← Kinh Trung Bộ

MN111 · Majjhima Nikāya

Kinh Quán Từng Pháp Một

Anupadasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Quán Từng Pháp Một ghi lời Đức Phật dạy tại rừng Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gần Sāvatthī. Đức Phật tán dương Sāriputta là bậc hiền trí, đại trí tuệ, quảng trí tuệ, hỷ trí tuệ, nhanh trí tuệ, sắc bén và quyết trạch trí tuệ, và kể rằng trong nửa tháng, Sāriputta quán pháp tuần tự từng pháp một.

Sāriputta chứng và an trú sơ thiền, có hỷ lạc do viễn ly sinh, còn tầm và tứ; rồi nhị thiền khi tầm tứ lắng dịu, nội tâm thanh sáng; rồi tam thiền khi hỷ phai nhạt, sống xả có niệm tỉnh giác; rồi tứ thiền do đoạn bỏ lạc khổ, diệt tận hỷ ưu. Tiếp đó lần lượt vượt qua các tưởng sắc để chứng hư không vô biên xứ, rồi thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, rồi vượt qua tầng ấy để chứng diệt thọ tưởng; sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc được đoạn tận.

Ở từng tầng, các pháp có trong đó, từ tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm đến xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý, được xác định từng pháp một. Chúng được biết khi sinh khởi, an trú, biến mất; vị ấy biết: chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại; sống với các pháp ấy không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn; và biết còn sự xuất ly cao hơn nữa, nhờ làm sung mãn điều ấy mà tầng cao hơn được thành tựu. Riêng ở tầng diệt thọ tưởng, xuất định với niệm, vị ấy quán các pháp đã qua, đã diệt, đã biến đổi theo cùng công thức, nhưng biết không còn xuất ly cao hơn nữa, và sự không-có-mặt được thành tựu.

Đức Phật kết luận: ai được nói đúng đắn là đã đạt thuần thục và hoàn mãn trong giới Thánh, định Thánh, trí tuệ Thánh và giải thoát Thánh, chính là Sāriputta; và ai được nói đúng đắn là con của Đức Thế Tôn, sinh từ lòng Ngài, từ miệng Ngài, từ Pháp, được tạo bởi Pháp, trưởng tử thừa tự Pháp, không phải thừa tự vật chất, cũng chính là Sāriputta. Sāriputta đúng đắc chuyển theo vô thượng pháp luân đã được Đấng Như Lai chuyển động.

Toàn bài là một chuỗi quán tuần tự: mỗi tầng định từ sơ thiền đến diệt thọ tưởng đều được soi bằng cùng một công thức, cho đến tầng không còn xuất ly cao hơn nữa.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 441 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 828e1679-8551-4c72-b2f6-e532d355db00 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 95b28f7a7720aae845d28d38460697b826b7c77381d219a448db0ac866c5d8d4

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 441 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 73bc1a64-79fe-49bb-bdb4-2304be2f016a · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 95b28f7a7720aae845d28d38460697b826b7c77381d219a448db0ac866c5d8d4

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 441 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 619b35ef-88e0-4ff6-9a4d-797742d74140 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 05d080096d5e8bf15f7834d0e68e1f162b96faa8447464a0b1bd639f3a147186

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 97 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 6205961e-19fb-40a0-9c61-865a25f82e51 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 320376a0c7800503cb9a23e206296bf603af5f02a0a57e8145a9e6c4ffd26d58

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 97 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 4f2bdf6c-8022-4766-a741-7e25463739b0 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 320376a0c7800503cb9a23e206296bf603af5f02a0a57e8145a9e6c4ffd26d58

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 97 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: ec88e888-153a-4be4-9168-55a5678155b6 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 329556787a1ba86f31201022fbed5c0d9bb383803f3caf881cfff56c8b6ce2ae

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

97/97 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

96/97 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

97/97 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 111
Middle Discourses 111
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 111
Anupadasutta
One by One
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Quán Từng Pháp Một
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
There the Buddha addressed the mendicants,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tại đó, Đức Phật gọi các vị tỳ-kheo:
“bhikkhavo”ti.
“Mendicants!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo!”
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
“Venerable sir,” they replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn,” các vị ấy đáp.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“Paṇḍito, bhikkhave, sāriputto;
“Sāriputta is astute, mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Sāriputta là bậc hiền trí, này các tỳ-kheo;
mahāpañño, bhikkhave, sāriputto;
He has great wisdom,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sāriputta là bậc đại trí tuệ, này các tỳ-kheo;
puthupañño, bhikkhave, sāriputto;
widespread wisdom,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sāriputta là bậc quảng trí tuệ, này các tỳ-kheo;
hāsapañño, bhikkhave, sāriputto;
laughing wisdom,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sāriputta là bậc hỷ trí tuệ, này các tỳ-kheo;
javanapañño, bhikkhave, sāriputto;
swift wisdom,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sāriputta là bậc nhanh trí tuệ, này các tỳ-kheo;
tikkhapañño, bhikkhave, sāriputto;
sharp wisdom,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sāriputta là bậc sắc bén trí tuệ, này các tỳ-kheo;
nibbedhikapañño, bhikkhave, sāriputto;
and penetrating wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sāriputta là bậc quyết trạch trí tuệ, này các tỳ-kheo.
sāriputto, bhikkhave, aḍḍhamāsaṁ anupadadhammavipassanaṁ vipassati.
For a fortnight he practiced discernment of phenomena one by one.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong nửa tháng, này các tỳ-kheo, Sāriputta quán pháp từng pháp một — sự pháp quán tuần tự từng pháp một.
Tatridaṁ, bhikkhave, sāriputtassa anupadadhammavipassanāya hoti.
And this is how he did it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và đây, này các tỳ-kheo, là sự pháp quán tuần tự từng pháp một của Sāriputta:
Idha, bhikkhave, sāriputto vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, he entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, Sāriputta hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và an trú sơ thiền, có hỷ lạc do viễn ly sinh, còn tầm và tứ.
Ye ca paṭhame jhāne dhammā vitakko ca vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti.
And he distinguished the phenomena of the first absorption one by one: placing and keeping and rapture and bliss and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và những pháp nào có trong sơ thiền — tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm, cùng với xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý — các pháp ấy của vị ấy được xác định từng pháp một.
Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các pháp ấy được biết khi sinh khởi, được biết khi an trú, được biết khi biến mất.
So evaṁ pajānāti:
He understood:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, as the placing of the mind and keeping it connected were stilled, he entered and remained in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, khi tầm và tứ lắng dịu, nội tâm thanh sáng, tâm nhất tâm, không tầm không tứ, có hỷ lạc do định sinh, chứng và an trú nhị thiền.
Ye ca dutiye jhāne dhammā—ajjhattaṁ sampasādo ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti.
And he distinguished the phenomena of the second absorption one by one: internal confidence and rapture and bliss and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và những pháp nào có trong nhị thiền — nội tâm thanh sáng, hỷ, lạc và nhất tâm, cùng với xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý — các pháp ấy của vị ấy được xác định từng pháp một.
Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các pháp ấy được biết khi sinh khởi, được biết khi an trú, được biết khi biến mất.
So evaṁ pajānāti:
He understood:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṁvedeti. Yaṁ taṁ ariyā ācikkhanti: ‘upekkhako satimā sukhavihārī’ti tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, with the fading away of rapture, he entered and remained in the third absorption, where he meditated with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, khi hỷ phai nhạt, sống xả, có niệm tỉnh giác, thân cảm nhận lạc — trạng thái mà các bậc Thánh nói: ‘xả, có niệm, sống an lạc’ — chứng và an trú tam thiền.
Ye ca tatiye jhāne dhammā—sukhañca sati ca sampajaññañca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—
And he distinguished the phenomena of the third absorption one by one: bliss and mindfulness and awareness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và những pháp nào có trong tam thiền — lạc, niệm, tỉnh giác và nhất tâm, cùng với xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý —
tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti, tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các pháp ấy của vị ấy được xác định từng pháp một; các pháp ấy được biết khi sinh khởi, được biết khi an trú, được biết khi biến mất.
So evaṁ pajānāti:
He understood:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, with the giving up of pleasure and pain, and the disappearance of former happiness and sadness, he entered and remained in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, do đoạn bỏ lạc, do đoạn bỏ khổ, do diệt tận hỷ ưu đã cảm thọ trước kia, chứng và an trú tứ thiền, không khổ không lạc, xả niệm thanh sạch.
Ye ca catutthe jhāne dhammā—upekkhā adukkhamasukhā vedanā passaddhattā cetaso anābhogo satipārisuddhi cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti.
And he distinguished the phenomena of the fourth absorption one by one: equanimity and neutral feeling and mental unconcern due to tranquility and pure mindfulness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và những pháp nào có trong tứ thiền — xả, thọ không khổ không lạc, sự nhẹ nhàng của tâm, niệm thanh sạch và nhất tâm, cùng với xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý — các pháp ấy của vị ấy được xác định từng pháp một.
Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các pháp ấy được biết khi sinh khởi, được biết khi an trú, được biết khi biến mất.
So evaṁ pajānāti:
He understood:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, his mind without boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, he entered and remained in the dimension of infinite space.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, vượt qua hoàn toàn các tưởng sắc, do các tưởng xúc chạm diệt tận, không tác ý đến các tưởng khác biệt, với nhận thức ‘hư không là vô cùng’, chứng và an trú hư không vô biên xứ.
Ye ca ākāsānañcāyatane dhammā—ākāsānañcāyatanasaññā ca cittekaggatā ca phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti.
And he distinguished the phenomena of the dimension of infinite space one by one: the perception of the dimension of infinite space and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và những pháp nào có trong hư không vô biên xứ — tưởng hư không vô biên xứ và nhất tâm, cùng với xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý — các pháp ấy của vị ấy được xác định từng pháp một.
Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các pháp ấy được biết khi sinh khởi, được biết khi an trú, được biết khi biến mất.
So evaṁ pajānāti:
He understood:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, he entered and remained in the dimension of infinite consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, vượt qua hoàn toàn hư không vô biên xứ, với nhận thức ‘thức là vô cùng’, chứng và an trú thức vô biên xứ.
Ye ca viññāṇañcāyatane dhammā—viññāṇañcāyatanasaññā ca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti.
And he distinguished the phenomena of the dimension of infinite consciousness one by one: the perception of the dimension of infinite consciousness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và những pháp nào có trong thức vô biên xứ — tưởng thức vô biên xứ và nhất tâm, cùng với xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý — các pháp ấy của vị ấy được xác định từng pháp một.
Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các pháp ấy được biết khi sinh khởi, được biết khi an trú, được biết khi biến mất.
So evaṁ pajānāti:
He understood:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, his mind free of limits.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, he entered and remained in the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, với nhận thức ‘không có gì cả’, chứng và an trú vô sở hữu xứ.
Ye ca ākiñcaññāyatane dhammā—ākiñcaññāyatanasaññā ca cittekaggatā ca, phasso vedanā saññā cetanā cittaṁ chando adhimokkho vīriyaṁ sati upekkhā manasikāro—tyāssa dhammā anupadavavatthitā honti.
And he distinguished the phenomena of the dimension of nothingness one by one: the perception of the dimension of nothingness and unification of mind; contact, feeling, perception, intention, mind, enthusiasm, decision, energy, mindfulness, equanimity, and application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và những pháp nào có trong vô sở hữu xứ — tưởng vô sở hữu xứ và nhất tâm, cùng với xúc, thọ, tưởng, tư, tâm, dục, thắng giải, tinh tấn, niệm, xả, tác ý — các pháp ấy của vị ấy được xác định từng pháp một.
Tyāssa dhammā viditā uppajjanti, viditā upaṭṭhahanti, viditā abbhatthaṁ gacchanti.
He knew those phenomena as they arose, as they remained, and as they went away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các pháp ấy được biết khi sinh khởi, được biết khi an trú, được biết khi biến mất.
So evaṁ pajānāti:
He understood:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
Furthermore, going totally beyond the dimension of nothingness, he entered and remained in the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, vượt qua hoàn toàn vô sở hữu xứ, chứng và an trú phi tưởng phi phi tưởng xứ.
So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahati.
And he emerged from that attainment with mindfulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy xuất định khỏi chứng định ấy với niệm.
So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahitvā ye dhammā atītā niruddhā vipariṇatā te dhamme samanupassati:
Then he contemplated the phenomena of that attainment that had passed, ceased, and perished:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xuất định khỏi chứng định ấy với niệm rồi, vị ấy quán sát các pháp đã qua, đã diệt, đã biến đổi:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, his mind without boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘atthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is an escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā atthitvevassa hoti.
Repeated practice of that confirmed this for him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự có mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Puna caparaṁ, bhikkhave, sāriputto sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati. Paññāya cassa disvā āsavā parikkhīṇā honti.
Furthermore, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, he entered and remained in the cessation of perception and feeling. And, having seen with wisdom, his defilements came to an end.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này các tỳ-kheo, Sāriputta, vượt qua hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú diệt thọ tưởng. Và sau khi thấy bằng trí tuệ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận.
So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahati.
And he emerged from that attainment with mindfulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy xuất định khỏi chứng định ấy với niệm.
So tāya samāpattiyā sato vuṭṭhahitvā ye dhammā atītā niruddhā vipariṇatā te dhamme samanupassati:
Then he contemplated the phenomena of that attainment that had passed, ceased, and perished:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xuất định khỏi chứng định ấy với niệm rồi, vị ấy quán sát các pháp đã qua, đã diệt, đã biến đổi:
‘evaṁ kirame dhammā ahutvā sambhonti, hutvā paṭiventī’ti.
‘So it seems that these phenomena, not having been, come to be; and having come to be, they flit away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, các pháp này chưa từng có rồi hiện hữu, đã hiện hữu rồi đoạn hoại.’
So tesu dhammesu anupāyo anapāyo anissito appaṭibaddho vippamutto visaṁyutto vimariyādīkatena cetasā viharati.
Regarding those phenomena, he meditated without getting involved or shying away, independent, untied, liberated, detached, with mind free of boundaries.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đối với các pháp ấy, vị ấy sống không hướng đến, không lẩn tránh, không nương tựa, không hệ lụy, giải thoát, không buộc ràng, với tâm đã vượt ngoài giới hạn.
So ‘natthi uttari nissaraṇan’ti pajānāti.
He understood: ‘There is no escape beyond.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Không còn có sự xuất ly cao hơn nữa.’
Tabbahulīkārā natthi tvevassa hoti.
By cultivating that he confirmed that there is not.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ làm cho sung mãn điều ấy, sự không-có-mặt ấy được thành tựu cho vị ấy.
Yaṁ kho taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
And if there’s anyone of whom it may be rightly said that
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai được nói một cách đúng đắn rằng:
‘vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ sīlasmiṁ, vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ samādhismiṁ, vasippatto pāramippatto ariyāya paññāya, vasippatto pāramippatto ariyāya vimuttiyā’ti, sāriputtameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
they have attained mastery and perfection in noble ethics, immersion, wisdom, and freedom, it’s Sāriputta.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong giới Thánh, đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong định Thánh, đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong trí tuệ Thánh, đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong giải thoát Thánh’, chính là Sāriputta, được nói một cách đúng đắn:
‘vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ sīlasmiṁ, vasippatto pāramippatto ariyasmiṁ samādhismiṁ, vasippatto pāramippatto ariyāya paññāya, vasippatto pāramippatto ariyāya vimuttiyā’ti.
‘they have attained mastery and perfection in noble ethics, immersion, wisdom, and freedom’.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong giới Thánh, đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong định Thánh, đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong trí tuệ Thánh, đã đạt được sự thuần thục và sự hoàn mãn trong giải thoát Thánh’.
Yaṁ kho taṁ, bhikkhave, sammā vadamāno vadeyya:
And if there’s anyone of whom it may be rightly said that
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ai được nói một cách đúng đắn rằng:
‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo no āmisadāyādo’ti, sāriputtameva taṁ sammā vadamāno vadeyya:
they’re the Buddha’s bosom son, born from his mouth, born of the teaching, created by the teaching, heir in the teaching, not in things of the flesh, it’s Sāriputta.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘con của Đức Thế Tôn, sinh từ lòng Ngài, sinh từ miệng Ngài, sinh từ Pháp, được tạo bởi Pháp, trưởng tử thừa tự Pháp, không phải thừa tự vật chất’, chính là Sāriputta, được nói một cách đúng đắn:
‘bhagavato putto oraso mukhato jāto dhammajo dhammanimmito dhammadāyādo no āmisadāyādo’ti.
‘the Buddha’s bosom son, born from his mouth, born of the teaching, created by the teaching, heir in the teaching, not in things of the flesh’.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘con của Đức Thế Tôn, sinh từ lòng Ngài, sinh từ miệng Ngài, sinh từ Pháp, được tạo bởi Pháp, trưởng tử thừa tự Pháp, không phải thừa tự vật chất’.
Sāriputto, bhikkhave, tathāgatena anuttaraṁ dhammacakkaṁ pavattitaṁ sammadeva anuppavattetī”ti.
Sāriputta rightly keeps rolling the supreme Wheel of Dhamma that was rolled forth by the Realized One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sāriputta, này các tỳ-kheo, đúng đắc chuyển theo vô thượng pháp luân đã được Đấng Như Lai chuyển động.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các vị tỳ-kheo hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Anupadasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Quán Từng Pháp Một, bài thứ nhất, kết thúc.