe kammantā paṭikkhittā, sabbe vohārā samucchinnā”ti.
That’s how I have turned down all work and cut off all business.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Theo nghĩa đó, tôi đã từ bỏ mọi công việc và cắt đứt mọi việc làm ăn.”
“Aññathā kho tvaṁ, gahapati, vohārasamucchedaṁ vadasi, aññathā ca pana ariyassa vinaye vohārasamucchedo hotī”ti.
“The cutting off of business as you describe it is one thing, householder, but the cutting off of business in the Noble One’s training is quite different.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Điều ông gọi là dứt bỏ các việc thế tục là một chuyện; còn sự dứt bỏ các việc thế tục trong giới luật của bậc Thánh lại là chuyện khác.”
“Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye vohārasamucchedo hoti?
“But what, sir, is cutting off of business in the Noble One’s training?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, trong giới luật của bậc Thánh, dứt bỏ các việc thế tục là như thế nào?
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathā ariyassa vinaye vohārasamucchedo hotī”ti.
Sir, please teach me this.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Thế Tôn giảng Pháp cho con về sự dứt bỏ các việc thế tục trong giới luật của bậc Thánh.”
“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy, gia chủ, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ. Ta sẽ nói.”
“Evaṁ, bhante”ti kho potaliyo gahapati bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” said Potaliya.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Potaliya đáp.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“aṭṭha kho ime, gahapati, dhammā ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattanti.
“Householder, these eight things lead to the cutting off of business in the Noble One’s training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Gia chủ, có tám pháp đưa đến sự dứt bỏ các việc thế tục trong giới luật của bậc Thánh.
Katame aṭṭha?
What eight?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tám pháp nào?
Apāṇātipātaṁ nissāya pāṇātipāto pahātabbo;
Killing living creatures should be given up, relying on not killing living creatures.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nương vào không sát sinh để từ bỏ sát sinh;
dinnādānaṁ nissāya adinnādānaṁ pahātabbaṁ;
Stealing should be given up, relying on not stealing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nương vào chỉ lấy vật được cho để từ bỏ lấy vật không được cho;
saccavācaṁ nissāya musāvādo pahātabbo;
Lying should be given up, relying on speaking the truth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nương vào lời chân thật để từ bỏ nói dối;
apisuṇaṁ vācaṁ nissāya pisuṇā vācā pahātabbā;
Backbiting should be given up, relying on not backbiting.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nương vào lời nói không chia rẽ để từ bỏ lời nói chia rẽ;
agiddhilobhaṁ nissāya giddhilobho pahātabbo;
Greed and lust should be given up, relying on not being greedy and lustful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nương vào không tham lam thèm muốn để từ bỏ tham lam thèm muốn;
anindārosaṁ nissāya nindāroso pahātabbo;
Blaming and insulting should be given up, relying on not blaming and not insulting.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nương vào không chê bai, xúc phạm để từ bỏ chê bai, xúc phạm;
akkodhūpāyāsaṁ nissāya kodhūpāyāso pahātabbo;
Anger and distress should be given up, relying on not being angry and distressed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nương vào không giận dữ, bực bội để từ bỏ giận dữ, bực bội;
anatimānaṁ nissāya atimāno pahātabbo.
Arrogance should be given up, relying on not being arrogant.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nương vào không kiêu mạn để từ bỏ kiêu mạn.
Ime kho, gahapati, aṭṭha dhammā saṅkhittena vuttā, vitthārena avibhattā, ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattantī”ti.
These are the eight things—stated in brief without being analyzed in detail—that lead to the cutting off of business in the Noble One’s training.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là tám pháp Ta vừa nói vắn tắt, chưa phân tích chi tiết, đưa đến sự dứt bỏ các việc thế tục trong giới luật của bậc Thánh.”
“Ye me, bhante, bhagavatā aṭṭha dhammā saṅkhittena vuttā, vitthārena avibhattā, ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattanti, sādhu me, bhante, bhagavā ime aṭṭha dhamme vitthārena vibhajatu anukampaṁ upādāyā”ti.
“Sir, please teach me these eight things in detail out of sympathy.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, xin Ngài vì thương tưởng mà phân tích chi tiết tám pháp vừa được nói vắn tắt, những pháp đưa đến sự dứt bỏ các việc thế tục trong giới luật của bậc Thánh.”
“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy, gia chủ, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ. Ta sẽ nói.”
“Evaṁ, bhante”ti kho potaliyo gahapati bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” said Potaliya.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Potaliya đáp.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“‘Apāṇātipātaṁ nissāya pāṇātipāto pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
“‘Killing living creatures should be given up, relying on not killing living creatures.’ That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
““Nương vào không sát sinh để từ bỏ sát sinh.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
It’s when a noble disciple reflects:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu pāṇātipātī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
‘I am practicing to give up and cut off the fetters that might cause me to kill living creatures.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta giết hại sinh vật.
Ahañceva kho pana pāṇātipātī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya pāṇātipātapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ pāṇātipātapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā pāṇātipātapaccayā.
But if I were to kill living creatures, because of that I would reprimand myself; sensible people, after examination, would criticize me; and when my body breaks up, after death, I could expect to be reborn in a bad place.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta giết hại sinh vật, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ pāṇātipāto.
And killing living creatures is itself a fetter and a hindrance.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính sát sinh ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca pāṇātipātapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, pāṇātipātā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
The distressing and feverish defilements that might arise because of killing living creatures do not occur in someone who does not kill living creatures.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do sát sinh sẽ không có nơi người đã từ bỏ sát sinh.”
‘Apāṇātipātaṁ nissāya pāṇātipāto pahātabbo’ti—
‘Killing living creatures should be given up, relying on not killing living creatures.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không sát sinh để từ bỏ sát sinh” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
‘Dinnādānaṁ nissāya adinnādānaṁ pahātabban’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
‘Stealing …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào chỉ lấy vật được cho để từ bỏ lấy vật không được cho.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu adinnādāyī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta lấy vật không được cho.
Ahañceva kho pana adinnādāyī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya adinnādānapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ adinnādānapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā adinnādānapaccayā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta lấy vật không được cho, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ adinnādānaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính lấy vật không được cho ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca adinnādānapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā adinnādānā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do lấy vật không được cho sẽ không có nơi người đã từ bỏ lấy vật không được cho.”
‘Dinnādānaṁ nissāya adinnādānaṁ pahātabban’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào chỉ lấy vật được cho để từ bỏ lấy vật không được cho” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
‘Saccavācaṁ nissāya musāvādo pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
lying …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào nói lời chân thật để từ bỏ nói dối.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu musāvādī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta nói dối.
Ahañceva kho pana musāvādī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya musāvādapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ musāvādapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā musāvādapaccayā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta nói dối, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ musāvādo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính nói dối ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca musāvādapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, musāvādā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do nói dối sẽ không có nơi người đã từ bỏ nói dối.”
‘Saccavācaṁ nissāya musāvādo pahātabbo’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào nói lời chân thật để từ bỏ nói dối” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
‘Apisuṇaṁ vācaṁ nissāya pisuṇā vācā pahātabbā’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
backbiting …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không nói lời chia rẽ để từ bỏ nói lời chia rẽ.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu pisuṇavāco assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta nói lời chia rẽ.
Ahañceva kho pana pisuṇavāco assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya pisuṇavācāpaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ pisuṇavācāpaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā pisuṇavācāpaccayā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta nói lời chia rẽ, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ pisuṇā vācā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính nói lời chia rẽ ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca pisuṇavācāpaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, pisuṇāya vācāya paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do nói lời chia rẽ sẽ không có nơi người đã từ bỏ nói lời chia rẽ.”
‘Apisuṇaṁ vācaṁ nissāya pisuṇā vācā pahātabbā’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không nói lời chia rẽ để từ bỏ nói lời chia rẽ” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
‘Agiddhilobhaṁ nissāya giddhilobho pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
greed and lust …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không tham lam thèm muốn để từ bỏ tham lam thèm muốn.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu giddhilobhī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta tham lam thèm muốn.
Ahañceva kho pana giddhilobhī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya giddhilobhapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ giddhilobhapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā giddhilobhapaccayā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta tham lam thèm muốn, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ giddhilobho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính tham lam thèm muốn ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca giddhilobhapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, giddhilobhā paṭiviratassa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do tham lam thèm muốn sẽ không có nơi người đã từ bỏ tham lam thèm muốn.”
‘Agiddhilobhaṁ nissāya giddhilobho pahātabbo’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không tham lam thèm muốn để từ bỏ tham lam thèm muốn” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
‘Anindārosaṁ nissāya nindāroso pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
blaming and insulting …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không chê bai, xúc phạm để từ bỏ chê bai, xúc phạm.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu nindārosī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta chê bai, xúc phạm.
Ahañceva kho pana nindārosī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya nindārosapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ nindārosapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā nindārosapaccayā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta chê bai, xúc phạm, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ nindāroso.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính chê bai, xúc phạm ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca nindārosapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, anindārosissa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do chê bai, xúc phạm sẽ không có nơi người đã từ bỏ chê bai, xúc phạm.”
‘Anindārosaṁ nissāya nindāroso pahātabbo’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không chê bai, xúc phạm để từ bỏ chê bai, xúc phạm” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
‘Akkodhūpāyāsaṁ nissāya kodhūpāyāso pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
anger and distress …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không giận dữ, bực bội để từ bỏ giận dữ, bực bội.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu kodhūpāyāsī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta giận dữ, bực bội.
Ahañceva kho pana kodhūpāyāsī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya kodhūpāyāsapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ kodhūpāyāsapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā kodhūpāyāsapaccayā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta giận dữ, bực bội, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ kodhūpāyāso.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính giận dữ, bực bội ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca kodhūpāyāsapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, akkodhūpāyāsissa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do giận dữ, bực bội sẽ không có nơi người đã từ bỏ giận dữ, bực bội.”
‘Akkodhūpāyāsaṁ nissāya kodhūpāyāso pahātabbo’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không giận dữ, bực bội để từ bỏ giận dữ, bực bội” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
‘Anatimānaṁ nissāya atimāno pahātabbo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
Arrogance should be given up, relying on not being arrogant.’ That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không kiêu mạn để từ bỏ kiêu mạn.” Ta đã nói như vậy; vì sao Ta nói thế?
Idha, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
It’s when a noble disciple reflects:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, gia chủ, một vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yesaṁ kho ahaṁ saṁyojanānaṁ hetu atimānī assaṁ, tesāhaṁ saṁyojanānaṁ pahānāya samucchedāya paṭipanno.
‘I am practicing to give up and cut off the fetters that might cause me to be arrogant.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta đang thực hành để từ bỏ và cắt đứt những kiết sử có thể khiến ta kiêu mạn.
Ahañceva kho pana atimānī assaṁ, attāpi maṁ upavadeyya atimānapaccayā, anuviccāpi maṁ viññū garaheyyuṁ atimānapaccayā, kāyassa bhedā paraṁ maraṇā duggati pāṭikaṅkhā atimānapaccayā.
But if I were to be arrogant, because of that I would reprimand myself; sensible people, after examination, would criticize me; and when my body breaks up, after death, I could expect to be reborn in a bad place.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ta kiêu mạn, chính ta sẽ tự trách mình vì việc ấy; những người có trí sau khi xem xét cũng sẽ chê trách ta; và sau khi thân hoại mạng chung, ta có thể phải sinh vào cảnh giới xấu vì việc ấy.
Etadeva kho pana saṁyojanaṁ etaṁ nīvaraṇaṁ yadidaṁ atimāno.
And arrogance is itself a fetter and a hindrance.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính kiêu mạn ấy là một kiết sử, một chướng ngại.
Ye ca atimānapaccayā uppajjeyyuṁ āsavā vighātapariḷāhā, anatimānissa evaṁsa te āsavā vighātapariḷāhā na honti’.
The distressing and feverish defilements that might arise because of arrogance do not occur in someone who is not arrogant.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những lậu hoặc gây bức bách và nóng bức có thể sinh do kiêu mạn sẽ không có nơi người đã từ bỏ kiêu mạn.”
‘Anatimānaṁ nissāya atimāno pahātabbo’ti—
‘Arrogance should be given up by not being arrogant.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nương vào không kiêu mạn để từ bỏ kiêu mạn” —
iti yantaṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta đã nói như vậy chính vì lý do ấy.
Ime kho, gahapati, aṭṭha dhammā saṅkhittena vuttā, vitthārena vibhattā, ye ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattanti;
These are the eight things—stated in brief and analyzed in detail—that lead to the cutting off of business in the Noble One’s training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, đó là tám pháp đã được nói vắn tắt và nay đã được phân tích chi tiết, đưa đến sự dứt bỏ các việc thế tục trong giới luật của bậc Thánh;
na tveva tāva ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hotī”ti.
But just this much does not constitute the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng chỉ đến mức ấy vẫn chưa phải là dứt bỏ hoàn toàn các việc thế tục, về mọi phương diện, trong giới luật của bậc Thánh.”
“Yathā kathaṁ pana, bhante, ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hoti?
“But, sir, how is there the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, vậy thế nào mới là dứt bỏ hoàn toàn các việc thế tục, về mọi phương diện, trong giới luật của bậc Thánh?
Sādhu me, bhante, bhagavā tathā dhammaṁ desetu yathā ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hotī”ti.
Sir, please teach me this.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Thế Tôn giảng cho con về điều ấy.”
“Tena hi, gahapati, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Well then, householder, listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy, gia chủ, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ. Ta sẽ nói.”
“Evaṁ, bhante”ti kho potaliyo gahapati bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” said Potaliya.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Potaliya đáp.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
1. Kāmādīnavakathā
1. The Dangers of Sensual Pleasures
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
1. Những nguy hại của dục
“Seyyathāpi, gahapati, kukkuro jighacchādubbalyapareto goghātakasūnaṁ paccupaṭṭhito assa.
“Householder, suppose a dog weak with hunger was hanging around a butcher’s shop.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Gia chủ, ví như một con chó đói lả, kiệt sức, đứng chờ ở lò mổ bò.
Tamenaṁ dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā aṭṭhikaṅkalaṁ sunikkantaṁ nikkantaṁ nimmaṁsaṁ lohitamakkhitaṁ upasumbheyya.
A deft butcher or their apprentice would toss them a skeleton scraped clean of flesh and smeared in blood.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một người đồ tể lành nghề hay phụ việc của ông ta ném cho nó một bộ xương đã róc sạch, không còn thịt, chỉ dính máu.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
What do you think, householder?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông nghĩ sao, gia chủ?
api nu kho so kukkuro amuṁ aṭṭhikaṅkalaṁ sunikkantaṁ nikkantaṁ nimmaṁsaṁ lohitamakkhitaṁ palehanto jighacchādubbalyaṁ paṭivineyyā”ti?
Gnawing on such a fleshless skeleton, would that dog still get rid of its hunger?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con chó ấy cứ gặm bộ xương đã róc sạch thịt, chỉ dính máu như vậy, liệu có hết đói và hết kiệt sức không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why not?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao?”
“Aduñhi, bhante, aṭṭhikaṅkalaṁ sunikkantaṁ nikkantaṁ nimmaṁsaṁ lohitamakkhitaṁ.
Because that skeleton is scraped clean of flesh and smeared in blood.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì đó chỉ là bộ xương đã róc sạch thịt, chỉ còn dính máu.
Yāvadeva pana so kukkuro kilamathassa vighātassa bhāgī assā”ti.
That dog will eventually get weary and frustrated.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con chó ấy chỉ càng mệt mỏi và khốn khổ.”
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
“In the same way, a noble disciple reflects:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét:
‘aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
‘With the simile of a skeleton the Buddha said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế Tôn đã ví các dục như bộ xương: chúng đem lại nhiều khổ đau, nhiều phiền toái, và nguy hại còn lớn hơn nữa.”
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ abhinivajjetvā, yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā yattha sabbaso lokāmisūpādānā aparisesā nirujjhanti tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Having truly seen this with right understanding, they shun equanimity based on diversity and develop only the equanimity based on unity, where all kinds of grasping to the worldly pleasures of the flesh cease without remainder.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh, vị ấy tránh loại xả dựa trên sự đa dạng và phát triển loại xả dựa trên sự nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào những hấp dẫn thế gian chấm dứt hoàn toàn, không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, gijjho vā kaṅko vā kulalo vā maṁsapesiṁ ādāya uḍḍīyeyya.
Suppose a vulture or a crow or a hawk was to grab a scrap of meat and fly away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, ví như một con kền kền, quạ hay diều hâu quắp được một miếng thịt rồi bay đi.
Tamenaṁ gijjhāpi kaṅkāpi kulalāpi anupatitvā anupatitvā vitaccheyyuṁ vissajjeyyuṁ.
Other vultures, crows, and hawks would keep chasing it, pecking and clawing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những con kền kền, quạ hay diều hâu khác cứ đuổi theo, mổ và xé nó để giành miếng thịt.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
What do you think, householder?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông nghĩ sao, gia chủ?
sace so gijjho vā kaṅko vā kulalo vā taṁ maṁsapesiṁ na khippameva paṭinissajjeyya, so tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti?
If that vulture, crow, or hawk doesn’t quickly let go of that scrap of meat, wouldn’t that result in death or deadly suffering for them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu con chim ấy không mau thả miếng thịt, chẳng phải vì thế nó có thể chết hoặc chịu đau đớn gần chết sao?”
“Evaṁ, bhante”.
“Yes, sir.” …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn.”
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét:
‘maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế Tôn đã ví các dục như miếng thịt: chúng đem lại nhiều khổ đau, nhiều phiền toái, và nguy hại còn lớn hơn nữa.”
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ abhinivajjetvā yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā yattha sabbaso lokāmisūpādānā aparisesā nirujjhanti tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh, vị ấy tránh loại xả dựa trên sự đa dạng và phát triển loại xả dựa trên sự nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào những hấp dẫn thế gian chấm dứt hoàn toàn, không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, puriso ādittaṁ tiṇukkaṁ ādāya paṭivātaṁ gaccheyya.
“Suppose a person carrying a blazing grass torch was to walk against the wind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, ví như một người cầm bó đuốc cỏ đang cháy đi ngược gió.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
What do you think, householder?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông nghĩ sao, gia chủ?
sace so puriso taṁ ādittaṁ tiṇukkaṁ na khippameva paṭinissajjeyya tassa sā ādittā tiṇukkā hatthaṁ vā daheyya bāhuṁ vā daheyya aññataraṁ vā aññataraṁ vā aṅgapaccaṅgaṁ daheyya, so tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti?
If that person doesn’t quickly let go of that blazing grass torch, wouldn’t they burn their hands or arm or other major or minor limb, resulting in death or deadly suffering for them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu người ấy không mau vứt bó đuốc đang cháy, nó có thể đốt tay, cánh tay hay một bộ phận khác của thân, khiến người ấy chết hoặc đau đớn gần chết, phải không?”
“Evaṁ, bhante”.
“Yes, sir.” …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn.”
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét:
‘tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế Tôn đã ví các dục như bó đuốc cỏ: chúng đem lại nhiều khổ đau, nhiều phiền toái, và nguy hại còn lớn hơn nữa.”
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā …pe… tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh, … vị ấy tránh loại xả dựa trên sự đa dạng và phát triển loại xả dựa trên sự nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào những hấp dẫn thế gian chấm dứt hoàn toàn, không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, aṅgārakāsu sādhikaporisā, pūrā aṅgārānaṁ vītaccikānaṁ vītadhūmānaṁ.
“Suppose there was a pit of glowing coals deeper than a man’s height, full of glowing coals that neither flamed nor smoked.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, ví như một hố than hồng sâu hơn chiều cao một người, đầy than đỏ rực nhưng không có ngọn lửa hay khói.
Atha puriso āgaccheyya jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhapaṭikkūlo.
Then a person would come along who wants to live and doesn’t want to die, who wants to be happy and recoils from pain.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có một người muốn sống, không muốn chết, muốn an vui và tránh đau khổ đi đến.
Tamenaṁ dve balavanto purisā nānābāhāsu gahetvā aṅgārakāsuṁ upakaḍḍheyyuṁ.
Two strong men would grab them by the arms and drag them toward the pit of glowing coals.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hai người khỏe mạnh nắm hai cánh tay người ấy và kéo về phía hố than.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
What do you think, householder?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông nghĩ sao, gia chủ?
api nu so puriso iticiticeva kāyaṁ sannāmeyyā”ti?
Wouldn’t that person writhe and struggle to and fro?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có vùng vẫy, co người hết phía này sang phía kia không?”
“Evaṁ, bhante”.
“Yes, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Có, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao?”
“Viditañhi, bhante, tassa purisassa imañcāhaṁ aṅgārakāsuṁ papatissāmi, tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigacchissāmi maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti.
For that person knows: ‘If I fall in that pit of glowing coals, that’d result in my death or deadly pain.’” …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì người ấy biết: ‘Nếu rơi xuống hố than này, ta sẽ chết hoặc chịu đau đớn gần chết.’”
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét:
‘aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế Tôn đã ví các dục như hố than hồng: chúng đem lại nhiều khổ đau, nhiều phiền toái, và nguy hại còn lớn hơn nữa.”
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā …pe… tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh, … vị ấy tránh loại xả dựa trên sự đa dạng và phát triển loại xả dựa trên sự nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào những hấp dẫn thế gian chấm dứt hoàn toàn, không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, puriso supinakaṁ passeyya ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇirāmaṇeyyakaṁ.
“Suppose a person was to see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds in a dream.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, ví như trong giấc mơ một người thấy những khu vườn, rừng cây, đồng đất và hồ sen thật đẹp.
So paṭibuddho na kiñci paṭipasseyya.
But when they woke they couldn’t see them at all. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng khi tỉnh dậy, người ấy không còn thấy bất cứ thứ gì trong số đó.
Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét:
‘supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế Tôn đã ví các dục như giấc mơ: chúng đem lại nhiều khổ đau, nhiều phiền toái, và nguy hại còn lớn hơn nữa.” …
tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh, vị ấy tránh loại xả dựa trên sự đa dạng và phát triển loại xả dựa trên sự nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào những hấp dẫn thế gian chấm dứt hoàn toàn, không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, puriso yācitakaṁ bhogaṁ yācitvā yānaṁ vā poriseyyaṁ pavaramaṇikuṇḍalaṁ.
Suppose a man had borrowed some goods—a gentleman’s carriage and fine jeweled earrings—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, ví như một người mượn những tài sản sang trọng, chẳng hạn một cỗ xe dành cho người quyền quý và đồ trang sức bằng ngọc quý.
So tehi yācitakehi bhogehi purakkhato parivuto antarāpaṇaṁ paṭipajjeyya.
and preceded and surrounded by these he proceeded through the middle of Āpaṇa.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được những thứ vay mượn ấy tô điểm và vây quanh, người đó đi giữa phố Āpaṇa.
Tamenaṁ jano disvā evaṁ vadeyya:
When people saw him they’d say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ta thấy vậy liền nói:
‘bhogī vata bho puriso, evaṁ kira bhogino bhogāni bhuñjantī’ti.
‘This must be a wealthy man! For that’s how the wealthy enjoy their wealth.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Người này hẳn rất giàu! Người giàu hưởng của cải như thế đấy.”
Tamenaṁ sāmikā yattha yattheva passeyyuṁ tattha tattheva sāni hareyyuṁ.
But when the owners saw him, they’d take back what was theirs.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng chủ nhân của những món đồ ấy gặp người đó ở đâu thì lấy lại tài sản của mình ở đó.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati, alaṁ nu kho tassa purisassa aññathattāyā”ti?
What do you think? Would that be enough for that man to get upset?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông nghĩ sao, gia chủ? Chừng ấy có đủ khiến người kia buồn bực không?”
“Evaṁ, bhante”.
“Yes, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Có, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao?”
“Sāmino hi, bhante, sāni harantī”ti.
Because the owners took back what was theirs.” …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì chủ nhân đã lấy lại những gì thuộc về họ.”
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét:
‘yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế Tôn đã ví các dục như của vay mượn: chúng đem lại nhiều khổ đau, nhiều phiền toái, và nguy hại còn lớn hơn nữa.” …
tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh, vị ấy tránh loại xả dựa trên sự đa dạng và phát triển loại xả dựa trên sự nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào những hấp dẫn thế gian chấm dứt hoàn toàn, không còn dư sót.
Seyyathāpi, gahapati, gāmassa vā nigamassa vā avidūre tibbo vanasaṇḍo.
“Suppose there was a dense forest grove not far from a town or village.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, ví như gần một làng hay thị trấn có một khu rừng rậm.
Tatrassa rukkho sampannaphalo ca upapannaphalo ca, na cassu kānici phalāni bhūmiyaṁ patitāni.
And there was a tree laden with fruit, yet none of the fruit had fallen to the ground.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong rừng có một cây trĩu quả chín, nhưng chưa quả nào rơi xuống đất.
Atha puriso āgaccheyya phalatthiko phalagavesī phalapariyesanaṁ caramāno.
And along came a person in need of fruit, wandering in search of fruit.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một người cần quả, đang đi tìm quả, đến đó.
So taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā taṁ rukkhaṁ passeyya sampannaphalañca upapannaphalañca.
Having plunged deep into that forest grove, they’d see that tree laden with fruit.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đi sâu vào rừng, người ấy thấy cây đang trĩu quả chín.
Tassa evamassa:
They’d think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy nghĩ:
‘ayaṁ kho rukkho sampannaphalo ca upapannaphalo ca, natthi ca kānici phalāni bhūmiyaṁ patitāni.
‘That tree is laden with fruit, yet none of the fruit has fallen to the ground.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cây này đầy quả chín, nhưng chưa có quả nào rơi xuống đất.
Jānāmi kho panāhaṁ rukkhaṁ ārohituṁ.
But I know how to climb a tree.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta biết leo cây.
Yannūnāhaṁ imaṁ rukkhaṁ ārohitvā yāvadatthañca khādeyyaṁ ucchaṅgañca pūreyyan’ti.
Why don’t I climb the tree, eat as much as I like, then fill my pouch?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta sẽ trèo lên, ăn thỏa thích rồi lấy thêm đầy vạt áo.”
So taṁ rukkhaṁ ārohitvā yāvadatthañca khādeyya ucchaṅgañca pūreyya.
And that’s what they’d do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy leo lên cây, ăn thỏa thích và lấy đầy vạt áo.
Atha dutiyo puriso āgaccheyya phalatthiko phalagavesī phalapariyesanaṁ caramāno tiṇhaṁ kuṭhāriṁ ādāya.
And along would come a second person in need of fruit, wandering in search of fruit, carrying a sharp axe.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi một người thứ hai cũng đi tìm quả đến, tay cầm một chiếc rìu sắc.
So taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā taṁ rukkhaṁ passeyya sampannaphalañca upapannaphalañca.
Having plunged deep into that forest grove, they’d see that tree laden with fruit.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đi sâu vào rừng, người thứ hai cũng thấy cây trĩu quả chín.
Tassa evamassa:
They’d think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy nghĩ:
‘ayaṁ kho rukkho sampannaphalo ca upapannaphalo ca, natthi ca kānici phalāni bhūmiyaṁ patitāni.
‘That tree is laden with fruit, yet none of the fruit has fallen to the ground.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cây này đầy quả chín, nhưng chưa có quả nào rơi xuống đất.
Na kho panāhaṁ jānāmi rukkhaṁ ārohituṁ.
But I don’t know how to climb a tree.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta lại không biết leo cây.
Yannūnāhaṁ imaṁ rukkhaṁ mūlato chetvā yāvadatthañca khādeyyaṁ ucchaṅgañca pūreyyan’ti.
Why don’t I chop this tree down at the root, eat as much as I like, then fill my pouch?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hay ta chặt cây tận gốc, rồi ăn thỏa thích và lấy thêm đầy vạt áo.”
So taṁ rukkhaṁ mūlatova chindeyya.
And so they’d chop the tree down at the root.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế là người ấy bắt đầu chặt cây tận gốc.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
What do you think, householder?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông nghĩ sao, gia chủ?
amuko yo so puriso paṭhamaṁ rukkhaṁ ārūḷho sace so na khippameva oroheyya tassa so rukkho papatanto hatthaṁ vā bhañjeyya pādaṁ vā bhañjeyya aññataraṁ vā aññataraṁ vā aṅgapaccaṅgaṁ bhañjeyya, so tatonidānaṁ maraṇaṁ vā nigaccheyya maraṇamattaṁ vā dukkhan”ti?
If the first person, who climbed the tree, doesn’t quickly come down, when that tree fell wouldn’t they break their hand or arm or other major or minor limb, resulting in death or deadly suffering for them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu người thứ nhất đang ở trên cây không mau trèo xuống, khi cây đổ, người ấy có thể gãy tay, gãy chân hay một bộ phận khác của thân, thậm chí chết hoặc chịu đau đớn gần chết, phải không?”
“Evaṁ, bhante”.
“Yes, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn.”
“Evameva kho, gahapati, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
“In the same way, a noble disciple reflects:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, gia chủ, vị Thánh đệ tử suy xét:
‘rukkhaphalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo’ti.
‘With the simile of the fruit tree the Buddha said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế Tôn đã ví các dục như quả trên cây: chúng đem lại nhiều khổ đau, nhiều phiền toái, và nguy hại còn lớn hơn nữa.”
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ abhinivajjetvā yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā yattha sabbaso lokāmisūpādānā aparisesā nirujjhanti tamevūpekkhaṁ bhāveti.
Having truly seen this with right understanding, they shun equanimity based on diversity and develop only the equanimity based on unity, where all kinds of grasping to the worldly pleasures of the flesh cease without remainder.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi thấy đúng như thật bằng trí tuệ chân chánh, vị ấy tránh loại xả dựa trên sự đa dạng và phát triển loại xả dựa trên sự nhất thể, nơi mọi chấp thủ vào những hấp dẫn thế gian chấm dứt hoàn toàn, không còn dư sót.
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati,
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple recollects their many kinds of past lives.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nương vào chính sự thanh tịnh tối thượng của niệm và xả ấy, vị Thánh đệ tử nhớ lại nhiều đời sống quá khứ:
seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. … They recollect their many kinds of past lives, with features and details.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
một đời, hai đời … vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ cùng hoàn cảnh và chi tiết.
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti.
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple, with clairvoyance that is purified and superhuman, sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. … They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nương vào chính sự thanh tịnh tối thượng của niệm và xả ấy, với thiên nhãn trong sạch vượt quá mắt người, vị Thánh đệ tử thấy các chúng sinh chết và tái sinh, thấp kém hay cao quý, đẹp hay xấu, đi đến cảnh giới tốt hay xấu … vị ấy biết chúng sinh đi theo nghiệp của mình.
Sa kho so, gahapati, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nương vào chính sự thanh tịnh tối thượng của niệm và xả ấy, do các lậu hoặc đã tận, vị Thánh đệ tử ngay trong đời này tự mình trực tiếp biết, chứng ngộ và an trú trong tâm giải thoát không còn lậu hoặc và tuệ giải thoát.
Ettāvatā kho, gahapati, ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hoti.
That’s how there is the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Gia chủ, đến mức ấy mới là dứt bỏ hoàn toàn các việc thế tục, về mọi phương diện, trong giới luật của bậc Thánh.
Taṁ kiṁ maññasi, gahapati,
What do you think, householder?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông nghĩ sao, gia chủ?
yathā ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo hoti, api nu tvaṁ evarūpaṁ vohārasamucchedaṁ attani samanupassasī”ti?
Do you regard yourself as having cut off business in a way comparable to the cutting off of business in each and every respect in the Noble One’s training?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông có thấy nơi mình một sự dứt bỏ các việc thế tục tương đương với sự dứt bỏ hoàn toàn ấy trong giới luật của bậc Thánh không?”
“Ko cāhaṁ, bhante, ko ca ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedo.
“Who am I compared to one who has cut off business in each and every respect in the Noble One’s training?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con là gì so với người đã dứt bỏ hoàn toàn các việc thế tục theo giới luật của bậc Thánh!
Ārakā ahaṁ, bhante, ariyassa vinaye sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ vohārasamucchedā.
I am far from that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con còn cách rất xa điều ấy.
Mayañhi, bhante, pubbe aññatitthiye paribbājake anājānīyeva samāne ājānīyāti amaññimha, anājānīyeva samāne ājānīyabhojanaṁ bhojimha, anājānīyeva samāne ājānīyaṭhāne ṭhapimha;
Sir, I used to think that the wanderers following other religions were thoroughbreds, and I fed them and treated them accordingly, but they were not actually thoroughbreds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trước đây, chúng con tưởng những du sĩ ngoại đạo không phải là ngựa thuần chủng lại là ngựa thuần chủng; chúng con cho họ thức ăn của ngựa thuần chủng và đặt họ vào vị trí của ngựa thuần chủng.
bhikkhū pana mayaṁ, bhante, ājānīyeva samāne anājānīyāti amaññimha, ājānīyeva samāne anājānīyabhojanaṁ bhojimha, ājānīyeva samāne anājānīyaṭhāne ṭhapimha;
I thought that the mendicants were not thoroughbreds, and I fed them and treated them accordingly, but they actually were thoroughbreds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn các tỳ-kheo vốn thật sự là ngựa thuần chủng thì chúng con lại tưởng không phải, cho thức ăn không tương xứng và đặt vào vị trí không tương xứng.
idāni pana mayaṁ, bhante, aññatitthiye paribbājake anājānīyeva samāne anājānīyāti jānissāma, anājānīyeva samāne anājānīyabhojanaṁ bhojessāma, anājānīyeva samāne anājānīyaṭhāne ṭhapessāma.
But now I shall understand that the wanderers following other religions are not actually thoroughbreds, and I will feed them and treat them accordingly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ nay, chúng con sẽ biết các du sĩ ngoại đạo không phải là ngựa thuần chủng đúng như họ là, cho họ thức ăn và vị trí tương xứng.
Bhikkhū pana mayaṁ, bhante, ājānīyeva samāne ājānīyāti jānissāma, ājānīyeva samāne ājānīyabhojanaṁ bhojessāma, ājānīyeva samāne ājānīyaṭhāne ṭhapessāma.
And I shall understand that the mendicants actually are thoroughbreds, and I will feed them and treat them accordingly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và chúng con sẽ biết các tỳ-kheo là ngựa thuần chủng đúng như họ là, cho họ thức ăn và vị trí tương xứng.
Ajanesi vata me, bhante, bhagavā samaṇesu samaṇappemaṁ, samaṇesu samaṇappasādaṁ, samaṇesu samaṇagāravaṁ.
The Buddha has inspired me to have love, confidence, and respect for ascetics!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế Tôn đã làm sinh khởi nơi con lòng quý mến, tin tưởng và kính trọng đối với các sa-môn.
Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
Excellent, sir! Excellent!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời!
Seyyathāpi, bhante, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya, ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ kho, bhante, bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito.
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, the Buddha has made the teaching clear in many ways.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như người dựng vật bị lật lên, mở điều bị che kín, chỉ đường cho người lạc, hay thắp đèn trong bóng tối để người có mắt thấy được các vật, Thế Tôn đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con xin quy y Đức Phật, quy y Giáo Pháp và quy y Tăng chúng tỳ-kheo.
Upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ hôm nay cho đến trọn đời, xin Thế Tôn ghi nhận con là một nam cư sĩ đã quy y.
Potaliyasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Potaliya kết thúc, bài thứ tư.