← Kinh Trung Bộ

MN53 · Majjhima Nikāya

Kinh Hữu Học

Sekhasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Hữu Học diễn ra tại tu viện Nigrodha ở Kapilavatthu, giữa dân Sākya, khi một hội trường mới vừa xây chưa ai dùng. Những người Sākya mời Ngài dùng trước để được lợi ích và an lạc lâu dài. Ngài nhận lời, dùng phần lớn đêm chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho người Sākya, rồi vì lưng đau giao Ānanda nói về con đường thực hành của bậc hữu học khi Ngài nằm nghỉ theo thế sư tử.

Ānanda nói với Mahānāma: Thánh đệ tử hữu học cần thành tựu giới hạnh, hộ trì giác quan, tiết độ ăn uống, tỉnh thức, bảy thiện pháp, và tùy ý đạt bốn thiền tăng thượng tâm. Giới hạnh là sống chế ngự bằng giới bổn Pātimokkha. Hộ trì giác quan là khi sáu căn tiếp xúc, không nắm giữ tướng chung hay chi tiết khiến tâm bị cuốn theo. Tiết độ ăn uống là thấy thức ăn không phải để vui chơi hay làm đẹp, mà chỉ để duy trì thân, hỗ trợ phạm hạnh. Tỉnh thức là kinh hành, ngồi thiền ban ngày và canh đầu, canh cuối; nằm thế sư tử trong canh giữa.

Bảy thiện pháp là lòng tin vào sự giác ngộ của Như Lai; biết hổ thẹn; biết sợ lỗi; học rộng, ghi nhớ, thâm nhập Pháp trình bày đời phạm hạnh viên mãn; tinh tấn từ bỏ bất thiện, thành tựu thiện; niệm nhớ những điều đã làm đã nói; và trí tuệ thấy sinh diệt, dẫn đến đoạn tận khổ.

Về bốn thiền: ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng sơ thiền; khi tầm tứ lắng xuống, chứng nhị thiền; khi hỷ phai nhạt, chứng tam thiền; khi bỏ lạc khổ, chứng tứ thiền với niệm thanh tịnh nhờ xả; bốn an trú lạc trong hiện tại vị tùy ý đạt được. Đủ các pháp ấy, vị là hữu học đang thực hành, như gà mái ấp trứng đúng cách: trứng không hư, gà con có thể phá vỏ nở an toàn.

Nương vào sự thanh tịnh vô thượng của xả và niệm ấy, vị lần lượt phá ba lớp vỏ: nhớ lại nhiều đời quá khứ là lần thứ nhất; bằng thiên nhãn thấy các hữu tình đi theo nghiệp là lần thứ hai; do các lậu hoặc đã tận, tự mình chứng tâm giải thoát, tuệ giải thoát là lần thứ ba. Các pháp đầu thuộc về hạnh của vị, ba trí sau thuộc về minh; vị được gọi là đầy đủ minh và hạnh. Kinh kết bằng bài kệ Phạm thiên Sanaṅkumāra được Phật chấp thuận: Sát-đế-lỵ cao nhất giữa người lấy dòng họ làm chuẩn, người đầy đủ minh và hạnh cao nhất giữa trời và người; Đức Phật ngồi dậy khen Ānanda.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 7e59ca3a-7a45-4d1c-9ff5-f08006d52445 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: bf2f604446617084a320c534b65f1367d734bcbe5d174ab6353b8e68e07f1f6d

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 00c5acd0-ab8c-4496-96a0-7f3575867fe1 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: bf2f604446617084a320c534b65f1367d734bcbe5d174ab6353b8e68e07f1f6d

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 100 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: b6a60a0e-44a3-4aac-8c27-ff21e40457a2 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: ff3fa72cbc024955779cbc7c04fd40f940c5678af2d699cea6f8251df58e6a57

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 100 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2b36b229-31b6-4bc2-8944-8e8c3d6d2029 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: ff3fa72cbc024955779cbc7c04fd40f940c5678af2d699cea6f8251df58e6a57

2026-10-05 · Scorecard lịch sử · 9.67/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.9
Đúng nghĩa Pāli9.1
Ngữ pháp & logic9.7
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.5
Đối chiếu nguồn9.5
Tiếng Việt sáng rõ9.7
Hán–Việt & súc tích9.7
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

100/100 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

99/100 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

100/100 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 53
Middle Discourses 53
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 53
Sekhasutta
A Trainee
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Hữu Học
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở giữa dân Sākya, tại Kapilavatthu, trong tu viện Nigrodha.
Tena kho pana samayena kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ hoti anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
Now at that time a new town hall had recently been constructed for the Sakyans of Kapilavatthu. It had not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any human at all.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ một hội trường mới vừa được xây cho những người Sākya ở Kapilavatthu, chưa từng được một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người nào sử dụng.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho kāpilavatthavā sakyā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then the Sakyans of Kapilavatthu went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những người Sākya ở Kapilavatthu đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:
“idha, bhante, kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ navaṁ santhāgāraṁ acirakāritaṁ anajjhāvuṭṭhaṁ samaṇena vā brāhmaṇena vā kenaci vā manussabhūtena.
“Sir, a new town hall has recently been constructed for the Sakyans of Kapilavatthu. It has not yet been occupied by an ascetic or brahmin or any human at all.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, một hội trường mới vừa được xây cho những người Sākya ở Kapilavatthu và chưa từng được một sa-môn, bà-la-môn hay bất kỳ người nào sử dụng.
Taṁ, bhante, bhagavā paṭhamaṁ paribhuñjatu. Bhagavatā paṭhamaṁ paribhuttaṁ pacchā kāpilavatthavā sakyā paribhuñjissanti.
May the Buddha be the first to use it, and only then will the Sakyans of Kapilavatthu use it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Thế Tôn hãy là người dùng hội trường ấy trước. Sau khi Thế Tôn dùng trước, những người Sākya ở Kapilavatthu sẽ dùng sau.
Tadassa kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
That would be for the lasting welfare and happiness of the Sakyans of Kapilavatthu.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy sẽ đem lại lợi ích và an lạc lâu dài cho những người Sākya ở Kapilavatthu.”
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
The Buddha consented with silence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật im lặng nhận lời.
Atha kho kāpilavatthavā sakyā bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena navaṁ santhāgāraṁ tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā sabbasanthariṁ santhāgāraṁ santharitvā āsanāni paññapetvā udakamaṇikaṁ upaṭṭhapetvā telappadīpaṁ āropetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu;
Then, knowing that the Buddha had consented, the Sakyans got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. Then they went to the new town hall, where they spread carpets all over, prepared seats, set up a water jar, and placed an oil lamp. Then they went back to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Biết Đức Phật đã nhận lời, những người Sākya đứng dậy, đảnh lễ, đi nhiễu bên phải rồi đến hội trường mới. Họ trải thảm khắp hội trường, sắp ghế, đặt ghè nước, thắp đèn dầu, rồi trở lại gặp Đức Phật;
upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu.
bowed, stood to one side,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
họ đảnh lễ và đứng sang một bên.
Ekamantaṁ ṭhitā kho kāpilavatthavā sakyā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
and told him of their preparations, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đứng một bên, họ thưa với Đức Phật:
“sabbasanthariṁ santhataṁ, bhante, santhāgāraṁ, āsanāni paññattāni, udakamaṇiko upaṭṭhāpito, telappadīpo āropito.
“The town hall has been carpeted all over, sir, the seats laid out, the water jar set up, and the oil lamp placed.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, hội trường đã được trải thảm, chỗ ngồi đã sắp xong, ghè nước đã đặt sẵn và đèn dầu đã thắp.
Yassadāni, bhante, bhagavā kālaṁ maññatī”ti.
“Please, sir, come at your convenience.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Thế Tôn đến khi thấy là đúng lúc.”
Atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya saddhiṁ bhikkhusaṅghena yena santhāgāraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā majjhimaṁ thambhaṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi.
Then the Buddha robed up and, taking his bowl and robe, went to the new town hall together with the Saṅgha of mendicants. Having washed his feet, he entered the town hall and sat against the central column facing east.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật mặc y, mang bát và y ngoài, cùng Tăng chúng đi đến hội trường. Sau khi rửa chân, Ngài bước vào, ngồi tựa cột giữa, quay mặt về hướng đông.
Bhikkhusaṅghopi kho pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā pacchimaṁ bhittiṁ nissāya puratthābhimukho nisīdi, bhagavantaṁyeva purakkhatvā.
The Saṅgha of mendicants also washed their feet, entered the town hall, and sat against the west wall facing east, with the Buddha right in front of them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tăng chúng cũng rửa chân, bước vào hội trường và ngồi tựa bức tường phía tây, quay mặt về hướng đông, với Đức Phật ở phía trước.
Kāpilavatthavāpi kho sakyā pāde pakkhāletvā santhāgāraṁ pavisitvā puratthimaṁ bhittiṁ nissāya pacchimābhimukhā nisīdiṁsu, bhagavantaṁyeva purakkhatvā.
The Sakyans of Kapilavatthu also washed their feet, entered the town hall, and sat against the east wall facing west, with the Buddha right in front of them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những người Sākya ở Kapilavatthu cũng rửa chân, bước vào hội trường và ngồi tựa bức tường phía đông, quay mặt về hướng tây, với Đức Phật ở phía trước.
Atha kho bhagavā kāpilavatthave sakye bahudeva rattiṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
The Buddha spent much of the night educating, encouraging, firing up, and inspiring the Sakyans with a Dhamma talk. Then he addressed Venerable Ānanda,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật dùng phần lớn đêm để chỉ dạy, khuyến khích, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho những người Sākya bằng một bài Pháp. Rồi Ngài gọi Tôn giả Ānanda:
“paṭibhātu taṁ, ānanda, kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ sekho pāṭipado.
“Ānanda, speak about the practicing trainee to the Sakyans of Kapilavatthu as you feel inspired.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, hãy nói cho những người Sākya ở Kapilavatthu về con đường thực hành của một bậc hữu học theo điều ông thấy thích hợp.
Piṭṭhi me āgilāyati;
My back is sore,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lưng Ta đang đau;
tamahaṁ āyamissāmī”ti.
I’ll stretch it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta sẽ duỗi lưng.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” Ānanda replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Ānanda đáp.
Atha kho bhagavā catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññāpetvā dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappesi, pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno, uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā.
And then the Buddha spread out his outer robe folded in four and laid down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật xếp y ngoài làm bốn, nằm theo thế sư tử bên phải, chân này đặt trên chân kia, có niệm, tỉnh giác và tác ý đến lúc sẽ thức dậy.
Atha kho āyasmā ānando mahānāmaṁ sakkaṁ āmantesi:
Then Ānanda addressed Mahānāma the Sakyan:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda nói với Mahānāma người Sākya:
“idha, mahānāma, ariyasāvako sīlasampanno hoti, indriyesu guttadvāro hoti, bhojane mattaññū hoti, jāgariyaṁ anuyutto hoti, sattahi saddhammehi samannāgato hoti, catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
“Mahānāma, a noble disciple is accomplished in ethics, guards the sense doors, eats in moderation, and is dedicated to wakefulness. They have seven good qualities, and they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mahānāma, một Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh, hộ trì các cửa giác quan, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên cần tỉnh thức, có bảy thiện pháp, và tùy ý đạt được bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, là những an trú lạc trong hiện tại, không khó khăn, không nhọc nhằn.
Kathañca, mahānāma, ariyasāvako sīlasampanno hoti?
And how is a noble disciple accomplished in ethics?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là một Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh?
Idha, mahānāma, ariyasāvako sīlavā hoti, pātimokkhasaṁvarasaṁvuto viharati ācāragocarasampanno aṇumattesu vajjesu bhayadassāvī, samādāya sikkhati sikkhāpadesu.
It’s when a noble disciple is ethical, restrained in the monastic code, conducting themselves well and resorting for alms in suitable places. Seeing danger in the slightest fault, they keep the rules they’ve undertaken.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, Thánh đệ tử có giới, sống được chế ngự bằng giới bổn Pātimokkha, đầy đủ hành vi và phạm vi thích hợp; thấy nguy hiểm trong cả lỗi nhỏ nhất và thọ trì học tập các học giới.
Evaṁ kho, mahānāma, ariyasāvako sīlasampanno hoti.
That’s how a noble disciple is ethical.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy một Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh.
Kathañca, mahānāma, ariyasāvako indriyesu guttadvāro hoti?
And how does a noble disciple guard the sense doors?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là một Thánh đệ tử hộ trì các cửa giác quan?
Idha, mahānāma, ariyasāvako cakkhunā rūpaṁ disvā na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
When a noble disciple sees a sight with their eyes, they don’t get caught up in the features and details.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung hay các chi tiết khiến tâm bị cuốn theo.
Yatvādhikaraṇamenaṁ cakkhundriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati cakkhundriyaṁ, cakkhundriye saṁvaraṁ āpajjati.
If the faculty of sight were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of sight, and achieving its restraint.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu mắt không được phòng hộ, các pháp xấu, bất thiện như tham muốn và buồn phiền có thể tràn ngập; vì vậy vị ấy thực hành để phòng hộ, bảo vệ mắt và thành tựu sự phòng hộ mắt.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
When they hear a sound with their ears …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi tai nghe âm thanh …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …pe…
When they smell an odor with their nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi mũi ngửi mùi …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …pe…
When they taste a flavor with their tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi lưỡi nếm vị …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …pe…
When they feel a touch with their body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi thân chạm xúc …
manasā dhammaṁ viññāya na nimittaggāhī hoti nānubyañjanaggāhī.
When they know an idea with their mind, they don’t get caught up in the features and details.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi ý nhận biết một pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung hay các chi tiết khiến tâm bị cuốn theo.
Yatvādhikaraṇamenaṁ manindriyaṁ asaṁvutaṁ viharantaṁ abhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssaveyyuṁ tassa saṁvarāya paṭipajjati, rakkhati manindriyaṁ, manindriye saṁvaraṁ āpajjati.
If the faculty of mind were left unrestrained, bad unskillful qualities of covetousness and displeasure would become overwhelming. For this reason, they practice restraint, protecting the faculty of mind, and achieving its restraint.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu ý căn không được phòng hộ, các pháp xấu, bất thiện như tham muốn và buồn phiền có thể tràn ngập; vì vậy vị ấy thực hành để phòng hộ, bảo vệ ý căn và thành tựu sự phòng hộ ý căn.
Evaṁ kho, mahānāma, ariyasāvako indriyesu guttadvāro hoti.
That’s how a noble disciple guards the sense doors.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy một Thánh đệ tử hộ trì các cửa giác quan.
Kathañca, mahānāma, ariyasāvako bhojane mattaññū hoti?
And how does a noble disciple eat in moderation?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là một Thánh đệ tử biết tiết độ trong ăn uống?
Idha, mahānāma, ariyasāvako paṭisaṅkhā yoniso āhāraṁ āhāreti:
It’s when a noble disciple reflects rationally on the food that they eat:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, Thánh đệ tử suy xét đúng đắn khi dùng thức ăn:
‘neva davāya na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya; yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya. Iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi, navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không phải để vui chơi, say mê, trang sức hay làm đẹp, mà chỉ để thân này được duy trì và tiếp tục, để chấm dứt tổn hại và hỗ trợ đời sống phạm hạnh. Như vậy ta sẽ dứt cảm thọ cũ mà không làm phát sinh cảm thọ mới; ta sẽ duy trì được thân, không lỗi lầm và sống an ổn.’
Evaṁ kho, mahānāma, ariyasāvako bhojane mattaññū hoti.
That’s how a noble disciple eats in moderation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy một Thánh đệ tử biết tiết độ trong ăn uống.
Kathañca, mahānāma, ariyasāvako jāgariyaṁ anuyutto hoti?
And how is a noble disciple dedicated to wakefulness?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là một Thánh đệ tử chuyên cần tỉnh thức?
Idha, mahānāma, ariyasāvako divasaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti,
It’s when a noble disciple practices walking and sitting meditation by day, purifying their mind from obstacles.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ban ngày, vị ấy đi kinh hành và ngồi thiền, làm sạch tâm khỏi những pháp ngăn che;
rattiyā paṭhamaṁ yāmaṁ caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti,
In the first watch of the night, they continue to practice walking and sitting meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trong canh đầu của đêm, vị ấy tiếp tục đi kinh hành và ngồi thiền, làm sạch tâm khỏi những pháp ngăn che;
rattiyā majjhimaṁ yāmaṁ dakkhiṇena passena sīhaseyyaṁ kappeti, pāde pādaṁ accādhāya, sato sampajāno, uṭṭhānasaññaṁ manasi karitvā,
In the middle watch, they lie down in the lion’s posture—on the right side, placing one foot on top of the other—mindful and aware, and focused on the time of getting up.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trong canh giữa, vị ấy nằm theo thế sư tử bên phải, chân này đặt trên chân kia, có niệm, tỉnh giác và tác ý đến lúc sẽ thức dậy;
rattiyā pacchimaṁ yāmaṁ paccuṭṭhāya caṅkamena nisajjāya āvaraṇīyehi dhammehi cittaṁ parisodheti.
In the last watch, they get up and continue to practice walking and sitting meditation, purifying their mind from obstacles.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trong canh cuối, vị ấy thức dậy, đi kinh hành và ngồi thiền, làm sạch tâm khỏi những pháp ngăn che.
Evaṁ kho, mahānāma, ariyasāvako jāgariyaṁ anuyutto hoti.
That’s how a noble disciple is dedicated to wakefulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy một Thánh đệ tử chuyên cần tỉnh thức.
Kathañca, mahānāma, ariyasāvako sattahi saddhammehi samannāgato hoti?
And how does a noble disciple have seven good qualities?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là một Thánh đệ tử có bảy thiện pháp?
Idha, mahānāma, ariyasāvako saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
It’s when a noble disciple has faith in the Realized One’s awakening:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, Thánh đệ tử có lòng tin, tin vào sự giác ngộ của Như Lai:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc vô thượng điều phục những người đáng được điều phục, bậc thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn.’
Hirimā hoti, hirīyati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, hirīyati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā.
They have a conscience. They’re conscientious about bad conduct by way of body, speech, and mind, and conscientious about having any bad, unskillful qualities.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết hổ thẹn, hổ thẹn đối với thân hành, khẩu hành và ý hành bất thiện, và hổ thẹn khi rơi vào các pháp xấu, bất thiện.
Ottappī hoti, ottappati kāyaduccaritena vacīduccaritena manoduccaritena, ottappati pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ samāpattiyā.
They exercise prudence. They’re prudent when it comes to bad conduct by way of body, speech, and mind, and prudent when it comes to acquiring any bad, unskillful qualities.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết sợ lỗi, sợ đối với thân hành, khẩu hành và ý hành bất thiện, và sợ hậu quả của việc rơi vào các pháp xấu, bất thiện.
Bahussuto hoti sutadharo sutasannicayo. Ye te dhammā ādikalyāṇā majjhekalyāṇā pariyosānakalyāṇā sātthā sabyañjanā kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ abhivadanti tathārūpāssa dhammā bahussutā honti dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
They’re very learned, remembering and keeping what they’ve learned. These teachings are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased, describing a spiritual practice that’s entirely full and pure. They are very learned in such teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy học rộng, ghi nhớ và tích lũy điều đã học. Những pháp tốt đẹp ở phần đầu, phần giữa và phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và lời văn, trình bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh, vị ấy đã nghe học nhiều, ghi nhớ, đọc tụng thành thạo, suy xét bằng tâm và thâm nhập bằng chánh kiến.
Āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy sống với tinh tấn được khơi dậy để từ bỏ các pháp bất thiện và thành tựu các pháp thiện; mạnh mẽ, nỗ lực vững chắc, không buông gánh trách nhiệm đối với các pháp thiện.
Satimā hoti, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
They’re mindful. They have utmost mindfulness and alertness, and can remember and recall what was said and done long ago.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy có niệm, đầy đủ niệm và sự sáng suốt cao độ, có thể nhớ và hồi tưởng những điều đã làm, đã nói từ lâu.
Paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato, ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
They’re wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy có trí tuệ, đầy đủ trí tuệ thấy sự sinh và diệt, cao quý, có sức xuyên thấu và dẫn đến sự đoạn tận khổ đúng đắn.
Evaṁ kho, mahānāma, ariyasāvako sattahi saddhammehi samannāgato hoti.
That’s how a noble disciple has seven good qualities.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy một Thánh đệ tử có bảy thiện pháp.
Kathañca, mahānāma, ariyasāvako catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī?
And how does a noble disciple get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là một Thánh đệ tử tùy ý đạt được bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, là những an trú lạc trong hiện tại, không khó khăn, không nhọc nhằn?
Idha, mahānāma, ariyasāvako vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
It’s when a noble disciple, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, hoàn toàn ly dục, … Thánh đệ tử chứng và trú sơ thiền;
vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
second absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi tầm và tứ lắng xuống, … vị ấy chứng và trú nhị thiền;
pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
third absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi hỷ phai nhạt, … chứng và trú tam thiền;
sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
fourth absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi đã bỏ lạc và khổ, và trước đó hỷ và ưu đã chấm dứt, … chứng và trú tứ thiền.
Evaṁ kho, mahānāma, ariyasāvako catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī.
That’s how a noble disciple gets the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy một Thánh đệ tử tùy ý đạt được bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, là những an trú lạc trong hiện tại, không khó khăn, không nhọc nhằn.
Yato kho, mahānāma, ariyasāvako evaṁ sīlasampanno hoti, evaṁ indriyesu guttadvāro hoti, evaṁ bhojane mattaññū hoti, evaṁ jāgariyaṁ anuyutto hoti, evaṁ sattahi saddhammehi samannāgato hoti, evaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī, ayaṁ vuccati, mahānāma, ariyasāvako sekho pāṭipado apuccaṇḍatāya samāpanno, bhabbo abhinibbhidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
When a noble disciple is accomplished in ethics, guards the sense doors, eats in moderation, and is dedicated to wakefulness; and they have seven good qualities, and they get the four absorptions—blissful meditations in this life that belong to the higher mind—when they want, without trouble or difficulty, they are called a noble disciple who is a practicing trainee. Their eggs are unspoiled, and they are capable of breaking out of their shell, becoming awakened, and achieving the supreme sanctuary from the yoke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Mahānāma, khi một Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh, hộ trì các cửa giác quan, biết tiết độ trong ăn uống, chuyên cần tỉnh thức, có bảy thiện pháp và tùy ý đạt bốn thiền thuộc tăng thượng tâm không khó khăn, không nhọc nhằn, vị ấy được gọi là Thánh đệ tử hữu học đang thực hành; những quả trứng của vị ấy không bị hư, vị ấy có khả năng phá vỏ, có khả năng giác ngộ và có khả năng đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược.
Seyyathāpi, mahānāma, kukkuṭiyā aṇḍāni aṭṭha vā dasa vā dvādasa vā tānāssu kukkuṭiyā sammā adhisayitāni sammā pariseditāni sammā paribhāvitāni, kiñcāpi tassā kukkuṭiyā na evaṁ icchā uppajjeyya:
Suppose there was a chicken with eight or ten or twelve eggs. And she properly sat on them to keep them warm and incubated. Even if that chicken doesn’t wish,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ví như một con gà mái có tám, mười hay mười hai quả trứng, được nó ấp đúng cách, sưởi ấm đúng cách và nuôi dưỡng đúng cách. Dù con gà mái không khởi mong muốn:
‘aho vatime kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjeyyun’ti,
‘If only my chicks could break out of the eggshell with their claws and beak and hatch safely!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Mong sao những gà con này dùng đầu móng chân hay mỏ phá vỏ trứng và nở ra an toàn’,
atha kho bhabbāva te kukkuṭapotakā pādanakhasikhāya vā mukhatuṇḍakena vā aṇḍakosaṁ padāletvā sotthinā abhinibbhijjituṁ.
Still they can break out and hatch safely.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
những gà con ấy vẫn có khả năng dùng đầu móng chân hay mỏ phá vỏ trứng và nở ra an toàn.
Evameva kho, mahānāma, yato ariyasāvako evaṁ sīlasampanno hoti, evaṁ indriyesu guttadvāro hoti, evaṁ bhojane mattaññū hoti, evaṁ jāgariyaṁ anuyutto hoti, evaṁ sattahi saddhammehi samannāgato hoti, evaṁ catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī, ayaṁ vuccati, mahānāma, ariyasāvako sekho pāṭipado apuccaṇḍatāya samāpanno, bhabbo abhinibbhidāya, bhabbo sambodhāya, bhabbo anuttarassa yogakkhemassa adhigamāya.
In the same way, when a noble disciple is practicing all these things they are called a noble disciple who is a practicing trainee. Their eggs are unspoiled, and they are capable of breaking out of their shell, becoming awakened, and achieving the supreme sanctuary from the yoke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, khi Thánh đệ tử thực hành đầy đủ các pháp vừa nói, vị ấy được gọi là bậc hữu học đang thực hành; những quả trứng của vị ấy không bị hư, vị ấy có khả năng phá vỏ, có khả năng giác ngộ và đạt đến sự an ổn vô thượng khỏi các ách phược.
Sa kho so, mahānāma, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati,
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple recollects their many kinds of past lives.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Mahānāma, nương vào chính sự thanh tịnh vô thượng của xả và niệm này, Thánh đệ tử ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ;
seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati,
That is: one, two, three, four, five, ten, twenty, thirty, forty, fifty, a hundred, a thousand, a hundred thousand rebirths; many eons of the world contracting, many eons of the world expanding, many eons of the world contracting and expanding. … And so they recollect their many kinds of past lives, with features and details.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
một đời, hai đời … vị ấy nhớ lại nhiều đời sống quá khứ với các nét và chi tiết.
ayamassa paṭhamābhinibbhidā hoti kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā.
This is their first breaking out, like a chick from an eggshell.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là lần phá vỏ thứ nhất của vị ấy, như gà con phá vỏ trứng.
Sa kho so, mahānāma, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti,
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple, with clairvoyance that is purified and superhuman, sees sentient beings passing away and being reborn—inferior and superior, beautiful and ugly, in a good place or a bad place. … They understand how sentient beings pass on according to their deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nương vào chính sự thanh tịnh vô thượng của xả và niệm này, bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài người, Thánh đệ tử thấy các hữu tình chết đi và tái sinh, thấp kém hay cao quý, đẹp hay xấu, đến cảnh giới tốt hay xấu, … và hiểu họ đi theo nghiệp của mình.
ayamassa dutiyābhinibbhidā hoti kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā.
This is their second breaking out, like a chick from an eggshell.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là lần phá vỏ thứ hai của vị ấy, như gà con phá vỏ trứng.
Sa kho so, mahānāma, ariyasāvako imaṁyeva anuttaraṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ āgamma āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati,
Relying on this supreme purity of mindfulness and equanimity, that noble disciple realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nương vào chính sự thanh tịnh vô thượng của xả và niệm này, do các lậu hoặc đã tận, Thánh đệ tử tự mình trực tiếp biết và chứng ngộ ngay trong hiện tại tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát, rồi an trú trong đó.
ayamassa tatiyābhinibbhidā hoti kukkuṭacchāpakasseva aṇḍakosamhā.
This is their third breaking out, like a chick from an eggshell.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là lần phá vỏ thứ ba của vị ấy, như gà con phá vỏ trứng.
Yampi, mahānāma, ariyasāvako sīlasampanno hoti, idampissa hoti caraṇasmiṁ;
A noble disciple’s conduct includes the following: being accomplished in ethics,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Mahānāma, việc Thánh đệ tử thành tựu giới hạnh thuộc về hạnh của vị ấy;
yampi, mahānāma, ariyasāvako indriyesu guttadvāro hoti, idampissa hoti caraṇasmiṁ;
guarding the sense doors,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
việc hộ trì các cửa giác quan thuộc về hạnh của vị ấy;
yampi, mahānāma, ariyasāvako bhojane mattaññū hoti, idampissa hoti caraṇasmiṁ;
moderation in eating,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
việc biết tiết độ trong ăn uống thuộc về hạnh của vị ấy;
yampi, mahānāma, ariyasāvako jāgariyaṁ anuyutto hoti, idampissa hoti caraṇasmiṁ;
being dedicated to wakefulness,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
việc chuyên cần tỉnh thức thuộc về hạnh của vị ấy;
yampi, mahānāma, ariyasāvako sattahi saddhammehi samannāgato hoti, idampissa hoti caraṇasmiṁ;
having seven good qualities,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
việc có bảy thiện pháp thuộc về hạnh của vị ấy;
yampi, mahānāma, ariyasāvako catunnaṁ jhānānaṁ ābhicetasikānaṁ diṭṭhadhammasukhavihārānaṁ nikāmalābhī hoti akicchalābhī akasiralābhī, idampissa hoti caraṇasmiṁ.
and getting the four absorptions when they want, without trouble or difficulty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
việc tùy ý đạt bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, là những an trú lạc trong hiện tại, không khó khăn, không nhọc nhằn, cũng thuộc về hạnh của vị ấy.
Yañca kho, mahānāma, ariyasāvako anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, idampissa hoti vijjāya;
A noble disciple’s knowledge includes the following: recollecting their past lives,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc Thánh đệ tử nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, một đời, hai đời … với các nét và chi tiết, thuộc về minh của vị ấy;
yampi, mahānāma, ariyasāvako dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti, idampissa hoti vijjāya.
clairvoyance that is purified and superhuman,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
việc bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài người thấy các hữu tình chết đi và tái sinh, thấp kém hay cao quý, đẹp hay xấu, đến cảnh giới tốt hay xấu … và hiểu họ đi theo nghiệp của mình, thuộc về minh của vị ấy;
Yampi, mahānāma, ariyasāvako āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati, idampissa hoti vijjāya.
and realizing the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
việc do các lậu hoặc đã tận, tự mình trực tiếp biết và chứng ngộ ngay trong hiện tại tâm giải thoát không lậu hoặc và tuệ giải thoát, rồi an trú trong đó, thuộc về minh của vị ấy.
Ayaṁ vuccati, mahānāma, ariyasāvako vijjāsampanno itipi caraṇasampanno itipi vijjācaraṇasampanno itipi.
This noble disciple is said to be ‘accomplished in knowledge’, and also ‘accomplished in conduct’, and also ‘accomplished in knowledge and conduct’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Mahānāma, Thánh đệ tử này được gọi là ‘đầy đủ minh’, cũng được gọi là ‘đầy đủ hạnh’, và cũng được gọi là ‘đầy đủ minh và hạnh’.
Brahmunāpesā, mahānāma, sanaṅkumārena gāthā bhāsitā:
And the divinity Sanaṅkumāra also spoke this verse:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Phạm thiên Sanaṅkumāra cũng từng nói bài kệ này:
‘Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
‘The aristocrat is best among people
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sát-đế-lỵ là cao nhất giữa những người
ye gottapaṭisārino;
who take clan as the standard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lấy dòng họ làm chuẩn;
Vijjācaraṇasampanno,
But one accomplished in knowledge and conduct
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng người đầy đủ minh và hạnh
so seṭṭho devamānuse’ti.
is best among gods and humans.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là cao nhất giữa trời và người.’
Sā kho panesā, mahānāma, brahmunā sanaṅkumārena gāthā sugītā no duggītā, subhāsitā no dubbhāsitā, atthasaṁhitā no anatthasaṁhitā, anumatā bhagavatā”ti.
And that verse was well sung by the Divinity Sanaṅkumāra, not poorly sung; well spoken, not poorly spoken, beneficial, not harmful, and it was approved by the Buddha.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Mahānāma, bài kệ ấy của Phạm thiên Sanaṅkumāra được hát hay, không phải hát dở; được nói khéo, không phải nói vụng; có lợi ích, không phải vô ích; và được Đức Phật chấp thuận.”
Atha kho bhagavā uṭṭhahitvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
Then the Buddha got up and said to Venerable Ānanda,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật ngồi dậy và nói với Tôn giả Ānanda:
“sādhu sādhu, ānanda,
“Good, good, Ānanda!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tốt lắm, tốt lắm, Ānanda!
sādhu kho tvaṁ, ānanda, kāpilavatthavānaṁ sakyānaṁ sekhaṁ pāṭipadaṁ abhāsī”ti.
It’s good that you spoke to the Sakyans of Kapilavatthu about the practicing trainee.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật tốt khi ông nói với những người Sākya ở Kapilavatthu về con đường thực hành của bậc hữu học.”
Idamavocāyasmā ānando.
That is what Venerable Ānanda said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda đã nói như vậy.
Samanuñño satthā ahosi.
and the Teacher concurred.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Đạo Sư đồng thuận.
Attamanā kāpilavatthavā sakyā āyasmato ānandassa bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the Sakyans of Kapilavatthu approved what Venerable Ānanda said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những người Sākya ở Kapilavatthu hoan hỷ và tán đồng lời Tôn giả Ānanda.
Sekhasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Hữu Học kết thúc, bài thứ ba.