← Kinh Trung Bộ

MN147 · Majjhima Nikāya

Tiểu Kinh Giáo Hóa Rāhula

Cūḷarāhulovādasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Đức Phật ở gần Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Trong lúc độc cư thiền tịnh, Ngài nghĩ rằng các pháp tu tập hướng đến giải thoát của Rāhula đã chín muồi, nên hãy dẫn Rāhula đoạn tận các lậu hoặc xa hơn. Sau khi khất thực, Ngài gọi Rāhula mang tọa cụ cùng đi rừng Andha nghỉ trưa; nhiều ngàn chư thiên theo sau, nghĩ rằng hôm nay Đức Phật sẽ dẫn Rāhula đoạn tận các lậu hoặc xa hơn. Dưới gốc cây, Đức Phật bắt đầu hỏi.

Đức Phật hỏi Rāhula: mắt có vô thường không, cái vô thường là khổ hay lạc, và cái vô thường khổ có tính biến đổi có nên xem là của ta, là ta, là ngã của ta không; Rāhula đáp lần lượt vô thường, khổ, không phải vậy. Câu hỏi được lặp lại cho các sắc, thức mắt, xúc mắt, và cái gì do duyên xúc mắt khởi lên thuộc về thọ, tưởng, các hành, thức; rồi tiếp tục cho các môn còn lại từ tai đến ý, với đối tượng, thức, xúc và các pháp do duyên xúc ý khởi lên thuộc về thọ, tưởng, các hành, thức.

Đức Phật kết luận: thấy như vậy, Thánh đệ tử nhàm chán với mắt, các sắc, thức mắt, xúc mắt, và với cái do duyên xúc mắt khởi lên thuộc về thọ, tưởng, các hành, thức; lặp lại cho từng môn cho đến ý. Nhàm chán thì ly tham; ly tham thì giải thoát; khi đã giải thoát, trí đã giải thoát khởi lên: sinh đã tận, đời phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa. Trong khi bài phân giải đang được thuyết, tâm Rāhula không chấp thủ mà được giải thoát khỏi các lậu hoặc, và trong mấy ngàn chư thiên ấy, mắt pháp thanh sạch, không bụi bẩn được sinh khởi với lời: phàm cái gì có tính sanh, tất cả đều có tính diệt.

Bài kinh đặt đúng vào thời điểm Rāhula đã chín muồi về tu tập: toàn bộ lời hỏi đáp dẫy trên sáu môn, dẫn từ sự vô thường của từng món đến sự nhàm chán, ly tham, giải thoát, và kết quả là đôi nơi cùng chứng: Rāhula giải thoát khỏi các lậu hoặc, chư thiên thấy pháp.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 399 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: db507fe5-70c4-4db2-8b3b-e61ea49932c7 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 6a217c64b3481449d0e1c01474e2abafb37c3b9f822ec02e1f6e6351fe120c8f

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 399 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: cea40d2b-8b7f-416a-b74b-75687c48bcb9 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 6a217c64b3481449d0e1c01474e2abafb37c3b9f822ec02e1f6e6351fe120c8f

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 399 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 1f4f8922-f9ec-4cf3-8ac7-b857e9effa9c · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4e46817273be95106ba0b42b22b7a36a183b6c98dccdea30fc428e34649e70c6

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 115 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: b0cc2eb5-6da3-4bb5-861c-81a530f5e676 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4a0992111beb07c54b5f02e9df8f308878a6f4bc2404ef4cbe954d889443a6ac

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 115 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 76b0d3e6-a203-483a-bbe9-01ebe072c3ba · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4a0992111beb07c54b5f02e9df8f308878a6f4bc2404ef4cbe954d889443a6ac

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 115 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 08cc780f-c508-46b3-9323-f110a603885a · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: d03bd73e1085c3910775e3b5e91c3eca22c39dcb72fc857855c25e50b2a06c4c

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

115/115 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

111/115 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

115/115 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 147
Middle Discourses 147
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 147
Cūḷarāhulovādasutta
The Shorter Advice to Rāhula
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tiểu Kinh Giáo Hóa Rāhula
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Atha kho bhagavato rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
Then as he was in private retreat this thought came to his mind,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật, trong lúc độc cư thiền tịnh, khởi lên suy nghĩ như vầy:
“paripakkā kho rāhulassa vimuttiparipācanīyā dhammā.
“The qualities that ripen in freedom have ripened in Rāhula.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các pháp tu tập hướng đến giải thoát của Rāhula đã chín muồi.
Yannūnāhaṁ rāhulaṁ uttariṁ āsavānaṁ khaye vineyyan”ti.
Why don’t I lead him further to the ending of defilements?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ta hãy dẫn Rāhula đoạn tận các lậu hoặc xa hơn.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật buổi sáng đắp y, cầm bát và y ngoài, đi vào Sāvatthī khất thực.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto āyasmantaṁ rāhulaṁ āmantesi:
Then, after the meal, on his return from almsround, he addressed Venerable Rāhula,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, trên đường trở về sau khất thực, sau bữa ăn, Ngài gọi Tôn giả Rāhula:
“gaṇhāhi, rāhula, nisīdanaṁ;
“Rāhula, get your sitting cloth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Rāhula, hãy mang tọa cụ;
yena andhavanaṁ tenupasaṅkamissāma divāvihārāyā”ti.
Let’s go to the Dark Forest for the day’s meditation.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chúng ta hãy đến rừng Andha để nghỉ trưa.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā rāhulo bhagavato paṭissutvā nisīdanaṁ ādāya bhagavantaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi.
“Yes, sir,” replied Rāhula. Taking his sitting cloth he followed behind the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Rāhula vâng đáp Đức Phật, mang tọa cụ, đi theo sát sau Đức Phật.
Tena kho pana samayena anekāni devatāsahassāni bhagavantaṁ anubandhāni honti:
Now at that time many thousands of deities followed the Buddha, thinking,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc bấy giờ, nhiều ngàn chư thiên đang theo sau Đức Phật, nghĩ rằng:
“ajja bhagavā āyasmantaṁ rāhulaṁ uttariṁ āsavānaṁ khaye vinessatī”ti.
“Today the Buddha will lead Rāhula further to the ending of defilements!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Hôm nay Đức Phật sẽ dẫn Tôn giả Rāhula đoạn tận các lậu hoặc xa hơn!”
Atha kho bhagavā andhavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle paññatte āsane nisīdi.
Then the Buddha plunged deep into the Dark Forest and sat at the root of a tree on the seat spread out.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật đi sâu vào rừng Andha, ngồi xuống trên chỗ đã soạn dưới gốc một cây.
Āyasmāpi kho rāhulo bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Rāhula bowed to the Buddha and sat down to one side.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Rāhula đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ rāhulaṁ bhagavā etadavoca:
The Buddha said to him:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngồi xuống một bên, Đức Phật nói với Tôn giả Rāhula:
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
“What do you think, Rāhula?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula,
cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Is the eye permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
“What do you think, Rāhula?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula,
rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
Are sights permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các sắc là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
“What do you think, Rāhula?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula,
cakkhuviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Is eye consciousness permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
“What do you think, Rāhula?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula,
cakkhusamphasso nicco vā anicco vā”ti?
Is eye contact permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xúc mắt là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
“What do you think, Rāhula?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula,
yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on eye contact: is that permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái gì do duyên xúc mắt khởi lên thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về các hành, thuộc về thức — cái đó là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, sotaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“What do you think, Rāhula? Is the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula, tai là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn …
ghānaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mũi là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn …
jivhā niccā vā aniccā vā”ti?
tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lưỡi là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn …
kāyo nicco vā anicco vā”ti?
body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thân là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn …
mano nicco vā anicco vā”ti?
mind permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ý là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, dhammā niccā vā aniccā vā”ti?
“What do you think, Rāhula? Are ideas permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula, các pháp là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, manoviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“What do you think, Rāhula? Is mind consciousness permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula, thức ý là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi rāhula, manosamphasso nicco vā anicco vā”ti?
“What do you think, Rāhula? Is mind contact permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula, xúc ý là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Taṁ kiṁ maññasi, rāhula,
“What do you think, Rāhula?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông nghĩ sao, này Rāhula,
yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ, tampi niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on mind contact: is that permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái gì do duyên xúc ý khởi lên thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về các hành, thuộc về thức — cái đó là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Thế Tôn.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Thế Tôn.”
“Evaṁ passaṁ, rāhula, sutavā ariyasāvako cakkhusmiṁ nibbindati, rūpesu nibbindati, cakkhuviññāṇe nibbindati, cakkhusamphasse nibbindati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ tasmimpi nibbindati.
“Seeing this, a learned noble disciple grows disillusioned with the eye, sights, eye consciousness, and eye contact. And they grow disillusioned with anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on eye contact.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thấy như vậy, này Rāhula, Thánh đệ tử nhàm chán với mắt, nhàm chán với các sắc, nhàm chán với thức mắt, nhàm chán với xúc mắt; và nhàm chán với cái gì do duyên xúc mắt khởi lên thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về các hành, thuộc về thức.
Sotasmiṁ nibbindati, saddesu nibbindati …pe…
They grow disillusioned with the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhàm chán với tai, nhàm chán với các tiếng …
ghānasmiṁ nibbindati, gandhesu nibbindati …
nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mũi, các hương …
jivhāya nibbindati, rasesu nibbindati …
tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lưỡi, các vị …
kāyasmiṁ nibbindati, phoṭṭhabbesu nibbindati …
body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thân, các xúc …
manasmiṁ nibbindati, dhammesu nibbindati, manoviññāṇe nibbindati, manosamphasse nibbindati, yamidaṁ manosamphassapaccayā uppajjati vedanāgataṁ saññāgataṁ saṅkhāragataṁ viññāṇagataṁ tasmimpi nibbindati.
mind, ideas, mind consciousness, and mind contact. And they grow disillusioned with anything included in feeling, perception, choices, and consciousness that arises dependent on mind contact.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhàm chán với ý, với các pháp, với thức ý, với xúc ý; và nhàm chán với cái gì do duyên xúc ý khởi lên thuộc về thọ, thuộc về tưởng, thuộc về các hành, thuộc về thức.
Nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
Being disillusioned, desire fades away. When desire fades away they’re freed. When they’re freed, they know they’re freed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhàm chán thì ly tham; ly tham thì giải thoát. Khi đã giải thoát, trí đã giải thoát khởi lên.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sinh đã tận, đời phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’ Vị ấy biết như vậy.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamano āyasmā rāhulo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Rāhula approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tán đồng lời Đức Phật dạy.
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne āyasmato rāhulassa anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
And while this discourse was being spoken, Rāhula’s mind was freed from defilements by not grasping.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và trong khi bài phân giải này đang được thuyết, tâm của Tôn giả Rāhula không chấp thủ mà được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Tāsañca anekānaṁ devatāsahassānaṁ virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
And the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in those thousands of deities:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và trong mấy ngàn chư thiên ấy, mắt pháp thanh sạch, không bụi, không bụi bẩn đã được sinh khởi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
“Everything that is liable to arise is liable to cease.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Phàm cái gì có tính sanh, tất cả đều có tính diệt.”
Cūḷarāhulovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ pañcamaṁ.
The Shorter Advice to Rāhula is finished—the fifth.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tiểu Kinh Giáo Hóa Rāhula, bài thứ năm, kết thúc.