← Kinh Trung Bộ

MN146 · Majjhima Nikāya

Kinh Giáo Hóa Nandaka

Nandakovādasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Đức Phật ở gần Sāvatthī. Đại ái đạo Gotamī cùng khoảng năm trăm tỳ-kheo ni xin Đức Phật giáo hóa; khi đó các tỳ-kheo trưởng lão thay phiên giáo hóa các tỳ-kheo ni, nhưng Nandaka không muốn nhận phiên mình, nên Đức Phật bảo Ngài hãy thuyết pháp cho các tỳ-kheo ni. Sáng hôm sau, sau khi khất thực, Nandaka đến vườn quốc vương, mở đầu bằng thể thức hỏi đáp.

Nandaka hỏi lần lượt: mắt và các môn kia, cái vô thường là khổ hay lạc, và cái vô thường khổ biến đổi có nên xem là của ta, là ta, là ngã của ta không; các tỳ-kheo ni đáp không, vì đã thấy rõ bằng chánh tuệ rằng sáu nội xứ vô thường. Cùng thể thức ấy được lặp lại cho sáu ngoại xứ và sáu thức thân.

Tiếp đó là các ví: ngọn đèn dầu đang cháy, dầu, tim đèn, ngọn lửa đều vô thường, ánh sáng không thể thường; vậy khi sáu nội xứ vô thường, những lạc khổ cảm nhận nhờ đó không thể thường, vì do duyên từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy khởi lên. Ví cây lớn có lõi cũng vậy cho sáu ngoại xứ. Ví người mổ bò xẻ con bò bằng dao sắc: lớp thịt bên trong là sáu nội xứ, lớp da bên ngoài là sáu ngoại xứ, thịt mỏn gân dây ràng buộc ở giữa là tham ái hoan hỉ, dao mổ sắc là Thánh tuệ cắt lọc sạch các cấu nhiễm, kiết sử ở giữa.

Kết bài giáo hóa là bảy giác chi, từ niệm giác chi đến xả giác chi, mỗi chi đều nương vào viễn ly, ly tham, đoạn diệt, hướng về buông bỏ; nhờ tu tập và tăng trưởng, vị tỳ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, chứng và an trú tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát vô lậu. Đức Phật nhận xét các tỳ-kheo ni ấy hoan hỷ với pháp thuyết của Nandaka nhưng chưa đạt đến ý nguyện đầy đủ, như mặt trăng ngày rằm được biết là khuyết, và bảo Nandaka mai dạy lại lời giáo hóa ấy.

Ngày sau, Nandaka lặp lại trọn vẹn bài giáo hóa như trước. Lần này Đức Phật nói: như mặt trăng ngày rằm được biết là tròn, các tỳ-kheo ni ấy hoan hỷ với pháp thuyết của Nandaka và đã đạt đến ý nguyện đầy đủ; trong năm trăm tỳ-kheo ni, tỳ-kheo ni cuối cùng cũng là bậc Dự lưu, không chịu đọa lạc, hướng đến chánh giác. Hai buổi dạy kề nhau như trăng khuyết và trăng tròn: nền là sự thấy rõ sáu nội xứ, ngoại xứ, thức thân vô thường, và Thánh tuệ cắt lọc tham ái cho đến quả Dự lưu của người cuối cùng.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 467 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: eb47ca27-48e8-4ec8-ab68-3ab2fa2fef1b · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 1c61da2f929717a4011e26736b2f77db6905e3d6a9761ce07bc6ff422de55f58

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 467 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 3e06fad1-b479-41af-81b9-5135cad9b381 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 1c61da2f929717a4011e26736b2f77db6905e3d6a9761ce07bc6ff422de55f58

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 467 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 30f4c14e-81fd-4d0e-af20-a7cdba11e286 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: c0c665122fa6561579a0cd6f296b690965c75e3c0eb21eb7451c26054645fd40

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 467 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 0cd1f730-507b-49b4-9cf0-fe769e87d4c9 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f71030f74443f2da1635e9d187352387f056f911a213ffa79bb2b71b5bcbee32

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 361 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 3fb85fd1-d6c6-43ee-abb5-dad6d5d430e7 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 59993fe2f0b82e05ceb2a10b3e8aee9de537f25d09c9e890b1b55391a2501ad2

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 361 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 35c4811e-a8e0-4dfc-b0d8-f64ac44290ce · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 59993fe2f0b82e05ceb2a10b3e8aee9de537f25d09c9e890b1b55391a2501ad2

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 361 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 59f8591b-b191-4c49-a946-e1dc9384655e · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 653b54632b98ea9f911a51f3b8cfe01a85fcbd1bccfb24e9a645d5aed59ccfc9

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 361 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: de63d6e0-c15a-4c67-9931-bd54686d5af8 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: d2046846b84f691fc4128ec59ca4a2754e47d87d5c3a3129ad3671bf4bd9e4b6

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

361/361 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

183/361 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

361/361 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 146
Middle Discourses 146
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 146
Nandakovādasutta
Advice from Nandaka
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Giáo Hóa Nandaka
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở gần Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Atha kho mahāpajāpatigotamī pañcamattehi bhikkhunisatehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho mahāpajāpatigotamī bhagavantaṁ etadavoca:
Then Mahāpajāpati Gotamī together with around five hundred nuns approached the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đại ái đạo Gotamī cùng với khoảng năm trăm tỳ-kheo ni đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật rồi đứng xuống một bên. Đứng xuống một bên, Đại ái đạo Gotamī thưa với Đức Phật:
“ovadatu, bhante, bhagavā bhikkhuniyo;
“Sir, may the Buddha please advise
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, mong Đức Phật giáo hóa các tỳ-kheo ni;
anusāsatu, bhante, bhagavā bhikkhuniyo;
and instruct the nuns.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bạch Thế Tôn, mong Đức Phật huấn dạy các tỳ-kheo ni;
karotu, bhante, bhagavā bhikkhunīnaṁ dhammiṁ kathan”ti.
Please give the nuns a Dhamma talk.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bạch Thế Tôn, mong Đức Phật thuyết pháp cho các tỳ-kheo ni.”
Tena kho pana samayena therā bhikkhū bhikkhuniyo ovadanti pariyāyena.
Now at that time the senior monks were taking turns to advise the nuns.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc bấy giờ, các tỳ-kheo trưởng lão thay phiên giáo hóa các tỳ-kheo ni.
Āyasmā nandako na icchati bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyena.
But Venerable Nandaka didn’t want to take his turn.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Nandaka không muốn thay phiên giáo hóa các tỳ-kheo ni.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
Then the Buddha said to Venerable Ānanda,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật gọi Tôn giả Ānanda:
“kassa nu kho, ānanda, ajja pariyāyo bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyenā”ti?
“Ānanda, whose turn is it to advise the nuns today?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, nay đến phiên ai giáo hóa các tỳ-kheo ni?”
“Sabbeheva, bhante, kato pariyāyo bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyena.
“It’s Nandaka’s turn, sir,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, đến phiên tất cả mọi người giáo hóa các tỳ-kheo ni.
Ayaṁ, bhante, āyasmā nandako na icchati bhikkhuniyo ovadituṁ pariyāyenā”ti.
but he doesn’t want to do it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Nandaka này không muốn thay phiên giáo hóa các tỳ-kheo ni.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nandakaṁ āmantesi:
Then the Buddha said to Nandaka,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật gọi Tôn giả Nandaka:
“ovada, nandaka, bhikkhuniyo;
“Nandaka, please advise
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Nandaka, hãy giáo hóa các tỳ-kheo ni;
anusāsa, nandaka, bhikkhuniyo;
and instruct the nuns.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này Nandaka, hãy huấn dạy các tỳ-kheo ni.
karohi tvaṁ, brāhmaṇa, bhikkhunīnaṁ dhammiṁ kathan”ti.
Please, brahmin, give the nuns a Dhamma talk.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này bậc Bà-la-môn, hãy thuyết pháp cho các tỳ-kheo ni.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā nandako bhagavato paṭissutvā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
“Yes, sir,” replied Nandaka. Then, in the morning, he robed up and, taking his bowl and robe, entered Sāvatthī for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vâng, bạch Ngài”, Tôn giả Nandaka vâng đáp Đức Phật. Buổi sáng, vị ấy đắp y, cầm bát và y ngoài, đi vào Sāvatthī khất thực.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto attadutiyo yena rājakārāmo tenupasaṅkami.
He wandered for alms in Sāvatthī. After the meal, on his return from almsround, he went to the Royal Monastery with a companion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, trên đường trở về sau khất thực, sau bữa ăn, vị ấy đi đến vườn quốc vương cùng với một vị đồng hành.
Addasaṁsu kho tā bhikkhuniyo āyasmantaṁ nandakaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Those nuns saw him coming off in the distance,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các tỳ-kheo ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi đến.
Disvāna āsanaṁ paññāpesuṁ, udakañca pādānaṁ upaṭṭhapesuṁ.
so they spread out a seat and placed water for washing the feet.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy vậy, các vị ấy soạn chỗ ngồi và đặt nước rửa chân.
Nisīdi kho āyasmā nandako paññatte āsane.
Nandaka sat down on the seat spread out,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Nandaka ngồi xuống trên chỗ đã soạn,
Nisajja pāde pakkhālesi.
and washed his feet.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và ngồi xuống rồi, vị ấy rửa chân.
Tāpi kho bhikkhuniyo āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Those nuns bowed, and sat down to one side.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các tỳ-kheo ni ấy đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmā nandako etadavoca:
Nandaka said to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với các tỳ-kheo ni ấy:
“paṭipucchakathā kho, bhaginiyo, bhavissati.
“Sisters, this talk shall be in the form of questions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các đạo sĩ, sẽ là cuộc đàm luận hỏi đáp.
Tattha ājānantīhi: ‘ājānāmā’ tissa vacanīyaṁ, na ājānantīhi: ‘na ājānāmā’ tissa vacanīyaṁ.
When you understand, say so. When you don’t understand, say so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong đó, ai hiểu rõ thì hãy thưa ‘con hiểu rõ’; ai không hiểu rõ thì hãy thưa ‘con không hiểu rõ.’
Yassā vā panassa kaṅkhā vā vimati vā ahameva tattha paṭipucchitabbo:
If anyone has a doubt or uncertainty, ask me about it:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai còn hoài nghi hay ngờ vực, hãy hỏi tôi:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ; imassa kvattho’”ti?
‘Why, sir, does it say this? What does that mean?’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Ngài, đoạn này nghĩa thế nào; ý nghĩa của đoạn ấy là gì?’”
“Ettakenapi mayaṁ, bhante, ayyassa nandakassa attamanā abhiraddhā yaṁ no ayyo nandako pavāretī”ti.
“We’re already delighted and satisfied with Master Nandaka, since he invites us like this.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Chỉ với điều ấy, bạch Thế Tôn, chúng tôi đã hoan hỷ, ưng thuận với Tôn giả Nandaka: Tôn giả Nandaka cho phép chúng tôi hỏi như vậy.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo,
“What do you think, sisters?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ,
cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Is the eye permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo,
“What do you think, sisters?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ,
sotaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Is the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tai là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
ghānaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mũi là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“jivhā niccā vā aniccā vā”ti?
tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“lưỡi là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“kāyo nicco vā anicco vā”ti?
body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“thân là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“mano nicco vā anicco vā”ti?
mind permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“ý là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ:
Because we have already truly seen this with right wisdom:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì trước đây chúng tôi đã thấy rõ điều này bằng chánh tuệ:
‘itipime cha ajjhattikā āyatanā aniccā’”ti.
‘So these six interior sense fields are impermanent.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘như vậy là sáu nội xứ này vô thường’.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
“Good, good, sisters!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo,
What do you think, sisters?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ,
rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
Are sights permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các sắc là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo,
“What do you think, sisters?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ,
saddā niccā vā aniccā vā”ti?
Are sounds …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các tiếng là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
gandhā niccā vā aniccā vā”ti?
smells …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các hương là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“rasā niccā vā aniccā vā”ti?
tastes …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“các vị là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“phoṭṭhabbā niccā vā aniccā vā”ti?
touches …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“các xúc là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“dhammā niccā vā aniccā vā”ti?
ideas permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“các pháp là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“But if they’re impermanent, are they suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if they’re impermanent, suffering, and perishable, are they fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ:
Because we have already truly seen this with right wisdom:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì trước đây chúng tôi đã thấy rõ điều này bằng chánh tuệ:
‘itipime cha bāhirā āyatanā aniccā’”ti.
‘So these six exterior sense fields are impermanent.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘như vậy là sáu ngoại xứ này vô thường’.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
“Good, good, sisters!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo,
What do you think, sisters?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ,
cakkhuviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Is eye consciousness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, sotaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
ear consciousness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ, thức tai là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
ghānaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
nose consciousness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức mũi là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“jivhāviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
tongue consciousness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“thức lưỡi là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“kāyaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
body consciousness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“thức thân là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante” …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài” …
“manoviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
mind consciousness permanent or impermanent?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“thức ý là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
“Impermanent, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vāti”?
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Suffering, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ:
Because we have already truly seen this with right wisdom:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì trước đây chúng tôi đã thấy rõ điều này bằng chánh tuệ:
‘itipime cha viññāṇakāyā aniccā’”ti.
‘So these six classes of consciousness are impermanent.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘như vậy là sáu thức thân này vô thường’.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
“Good, good, sisters!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Seyyathāpi, bhaginiyo, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā, ābhāpi aniccā vipariṇāmadhammā.
Suppose there was an oil lamp burning. The oil, wick, flame, and light were all impermanent and perishable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các đạo sĩ, ví như ngọn đèn dầu đang cháy: dầu cũng vô thường có tính biến đổi, tim đèn cũng vô thường có tính biến đổi, ngọn lửa cũng vô thường có tính biến đổi, ánh sáng cũng vô thường có tính biến đổi.
Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya:
Now, suppose someone was to say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai trong các đạo sĩ nói như vầy:
‘amussa telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā;
‘While this oil lamp is burning, the oil, the wick, and the flame are all impermanent and perishable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘ngọn đèn dầu đang cháy ấy, dầu cũng vô thường có tính biến đổi, tim đèn cũng vô thường có tính biến đổi, ngọn lửa cũng vô thường có tính biến đổi;
yā ca khvāssa ābhā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti;
But the light is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn ánh sáng của đèn ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Would they be speaking rightly?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Amussa hi, bhante, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā;
Because that oil lamp’s oil, wick, and flame are all impermanent and perishable,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì ngọn đèn dầu đang cháy ấy, này các đạo sĩ, dầu cũng vô thường có tính biến đổi, tim đèn cũng vô thường có tính biến đổi, ngọn lửa cũng vô thường có tính biến đổi;
pagevassa ābhā aniccā vipariṇāmadhammā”ti.
let alone the light.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
huống chi ánh sáng của đèn ấy cũng vô thường có tính biến đổi.”
“Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya:
“In the same way, suppose someone was to say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này các đạo sĩ, ai nói như vầy:
‘cha khome ajjhattikā āyatanā aniccā;
‘These six interior sense fields are impermanent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘sáu nội xứ này vô thường;
yañca kho cha ajjhattike āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti;
But the feeling—whether pleasant, painful, or neutral—that I experience due to these six interior sense fields is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn những lạc khổ hay không khổ không lạc được cảm nhận nhờ sáu nội xứ ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Would they be speaking rightly?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti.
Because each kind of feeling arises dependent on the corresponding condition.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Do duyên từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy khởi lên.
Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti.
When the corresponding condition ceases, the appropriate feeling ceases.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với sự đoạn diệt của từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy đoạn diệt.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
“Good, good, sisters!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Seyyathāpi, bhaginiyo, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, chāyāpi aniccā vipariṇāmadhammā.
Suppose there was a large tree standing with heartwood. The roots, trunk, branches and leaves, and shadow were all impermanent and perishable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các đạo sĩ, ví như cây lớn đang đứng có lõi: gốc cũng vô thường có tính biến đổi, thân cũng vô thường có tính biến đổi, cành lá cũng vô thường có tính biến đổi, bóng mát cũng vô thường có tính biến đổi.
Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya:
Now, suppose someone was to say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai trong các đạo sĩ nói như vầy:
‘amussa mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, yā ca khvāssa chāyā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti;
‘There’s a large tree standing with heartwood. The roots, trunk, and branches and leaves are all impermanent and perishable. But the shadow is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘cây lớn đang đứng có lõi ấy, gốc cũng vô thường có tính biến đổi, thân cũng vô thường có tính biến đổi, cành lá cũng vô thường có tính biến đổi; còn bóng mát của cây ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Would they be speaking rightly?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Amussa hi, bhante, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ;
Because that large tree’s roots, trunk, and branches and leaves are all impermanent and perishable,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì cây lớn đang đứng có lõi ấy, này các đạo sĩ, gốc cũng vô thường có tính biến đổi, thân cũng vô thường có tính biến đổi, cành lá cũng vô thường có tính biến đổi;
pagevassa chāyā aniccā vipariṇāmadhammā”ti.
let alone the shadow.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
huống chi bóng mát của cây ấy cũng vô thường có tính biến đổi.”
“Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya:
“In the same way, suppose someone was to say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này các đạo sĩ, ai nói như vầy:
‘cha khome bāhirā āyatanā aniccā.
‘These six exterior sense fields are impermanent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘sáu ngoại xứ này vô thường.
Yañca kho cha bāhire āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti;
But the feeling—whether pleasant, painful, or neutral—that I experience due to these six exterior sense fields is permanent, lasting, eternal, and imperishable.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn những lạc khổ hay không khổ không lạc được cảm nhận nhờ sáu ngoại xứ ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Would they be speaking rightly?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti.
Because each kind of feeling arises dependent on the corresponding condition.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Do duyên từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy khởi lên.
Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti.
When the corresponding condition ceases, the appropriate feeling ceases.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với sự đoạn diệt của từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy đoạn diệt.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
“Good, good, sisters!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
That’s how it is for a noble disciple who truly sees with right wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Seyyathāpi, bhaginiyo, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ.
Suppose a deft butcher or their apprentice, having killed a cow, were to carve it with a sharp meat cleaver, without damaging the flesh inside or the hide outside.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các đạo sĩ, ví như người mổ bò khéo léo hay học trò của người mổ bò, sau khi giết con bò, dùng dao mổ sắc mà xẻ con bò, đi qua lớp thịt bên trong, đi qua lớp da bên ngoài.
Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya.
They’d cut, carve, sever, and slice through each of the connecting tendons, sinews, and ligaments with a sharp meat cleaver,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ chỗ nào ở giữa có thịt mỏn, gân, dây ràng buộc, người ấy đều dùng dao mổ sắc xẻ ra, cắt ra, tách ra, lọc sạch.
Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā evaṁ vadeyya:
and then peel off the outer hide. Then they’d wrap that cow up in that very same hide and say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi xẻ, cắt, tách, lọc sạch, lắc bỏ lớp da bên ngoài, rồi lấy chính lớp da ấy che con bò lại và nói như vầy:
‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti;
‘This cow is joined to its hide just like before.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘con bò này còn gắn bó với lớp da này như trước’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Would they be speaking rightly?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Amu hi, bhante, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì người mổ bò khéo léo hay học trò của người mổ bò ấy, này các đạo sĩ, sau khi giết con bò, dùng dao mổ sắc mà xẻ con bò, đi qua lớp thịt bên trong, đi qua lớp da bên ngoài.
Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ chỗ nào ở giữa có thịt mỏn, gân, dây ràng buộc, người ấy đều dùng dao mổ sắc xẻ ra, cắt ra, tách ra, lọc sạch.
Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā kiñcāpi so evaṁ vadeyya:
Because even if they wrap that cow up in that very same hide and say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi xẻ, cắt, tách, lọc sạch, lắc bỏ lớp da bên ngoài, rồi lấy chính lớp da ấy che con bò lại, dù người ấy có nói như vầy:
‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti;
‘This cow is joined to its hide just like before,’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘con bò này còn gắn bó với lớp da này như trước’;
atha kho sā gāvī visaṁyuttā teneva cammenā”ti.
still that cow is not joined to that hide.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì con bò ấy không còn gắn bó với lớp da ấy.”
“Upamā kho me ayaṁ, bhaginiyo, katā atthassa viññāpanāya.
“I’ve made up this simile to make a point.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ví dụ này, này các đạo sĩ, Ta đã đưa ra để diễn tả ý nghĩa; và đây chính là ý nghĩa ở đây.
Ayamevettha attho;
And this is the point.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và đây chính là ý nghĩa ở đây:
‘antarā maṁsakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ;
‘The inner flesh’ is a term for the six interior sense fields.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘lớp thịt bên trong’, này các đạo sĩ, là tên gọi của sáu nội xứ;
‘bāhiro cammakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ;
‘The outer hide’ is a term for the six exterior sense fields.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘lớp da bên ngoài’, này các đạo sĩ, là tên gọi của sáu ngoại xứ;
‘antarā vilimaṁsaṁ, antarā nhāru, antarā bandhanan’ti kho, bhaginiyo, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ;
‘The connecting tendons, sinews, and ligaments’ is a term for greed and relishing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘thịt mỏn, gân, dây ràng buộc ở giữa’, này các đạo sĩ, là tên gọi của tham ái hoan hỉ;
‘tiṇhaṁ govikantanan’ti kho, bhaginiyo, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ;
‘A sharp meat cleaver’ is a term for noble wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘dao mổ sắc’, này các đạo sĩ, là tên gọi của Thánh tuệ;
yāyaṁ ariyā paññā antarā kilesaṁ antarā saṁyojanaṁ antarā bandhanaṁ sañchindati saṅkantati sampakantati samparikantati.
And it is that noble wisdom which cuts, carves, severs, and slices the connecting corruption, fetter, and bond.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chính Thánh tuệ ấy xẻ, cắt, tách, lọc sạch các cấu nhiễm, kiết sử, ràng buộc ở giữa.
Satta kho panime, bhaginiyo, bojjhaṅgā, yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Sisters, by developing and cultivating these seven awakening factors, a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này các đạo sĩ, có bảy giác chi này, nhờ tu tập và làm cho tăng trưởng mà vị tỳ-kheo nhờ đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát vô lậu.
Katame satta?
What seven?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bảy?
Idha, bhaginiyo, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
It’s when a mendicant develops the awakening factors of mindfulness,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các đạo sĩ, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, hướng về sự buông bỏ.
Dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe…
investigation of principles,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập pháp cứu xét giác chi …
vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti …
energy,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập tinh cần giác chi …
pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti …
rapture,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập hở giác chi …
passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti …
tranquility,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập khinh an giác chi …
samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti …
immersion,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập định giác chi …
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
and equanimity, which rely on seclusion, fading away, and cessation, and ripen as letting go.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập xả giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, hướng về sự buông bỏ.
Ime kho, bhaginiyo, satta bojjhaṅgā, yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
It is by developing and cultivating these seven awakening factors that a mendicant realizes the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây, này các đạo sĩ, là bảy giác chi, nhờ tu tập và làm cho tăng trưởng mà vị tỳ-kheo nhờ đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát vô lậu.”
Atha kho āyasmā nandako tā bhikkhuniyo iminā ovādena ovaditvā uyyojesi:
Then after giving this advice to the nuns, Nandaka sent them off, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi giáo hóa các tỳ-kheo ni ấy bằng lời giáo hóa này, thúc giục:
“gacchatha, bhaginiyo; kālo”ti.
“Go, sisters, it is time.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các đạo sĩ, hãy đi; đã đến giờ.”
Atha kho tā bhikkhuniyo āyasmato nandakassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho tā bhikkhuniyo bhagavā etadavoca:
And then those nuns approved and agreed with what Nandaka had said. They rose from their seats, bowed, and respectfully circled him, keeping him on their right. Then they went up to the Buddha, bowed, and stood to one side. The Buddha said to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các tỳ-kheo ni ấy, sau khi hoan hỷ tán đồng lời Tôn giả Nandaka nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, thân bên hữu hướng quanh Ngài, đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật rồi đứng xuống một bên. Đứng xuống một bên, Đức Phật nói với các tỳ-kheo ni ấy:
“gacchatha, bhikkhuniyo; kālo”ti.
“Go, nuns, it is time.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo ni, hãy đi; đã đến giờ.”
Atha kho tā bhikkhuniyo bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Then those nuns bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các tỳ-kheo ni ấy đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng quanh Ngài rồi ra đi.
Atha kho bhagavā acirapakkantīsu tāsu bhikkhunīsu bhikkhū āmantesi:
Soon after those nuns had left, the Buddha addressed the mendicants:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật, không lâu sau khi các tỳ-kheo ni ấy ra đi, gọi các vị tỳ-kheo:
“seyyathāpi, bhikkhave, tadahuposathe cātuddase na hoti bahuno janassa kaṅkhā vā vimati vā:
“Suppose, mendicants, it was the sabbath of the fourteenth day. You wouldn’t get lots of people
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, ví như vào ngày rằm bố-tát, không có sự ngờ vực của đông đảo nhân dân:
‘ūno nu kho cando, puṇṇo nu kho cando’ti, atha kho ūno cando tveva hoti.
wondering whether the moon is full or not, since it is obviously not full.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘mặt trăng là khuyết hay là tròn’ — ngay lúc ấy, mặt trăng khuyết được biết là khuyết.
Evameva kho, bhikkhave, tā bhikkhuniyo nandakassa dhammadesanāya attamanā honti no ca kho paripuṇṇasaṅkappā”ti.
In the same way, those nuns were uplifted by Nandaka’s Dhamma teaching, but they still haven’t got all they wished for.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, các tỳ-kheo ni ấy hoan hỷ với pháp thuyết của Nandaka, nhưng chưa đạt đến ý nguyện đầy đủ.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ nandakaṁ āmantesi:
Then the Buddha said to Nandaka,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật gọi Tôn giả Nandaka:
“tena hi tvaṁ, nandaka, svepi tā bhikkhuniyo tenevovādena ovadeyyāsī”ti.
“Well then, Nandaka, tomorrow you should give those nuns the same advice again.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy thì, này Nandaka, ngày mai hãy giáo hóa lại các tỳ-kheo ni ấy bằng chính lời giáo hóa ấy.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā nandako bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” Nandaka replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vâng, bạch Ngài”, Tôn giả Nandaka vâng đáp Đức Phật.
Atha kho āyasmā nandako tassā rattiyā accayena pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya sāvatthiṁ piṇḍāya pāvisi.
And the next day he went to those nuns, and all unfolded just like the previous day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi đêm ấy qua đi, buổi sáng đắp y, cầm bát và y ngoài, đi vào Sāvatthī khất thực.
Sāvatthiyaṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto attadutiyo yena rājakārāmo tenupasaṅkami.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi đi khất thực ở Sāvatthī, trên đường trở về sau khất thực, sau bữa ăn, vị ấy đi đến vườn quốc vương cùng với một vị đồng hành.
Addasaṁsu kho tā bhikkhuniyo āyasmantaṁ nandakaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các tỳ-kheo ni ấy thấy Tôn giả Nandaka từ xa đi đến.
Disvāna āsanaṁ paññāpesuṁ, udakañca pādānaṁ upaṭṭhapesuṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy vậy, các vị ấy soạn chỗ ngồi và đặt nước rửa chân.
Nisīdi kho āyasmā nandako paññatte āsane.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Nandaka ngồi xuống trên chỗ đã soạn,
Nisajja pāde pakkhālesi.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và ngồi xuống rồi, vị ấy rửa chân.
Tāpi kho bhikkhuniyo āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các tỳ-kheo ni ấy đảnh lễ Tôn giả Nandaka rồi ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinnā kho tā bhikkhuniyo āyasmā nandako etadavoca:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Nandaka nói với các tỳ-kheo ni ấy:
“paṭipucchakathā kho, bhaginiyo, bhavissati.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các đạo sĩ, sẽ là cuộc đàm luận hỏi đáp.
Tattha ājānantīhi ‘ājānāmā’ tissa vacanīyaṁ, na ājānantīhi ‘na ājānāmā’ tissa vacanīyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong đó, ai hiểu rõ thì hãy thưa ‘con hiểu rõ’; ai không hiểu rõ thì hãy thưa ‘con không hiểu rõ’.
Yassā vā panassa kaṅkhā vā vimati vā, ahameva tattha paṭipucchitabbo:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai còn hoài nghi hay ngờ vực, hãy hỏi tôi:
‘idaṁ, bhante, kathaṁ; imassa kvattho’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Ngài, đoạn này nghĩa thế nào; ý nghĩa của đoạn ấy là gì?’”
“Ettakenapi mayaṁ, bhante, ayyassa nandakassa attamanā abhiraddhā yaṁ no ayyo nandako pavāretī”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Chỉ với điều ấy, bạch Thế Tôn, chúng tôi đã hoan hỷ, ưng thuận với Tôn giả Nandaka: Tôn giả Nandaka cho phép chúng tôi hỏi như vậy.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, cakkhu niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các ngươi nghĩ sao, này các đạo sĩ, mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, sotaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các ngươi nghĩ sao, này các đạo sĩ, tai là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
ghānaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mũi là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
jivhā …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lưỡi …
kāyo …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thân …
mano nicco vā anicco vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ý là thường hay vô thường?”
“Anicco, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì trước đây chúng tôi đã thấy rõ điều này bằng chánh tuệ:
‘itipime cha ajjhattikā āyatanā aniccā’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘như vậy là sáu nội xứ này vô thường’.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, rūpā niccā vā aniccā vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ, các sắc là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, saddā niccā vā aniccā vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các ngươi nghĩ sao, này các đạo sĩ, các tiếng là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
gandhā niccā vā aniccā vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các hương là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
rasā niccā vā aniccā vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các vị là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
phoṭṭhabbā niccā vā aniccā vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các xúc là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
dhammā niccā vā aniccā vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các pháp là thường hay vô thường?”
“Aniccā, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì trước đây chúng tôi đã thấy rõ điều này bằng chánh tuệ:
‘itipime cha bāhirā āyatanā aniccā’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘như vậy là sáu ngoại xứ này vô thường’.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Taṁ kiṁ maññatha, bhaginiyo, cakkhuviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các người nghĩ sao, này các đạo sĩ, thức mắt là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
sotaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức tai là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
ghānaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức mũi là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
jivhāviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức lưỡi là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
kāyaviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức thân là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài …
manoviññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thức ý là thường hay vô thường?”
“Aniccaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vô thường, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?”
“Dukkhaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khổ, bạch Ngài.”
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cái gì vô thường, khổ, có tính biến đổi, có nên xem như vầy:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đây là của ta, ta là cái này, đây là ngã của ta’ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Pubbeva no etaṁ, bhante, yathābhūtaṁ sammappaññāya sudiṭṭhaṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì trước đây chúng tôi đã thấy rõ điều này bằng chánh tuệ:
‘itipime cha viññāṇakāyā aniccā’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘như vậy là sáu thức thân này vô thường’.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Seyyathāpi, bhaginiyo, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā, ābhāpi aniccā vipariṇāmadhammā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các đạo sĩ, ví như ngọn đèn dầu đang cháy: dầu cũng vô thường có tính biến đổi, tim đèn cũng vô thường có tính biến đổi, ngọn lửa cũng vô thường có tính biến đổi, ánh sáng cũng vô thường có tính biến đổi.
Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai trong các đạo sĩ nói như vầy:
‘amussa telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘ngọn đèn dầu đang cháy ấy, dầu cũng vô thường có tính biến đổi, tim đèn cũng vô thường có tính biến đổi, ngọn lửa cũng vô thường có tính biến đổi;
yā ca khvāssa ābhā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn ánh sáng của đèn ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Amussa hi, bhante, telappadīpassa jhāyato telampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, vaṭṭipi aniccā vipariṇāmadhammā, accipi aniccā vipariṇāmadhammā;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì ngọn đèn dầu đang cháy ấy, này các đạo sĩ, dầu cũng vô thường có tính biến đổi, tim đèn cũng vô thường có tính biến đổi, ngọn lửa cũng vô thường có tính biến đổi;
pagevassa ābhā aniccā vipariṇāmadhammā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
huống chi ánh sáng của đèn ấy cũng vô thường có tính biến đổi.”
“Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này các đạo sĩ, ai nói như vầy:
‘cha khome ajjhattikā āyatanā aniccā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘sáu ngoại xứ này vô thường.
Yañca kho cha ajjhattike āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn những lạc khổ hay không khổ không lạc được cảm nhận nhờ sáu ngoại xứ ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Do duyên từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy khởi lên.
Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với sự đoạn diệt của từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy đoạn diệt.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Seyyathāpi, bhaginiyo, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, chāyāpi aniccā vipariṇāmadhammā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các đạo sĩ, ví như cây lớn đang đứng có lõi: gốc cũng vô thường có tính biến đổi, thân cũng vô thường có tính biến đổi, cành lá cũng vô thường có tính biến đổi, bóng mát cũng vô thường có tính biến đổi.
Yo nu kho, bhaginiyo, evaṁ vadeyya:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai trong các đạo sĩ nói như vầy:
‘amussa mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘cây lớn đang đứng có lõi ấy, gốc cũng vô thường có tính biến đổi, thân cũng vô thường có tính biến đổi, cành lá cũng vô thường có tính biến đổi;
yā ca khvāssa chāyā sā niccā dhuvā sassatā avipariṇāmadhammā’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn bóng mát của cây ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Amussa hi, bhante, mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato mūlampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ, khandhopi anicco vipariṇāmadhammo, sākhāpalāsampi aniccaṁ vipariṇāmadhammaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì cây lớn đang đứng có lõi ấy, này các đạo sĩ, gốc cũng vô thường có tính biến đổi, thân cũng vô thường có tính biến đổi, cành lá cũng vô thường có tính biến đổi;
pagevassa chāyā aniccā vipariṇāmadhammā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
huống chi bóng mát của cây ấy cũng vô thường có tính biến đổi.”
“Evameva kho, bhaginiyo, yo nu kho evaṁ vadeyya:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này các đạo sĩ, ai nói như vầy:
‘cha khome bāhirā āyatanā aniccā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘sáu ngoại xứ này vô thường.
Yañca kho bāhire āyatane paṭicca paṭisaṁvedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā taṁ niccaṁ dhuvaṁ sassataṁ avipariṇāmadhamman’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn những lạc khổ hay không khổ không lạc được cảm nhận nhờ sáu ngoại xứ ấy thì thường, bền, lưu tồn, không có tính biến đổi’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Tajjaṁ tajjaṁ, bhante, paccayaṁ paṭicca tajjā tajjā vedanā uppajjanti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Do duyên từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy khởi lên.
Tajjassa tajjassa paccayassa nirodhā tajjā tajjā vedanā nirujjhantī”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với sự đoạn diệt của từng duyên cứa ấy, từng cảm thọ ấy đoạn diệt.”
“Sādhu sādhu, bhaginiyo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này các đạo sĩ.
Evañhetaṁ, bhaginiyo, hoti ariyasāvakassa yathābhūtaṁ sammappaññāya passato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là điều xảy ra cho Thánh đệ tử thấy như thật bằng chánh tuệ.
Seyyathāpi, bhaginiyo, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các đạo sĩ, ví như người mổ bò khéo léo hay học trò của người mổ bò, sau khi giết con bò, dùng dao mổ sắc mà xẻ con bò, đi qua lớp thịt bên trong, đi qua lớp da bên ngoài.
Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ chỗ nào ở giữa có thịt mỏn, gân, dây ràng buộc, người ấy đều dùng dao mổ sắc xẻ ra, cắt ra, tách ra, lọc sạch.
Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā evaṁ vadeyya:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi xẻ, cắt, tách, lọc sạch, lắc bỏ lớp da bên ngoài, rồi lấy chính lớp da ấy che con bò lại và nói như vầy:
‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘con bò này còn gắn bó với lớp da này như trước’;
sammā nu kho so, bhaginiyo, vadamāno vadeyyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy nói đúng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không phải vậy, bạch Ngài.”
“Taṁ kissa hetu”?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì sao vậy?”
“Amu hi, bhante, dakkho goghātako vā goghātakantevāsī vā gāviṁ vadhitvā tiṇhena govikantanena gāviṁ saṅkanteyya anupahacca antaraṁ maṁsakāyaṁ anupahacca bāhiraṁ cammakāyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì người mổ bò khéo léo hay học trò của người mổ bò ấy, này các đạo sĩ, sau khi giết con bò, dùng dao mổ sắc mà xẻ con bò, đi qua lớp thịt bên trong, đi qua lớp da bên ngoài.
Yaṁ yadeva tattha antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanaṁ taṁ tadeva tiṇhena govikantanena sañchindeyya saṅkanteyya sampakanteyya samparikanteyya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ chỗ nào ở giữa có thịt mỏn, gân, dây ràng buộc, người ấy đều dùng dao mổ sắc xẻ ra, cắt ra, tách ra, lọc sạch.
Sañchinditvā saṅkantitvā sampakantitvā samparikantitvā vidhunitvā bāhiraṁ cammakāyaṁ teneva cammena taṁ gāviṁ paṭicchādetvā kiñcāpi so evaṁ vadeyya:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi xẻ, cắt, tách, lọc sạch, lắc bỏ lớp da bên ngoài, rồi lấy chính lớp da ấy che con bò lại, dù người ấy có nói như vầy:
‘tathevāyaṁ gāvī saṁyuttā imināva cammenā’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘con bò này còn gắn bó với lớp da này như trước’;
atha kho sā gāvī visaṁyuttā teneva cammenā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì con bò ấy không còn gắn bó với lớp da ấy.”
“Upamā kho me ayaṁ, bhaginiyo, katā atthassa viññāpanāya ayamevettha attho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ví dụ này, này các đạo sĩ, Ta đã đưa ra để diễn tả ý nghĩa; và đây chính là ý nghĩa ở đây.
‘Antarā maṁsakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ ajjhattikānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘lớp thịt bên trong’, này các đạo sĩ, là tên gọi của sáu nội xứ;
‘bāhiro cammakāyo’ti kho, bhaginiyo, channetaṁ bāhirānaṁ āyatanānaṁ adhivacanaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘lớp da bên ngoài’, này các đạo sĩ, là tên gọi của sáu ngoại xứ;
‘antarā vilimaṁsaṁ antarā nhāru antarā bandhanan’ti kho, bhaginiyo, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘thịt mỏng, gân, dây ràng buộc ở giữa’, này các đạo sĩ, là tên gọi của tham ái hoan hỉ;
‘tiṇhaṁ govikantanan’ti kho, bhaginiyo, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘dao mổ sắc’, này các đạo sĩ, là tên gọi của Thánh tuệ;
yāyaṁ ariyā paññā antarā kilesaṁ antarā saṁyojanaṁ antarā bandhanaṁ sañchindati saṅkantati sampakantati samparikantati.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chính Thánh tuệ ấy xẻ, cắt, tách, lọc sạch các cấu nhiễm, kiết sử, ràng buộc ở giữa.
Satta kho panime, bhaginiyo, bojjhaṅgā, yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này các đạo sĩ, có bảy giác chi này, nhờ tu tập và làm cho tăng trưởng mà vị tỳ-kheo nhờ đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát vô lậu.
Katame satta?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bảy?
Idha, bhaginiyo, bhikkhu satisambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các đạo sĩ, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, hướng về sự buông bỏ.
Dhammavicayasambojjhaṅgaṁ bhāveti …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập pháp cứu xét giác chi …
vīriyasambojjhaṅgaṁ bhāveti …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập tinh cần giác chi …
pītisambojjhaṅgaṁ bhāveti …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập hở giác chi …
passaddhisambojjhaṅgaṁ bhāveti …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập khinh an giác chi …
samādhisambojjhaṅgaṁ bhāveti …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập định giác chi …
upekkhāsambojjhaṅgaṁ bhāveti vivekanissitaṁ virāganissitaṁ nirodhanissitaṁ vossaggapariṇāmiṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tu tập xả giác chi, nương vào viễn ly, nương vào ly tham, nương vào đoạn diệt, hướng về sự buông bỏ.
Ime kho, bhaginiyo, satta bojjhaṅgā yesaṁ bhāvitattā bahulīkatattā bhikkhu āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây, này các đạo sĩ, là bảy giác chi, nhờ tu tập và làm cho tăng trưởng mà vị tỳ-kheo nhờ đoạn tận các lậu hoặc, tự mình với thắng trí, chứng và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát vô lậu, tuệ giải thoát vô lậu.”
Atha kho āyasmā nandako tā bhikkhuniyo iminā ovādena ovaditvā uyyojesi:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Nandaka, sau khi giáo hóa các tỳ-kheo ni ấy bằng lời giáo hóa này, thúc giục:
“gacchatha, bhaginiyo; kālo”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các đạo sĩ, hãy đi; đã đến giờ.”
Atha kho tā bhikkhuniyo āyasmato nandakassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā āyasmantaṁ nandakaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhaṁsu. Ekamantaṁ ṭhitā kho tā bhikkhuniyo bhagavā etadavoca:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các tỳ-kheo ni ấy, sau khi hoan hỷ tán đồng lời Tôn giả Nandaka nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Tôn giả Nandaka, thân bên hữu hướng quanh Ngài, đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật rồi đứng xuống một bên. Đứng xuống một bên, Đức Phật nói với các tỳ-kheo ni ấy:
“gacchatha, bhikkhuniyo; kālo”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo ni, hãy đi; đã đến giờ.”
Atha kho tā bhikkhuniyo bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các tỳ-kheo ni ấy đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng quanh Ngài rồi ra đi.
Atha kho bhagavā acirapakkantīsu tāsu bhikkhunīsu bhikkhū āmantesi:
Soon after those nuns had left, the Buddha addressed the mendicants:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật, không lâu sau khi các tỳ-kheo ni ấy ra đi, gọi các vị tỳ-kheo:
“seyyathāpi, bhikkhave, tadahuposathe pannarase na hoti bahuno janassa kaṅkhā vā vimati vā:
“Suppose, mendicants, it was the sabbath of the fifteenth day. You wouldn’t get lots of people
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, ví như vào ngày rằm bố-tát, không có sự ngờ vực của đông đảo nhân dân:
‘ūno nu kho cando, puṇṇo nu kho cando’ti, atha kho puṇṇo cando tveva hoti;
wondering whether the moon is full or not, since it is obviously full.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘mặt trăng là khuyết hay là tròn’ — ngay lúc ấy, mặt trăng tròn được biết là tròn;
evameva kho, bhikkhave, tā bhikkhuniyo nandakassa dhammadesanāya attamanā ceva paripuṇṇasaṅkappā ca.
In the same way, those nuns were uplifted by Nandaka’s Dhamma teaching, and they got all they wished for.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, các tỳ-kheo ni ấy hoan hỷ với pháp thuyết của Nandaka và đã đạt đến ý nguyện đầy đủ.
Tāsaṁ, bhikkhave, pañcannaṁ bhikkhunisatānaṁ yā pacchimikā bhikkhunī sā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyanā”ti.
Even the last of these five hundred nuns is a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, assured, destined for awakening.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong năm trăm tỳ-kheo ni ấy, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo ni cuối cùng là bậc Dự lưu, không chịu đọa lạc, đã được quyết định, hướng đến chánh giác.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán đồng lời Đức Phật dạy.
Nandakovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Giáo Hóa Nandaka, bài thứ tư, kết thúc.