← Kinh Trung Bộ

MN91 · Majjhima Nikāya

Kinh Brahmāyu

Brahmāyusutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Brahmāyu mở ra khi Đức Phật du hành trong xứ người Videha. Bà-la-môn Brahmāyu trú tại Mithilā, một trăm hai mươi tuổi, thông thành ba Vệ Đà và tinh thông các tướng đại trượng phu, nghe danh tiếng của sa-môn Gotama, bèn sai học trò là thanh niên Uttara đến tìm hiểu danh tiếng ấy. Ông dặn: theo các bài trí nguyện, đại trượng phu thành tựu ba mươi hai tướng nếu sống tại gia sẽ là vua Chuyển luân thánh; nếu xuất gia sẽ là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.

Uttara thấy ba mươi hai tướng trừ hai tướng; Đức Phật bèn tác ý thần thông cho anh thấy vật dục được che kín và lưỡi dài rộng. Anh theo sát Đức Phật suốt bảy tháng như cái bóng, rồi về báo với Brahmāyu rằng danh tiếng ấy đúng và các tướng đủ cả; anh kể lại các cử chỉ khi đi, ngó quanh, vào làng, ngồi, ăn và giảng Pháp mà mình đã thấy, kết luận bậc Gotama là như vậy, còn hơn thế nữa. Nghe vậy, Brahmāyu chắp tay thốt lên ba lần lời đảnh lễ và mong được gặp.

Đức Phật du hành đến Mithilā, trú trong vườn xoài Makhādeva. Brahmāyu sai thiếu niên đến báo trước, giới thiệu mình là bậc nhất về tài sản, bài trí nguyện, tuổi thọ và danh tiếng. Được chấp thuận, ông đến vườn, từ chối chỗ hội chúng nhường và ngồi ngay gần sa-môn Gotama. Ông thấy ba mươi hai tướng trừ hai tướng, bèn hỏi bằng kệ; Đức Phật cho ông thấy hai tướng ấy, đáp rằng điều nên thắng tri, nên tu tập, nên đoạn bỏ đều đã hoàn mãn, do vậy Ta là bậc Phật.

Brahmāyu chọn hỏi về lợi ích đời sau, bạch bằng kệ: thế nào là Bà-la-môn, bậc tam minh, cho đến bậc Phật? Đức Phật đáp bằng kệ: bậc ấy biết các tiền thân, thấy cõi thiên và cõi dữ, đạt đến diệt tận sinh, đoạn sinh và tử, vượt qua mọi pháp. Brahmāyu cúi đầu xuống hai chân Đức Phật, xưng danh mình; Đức Phật giảng cho ông từng bước: thuyết bố thí, giới, thiên giới, nguy hại của các dục, lợi ích của xuất ly, rồi khổ, tập, diệt, đạo. Pháp nhãn sinh khởi nơi ông; ông xin quy y Phật, Pháp, Tăng và mời dùng bữa; bảy ngày liền ông dâng cúng Tăng chúng.

Sau khi Đức Phật ra đi, Brahmāyu qua đời. Nhiều tỳ-kheo hỏi vị ấy sẽ đi đến cõi nào; Đức Phật đáp rằng Brahmāyu là bậc có trí, thực hành đúng với Pháp, và nhờ đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc hóa sinh, sẽ nhập diệt độ tại đó, không còn trở lại từ cõi thế giới ấy.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 469 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2f2ce8af-1842-4bb4-b7c5-0c872a5f9221 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 2d40b162064dd720f2b31906fe18534dfa0ead75badff3f486e8c7f37684e0f1

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 469 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: e4bbbf76-5b2e-4492-8e0a-acb10e1278c1 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 2d40b162064dd720f2b31906fe18534dfa0ead75badff3f486e8c7f37684e0f1

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 308 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 9bcb0674-389e-4b80-8996-da3984244b46 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 2b7cbfce7080aa30be22a151ae149d552d1bd711b09894626df3990024926522

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 308 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 45d52b72-82a8-4b36-9332-55346c734338 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 2b7cbfce7080aa30be22a151ae149d552d1bd711b09894626df3990024926522

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.68/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.5
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

308/308 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

284/308 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

308/308 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 91
Middle Discourses 91
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 91
Brahmāyusutta
With Brahmāyu
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Brahmāyu
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā videhesu cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
At one time the Buddha was wandering in the land of the Videhans together with a large Saṅgha of five hundred mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật du hành trong xứ người Videha cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, năm trăm vị.
Tena kho pana samayena brahmāyu brāhmaṇo mithilāyaṁ paṭivasati jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto, vīsavassasatiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo.
Now at that time the brahmin Brahmāyu was residing in Mithilā. He was old, elderly, and senior, advanced in years, having reached the final stage of life; he was a hundred and twenty years old. He had mastered the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. He knew them word-by-word, and their grammar. He was well versed in cosmology and the marks of a great man.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, bà-la-môn Brahmāyu trú tại Mithilā: già nua, cao tuổi, uy lão, tuổi đã cao, đã đến giai đoạn cuối của đời, một trăm hai mươi tuổi; thông thành ba Vệ Đà cùng các phụ lục từ vựng và nghi lễ, các phép ngữ âm và phân loại từ, phụ lục lịch sử thứ năm; thuộc từng chữ, khéo ngữ pháp; tinh thông thế giới học và các tướng đại trượng phu.
Assosi kho brahmāyu brāhmaṇo:
He heard:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bà-la-môn Brahmāyu nghe được tin:
“samaṇo khalu bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito videhesu cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—is wandering in the land of the Videhans, together with a large Saṅgha of five hundred mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả thật, sa-môn Gotama, dòng Sakiya xuất gia từ gia đình Sakiya, đang du hành trong xứ người Videha cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, năm trăm vị.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
He has this good reputation:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Danh tiếng tốt lành của bậc Tôn giả Gotama ấy đã được tuyên dương như sau:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bậc Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc tối thượng điều phục những người đáng được điều phục, thầy của chư thiên và loài người, bậc Phật, Thế Tôn.’
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài tự mình với thắng trí đã giác ngộ và thực chứng, rồi tuyên giảng thế giới này cùng các chư thiên, các Ác ma, các Phạm thiên, loài chúng sinh cùng các sa-môn bà-la-môn, chư thiên và loài người.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài thuyết Pháp tốt lành ở đầu, tốt lành ở giữa, tốt lành ở cuối, có nghĩa, có lời hay; Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
It’s good to see such perfected ones.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được gặp các bậc A-la-hán như thế thật là điều tốt.”
Tena kho pana samayena brahmāyussa brāhmaṇassa uttaro nāma māṇavo antevāsī hoti tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo.
Now at that time the brahmin Brahmāyu had a pupil named Uttara. He too had mastered the Vedic curriculum.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, bà-la-môn Brahmāyu có học trò tên thanh niên Uttara, cũng thông thành ba Vệ Đà cùng các phụ lục, các phép ngữ âm và phân loại từ, phụ lục lịch sử thứ năm; thuộc từng chữ, khéo ngữ pháp; tinh thông thế giới học và các tướng đại trượng phu.
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo uttaraṁ māṇavaṁ āmantesi:
Brahmāyu told Uttara of the Buddha’s presence in the land of the Videhans, and added:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu nói với thanh niên Uttara:
“ayaṁ, tāta uttara, samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito videhesu cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Uttara, sa-môn Gotama, dòng Sakiya xuất gia từ gia đình Sakiya, đang du hành trong xứ người Videha cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, năm trăm vị.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Danh tiếng tốt lành của bậc Tôn giả Gotama ấy đã được tuyên dương như sau:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bậc Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác …
sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được gặp các bậc A-la-hán như thế thật là điều tốt.’
Ehi tvaṁ, tāta uttara, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ jānāhi, yadi vā taṁ bhavantaṁ gotamaṁ tathā santaṁyeva saddo abbhuggato, yadi vā no tathā;
“Please, dear Uttara, go to the ascetic Gotama and find out whether or not he lives up to his reputation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Uttara, hãy đến yết kiến sa-môn Gotama; đến nơi, hãy tìm hiểu sa-môn Gotama — xem danh tiếng ấy có đúng với bậc Tôn giả Gotama hay không;
yadi vā so bhavaṁ gotamo tādiso, yadi vā na tādiso.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xem bậc Gotama ấy có đúng là người như lời đồn hay không.
Tathā mayaṁ taṁ bhavantaṁ gotamaṁ vedissāmā”ti.
Through you I shall learn about the worthy Gotama.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Qua con, ta sẽ biết rõ bậc Tôn giả Gotama ấy.”
“Yathā kathaṁ panāhaṁ, bho, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ jānissāmi yadi vā taṁ bhavantaṁ gotamaṁ tathā santaṁyeva saddo abbhuggato, yadi vā no tathā;
“But sir, how shall I find out whether or not the ascetic Gotama lives up to his reputation?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhưng thưa cha, con sẽ tìm hiểu bậc Tôn giả Gotama ấy như thế nào — xem danh tiếng ấy có đúng hay không;
yadi vā so bhavaṁ gotamo tādiso, yadi vā na tādiso”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xem bậc Gotama ấy có đúng là người như lời đồn hay không?”
“Āgatāni kho, tāta uttara, amhākaṁ mantesu dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveyeva gatiyo bhavanti anaññā.
“Dear Uttara, the thirty-two marks of a great man have been handed down in our hymns. A great man who possesses these has only two possible destinies, no other.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Uttara, trong các bài trí nguyện của chúng ta đã truyền lại ba mươi hai tướng đại trượng phu; đại trượng phu thành tựu các tướng ấy chỉ có hai đạo này, không có đạo nào khác.
Sace agāraṁ ajjhāvasati, rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
If he stays at home he becomes a king, a wheel-turning monarch, a just and principled king. His dominion extends to all four sides, he achieves stability in the country, and he possesses the seven treasures.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu sống tại gia, người ấy sẽ là vua Chuyển luân thánh, vị pháp vương như pháp, thần vựơc bốn phương, chiến thắng khắp nơi, đạt sự ổn định quốc độ, thành tựu bảy món báu.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti, seyyathidaṁ—
He has the following seven treasures:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có bảy món báu sau đây, đó là:
cakkaratanaṁ, hatthiratanaṁ, assaratanaṁ, maṇiratanaṁ, itthiratanaṁ, gahapatiratanaṁ, pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
the wheel, the elephant, the horse, the jewel, the woman, the householder, and the commander as the seventh treasure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
báu bánh xe, báu voi, báu ngựa, báu ngọc, báu nữ, báu gia chủ, và món báu thứ bảy là báu đại tướng.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
He has over a thousand sons who are valiant and heroic, crushing the armies of his enemies.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có hơn một nghìn người con trai dũng mãnh, hùng tráng, đập tan các đạo quân của địch.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
After conquering this land girt by sea, he reigns by principle, without rod or sword.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy sau khi chiến thắng đất liền đến tận bể, sẽ cai trị không roi, không đòn, bằng chính nghĩa.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
But if he goes forth from the lay life to homelessness, he becomes a perfected one, a fully awakened Buddha, who has cast off the world’s veil.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nếu xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà, người ấy sẽ là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc trút bỏ tấm màn che phủ thế gian.
Ahaṁ kho pana, tāta uttara, mantānaṁ dātā;
But, dear Uttara, I am the one who gives the hymns,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng này con Uttara, ta là người truyền các bài trí nguyện,
tvaṁ mantānaṁ paṭiggahetā”ti.
and you are the one who receives them.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn con là người lãnh nhận các bài trí nguyện ấy.”
“Evaṁ, bho”ti kho uttaro māṇavo brahmāyussa brāhmaṇassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā videhesu yena bhagavā tena cārikaṁ pakkāmi.
“Yes, worthy sir,” replied Uttara. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled Brahmāyu, keeping him on his right, before setting out for the land of the Videhans where the Buddha was wandering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ vâng, thưa cha” — thanh niên Uttara đáp lời bà-la-môn Brahmāyu, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ bà-la-môn Brahmāyu, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi lên đường du hành đến xứ người Videha, nơi Đức Phật.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Traveling stage by stage, he came to the Buddha and exchanged greetings with him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Du hành từng chặng, anh đến nơi Đức Phật; đến nơi, chào hỏi với Đức Phật.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau những lời chào hỏi và xã giao thân thiện, anh ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho uttaro māṇavo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi.
and scrutinized his body for the thirty-two marks of a great man.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thanh niên Uttara ngồi một bên, quan sát thân Đức Phật để tìm ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Addasā kho uttaro māṇavo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni, yebhuyyena thapetvā dve.
He saw all of them except two,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thanh niên Uttara thấy trên thân Đức Phật ba mươi hai tướng đại trượng phu, trừ hai tướng.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
which he had doubts about:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về hai đại trượng phu tướng ấy, anh hoài nghi, do dự, không tin chắc, không sáng tỏ —
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya ca.
whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vật dục được che kín, và lưỡi dài rộng.
Atha kho bhagavato etadahosi:
Then it occurred to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật nghĩ:
“passati kho me ayaṁ uttaro māṇavo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni, yebhuyyena thapetvā dve.
“This student Uttara sees all the marks except two,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thanh niên Uttara này thấy ba mươi hai tướng đại trượng phu trên thân Ta, trừ hai tướng.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
which he has doubts about:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về hai đại trượng phu tướng ấy, anh hoài nghi, do dự, không tin chắc, không sáng tỏ —
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti.
whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vật dục được che kín, và lưỡi dài rộng.”
Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā addasa uttaro māṇavo bhagavato kosohitaṁ vatthaguyhaṁ.
So the Buddha used his psychic power to will that Uttara would see his private parts sheathed in a foreskin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật tác ý một thần thông như sau: để thanh niên Uttara thấy vật dục được che kín.
Atha kho bhagavā jivhaṁ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi; ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi; kevalampi nalāṭamaṇḍalaṁ jivhāya chādesi.
And he stuck out his tongue and stroked back and forth on his ear holes and nostrils, and covered his entire forehead with his tongue.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật đưa lưỡi sờ qua sờ lại cả hai lỗ tai, sờ qua sờ lại cả hai lỗ mũi, và phủ kín cả trán bằng lưỡi.
Atha kho uttarassa māṇavassa etadahosi:
Then Uttara thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi thanh niên Uttara nghĩ:
“samannāgato kho samaṇo gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi.
“The ascetic Gotama possesses the thirty-two marks.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Sa-môn Gotama thành tựu ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Yannūnāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ anubandheyyaṁ, iriyāpathamassa passeyyan”ti.
Why don’t I follow him and observe his deportment?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thôi thì ta hãy theo sát sa-môn Gotama để xem cử chỉ của Ngài.”
Atha kho uttaro māṇavo sattamāsāni bhagavantaṁ anubandhi chāyāva anapāyinī.
So Uttara followed the Buddha like a shadow for seven months.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi thanh niên Uttara theo sát Đức Phật suốt bảy tháng, như cái bóng không rời.
Atha kho uttaro māṇavo sattannaṁ māsānaṁ accayena videhesu yena mithilā tena cārikaṁ pakkāmi.
When seven months had passed he set out wandering toward Mithilā.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Qua bảy tháng, anh lên đường du hành về Mithilā trong xứ người Videha.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena mithilā yena brahmāyu brāhmaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho uttaraṁ māṇavaṁ brahmāyu brāhmaṇo etadavoca:
There he approached the brahmin Brahmāyu, bowed, and sat down to one side. Brahmāyu said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Du hành từng chặng, anh đến Mithilā, đến nơi bà-la-môn Brahmāyu; đến nơi, đảnh lễ bà-la-môn Brahmāyu rồi ngồi xuống một bên. Bà-la-môn Brahmāyu nói với thanh niên Uttara đang ngồi một bên:
“kacci, tāta uttara, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ tathā santaṁyeva saddo abbhuggato, no aññathā?
“Well, dear Uttara, does the worthy Gotama live up to his reputation or not?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Uttara, danh tiếng ấy có đúng với bậc Tôn giả Gotama, chẳng phải khác đi chứ?”
Kacci pana so bhavaṁ gotamo tādiso, no aññādiso”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama ấy có đúng là người như lời đồn, chẳng phải khác đi chứ?”
“Tathā santaṁyeva, bho, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ saddo abbhuggato, no aññathā;
“He does, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa cha, danh tiếng ấy đúng với bậc Tôn giả Gotama, chẳng phải khác đi;
tādisova so bhavaṁ gotamo, no aññādiso.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc Gotama ấy đúng là người như lời đồn, chẳng phải khác đi.
Samannāgato ca so bhavaṁ gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi.
The worthy Gotama possesses the thirty-two marks.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và bậc Gotama ấy thành tựu ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Suppatiṭṭhitapādo kho pana bho bhavaṁ gotamo;
He has well-planted feet.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama có bàn chân đặt vững;
idampi tassa bhoto gotamassa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đây cũng là đại trượng phu tướng của bậc Tôn giả Gotama.
Heṭṭhā kho pana tassa bhoto gotamassa pādatalesu cakkāni jātāni sahassārāni sanemikāni sanābhikāni sabbākāraparipūrāni …
On the soles of his feet there are thousand-spoked wheels, with rims and hubs, complete in every detail.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trên lòng bàn chân của bậc Gotama có các bánh xe sinh ra, nghìn nan hoa, có vành có trục, đầy đủ mọi chi tiết …
Āyatapaṇhi kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has stretched heels.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama có gót chân thon dài …
Dīghaṅguli kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has long fingers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama có các ngón tay dài …
Mudutalunahatthapādo kho pana so bhavaṁ gotamo …
His hands and feet are soft and tender.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bàn tay bàn chân của bậc Gotama mềm mại …
Jālahatthapādo kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has serried hands and feet.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bàn tay bàn chân của bậc Gotama có các lằn lưới …
Ussaṅkhapādo kho pana so bhavaṁ gotamo …
The tops of his feet are arched.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bàn chân của bậc Gotama có cổ cao …
Eṇijaṅgho kho pana so bhavaṁ gotamo …
His calves are like those of an antelope.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bắp chân của bậc Gotama như chân linh dương …
Ṭhitako kho pana so bhavaṁ gotamo anonamanto ubhohi pāṇitalehi jaṇṇukāni parimasati parimajjati …
When standing upright and not bending over, the palms of both hands touch the knees.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama khi đứng thẳng, không cúi xuống, có thể xoa, vuốt cả hai đầu gối bằng hai lòng bàn tay …
Kosohitavatthaguyho kho pana so bhavaṁ gotamo …
His private parts are sheathed in a foreskin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vật dục của bậc Gotama được che kín …
Suvaṇṇavaṇṇo kho pana so bhavaṁ gotamo kañcanasannibhattaco …
He is golden colored; his skin shines like lustrous gold.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama có màu da vàng như vàng ròng …
Sukhumacchavi kho pana so bhavaṁ gotamo. Sukhumattā chaviyā rajojallaṁ kāye na upalimpati …
He has delicate skin, so delicate that dust and dirt don’t stick to his body.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Da của bậc Gotama mịn màng, nhờ da mịn mà bụi bặm chẳng dính vào thân …
Ekekalomo kho pana so bhavaṁ gotamo; ekekāni lomāni lomakūpesu jātāni …
His hairs grow one per pore.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thân lông của bậc Gotama mỗi lỗ mọc một sợi …
Uddhaggalomo kho pana so bhavaṁ gotamo; uddhaggāni lomāni jātāni nīlāni añjanavaṇṇāni kuṇḍalāvaṭṭāni dakkhiṇāvaṭṭakajātāni …
His hairs stand up; they’re blue-black and curl clockwise.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lông thân của bậc Gotama mọc hướng lên, màu xanh đen như thuốc nhuộm mắt, xoắn uốn quay về phía bên phải …
Brahmujugatto kho pana so bhavaṁ gotamo …
His body is tall and straight-limbed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thân hình của bậc Gotama đứng thẳng như Phạm thiên …
Sattussado kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has bulging muscles in seven places.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama có cơ bắp đầy ở bảy chỗ …
Sīhapubbaddhakāyo kho pana so bhavaṁ gotamo …
His chest is like that of a lion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thân trên của bậc Gotama như sư tử …
Citantaraṁso kho pana so bhavaṁ gotamo …
He is filled out between the shoulders.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giữa hai vai của bậc Gotama đầy đặn …
Nigrodhaparimaṇḍalo kho pana so bhavaṁ gotamo; yāvatakvassa kāyo tāvatakvassa byāmo, yāvatakvassa byāmo tāvatakvassa kāyo …
He has the proportional circumference of a banyan tree: the span of his arms equals the height of his body.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thân hình của bậc Gotama tròn đầy như gốc bần; chiều cao của thân bao nhiêu thì sải tay bấy nhiêu, sải tay bao nhiêu thì chiều cao của thân bấy nhiêu …
Samavaṭṭakkhandho kho pana so bhavaṁ gotamo …
His torso is cylindrical.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cổ vai của bậc Gotama tròn đều …
Rasaggasaggī kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has ridged taste buds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama thợm đủ vị ngon nhất khi nếm …
Sīhahanu kho pana so bhavaṁ gotamo …
His jaw is like that of a lion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hàm của bậc Gotama như hàm sư tử …
Cattālīsadanto kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has forty teeth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama có bốn mươi chiếc răng …
Samadanto kho pana so bhavaṁ gotamo …
His teeth are even.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Răng của bậc Gotama đều tăm tắp …
Aviraḷadanto kho pana so bhavaṁ gotamo …
His teeth have no gaps.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Răng của bậc Gotama không có kẽ hở …
Susukkadāṭho kho pana so bhavaṁ gotamo …
His teeth are perfectly white.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Răng của bậc Gotama trắng ngà bóng …
Pahūtajivho kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has a large tongue.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lưỡi của bậc Gotama dài rộng …
Brahmassaro kho pana so bhavaṁ gotamo karavikabhāṇī …
He has the voice of the Divinity, like a cuckoo’s call.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giọng của bậc Gotama như tiếng Phạm thiên, êm dịu như chim cuốc …
Abhinīlanetto kho pana so bhavaṁ gotamo …
His eyes are indigo.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đôi mắt của bậc Gotama màu xanh chàm …
Gopakhumo kho pana so bhavaṁ gotamo …
He has eyelashes like a cow’s.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lông mi của bậc Gotama như lông mi con bò cái …
Uṇṇā kho panassa bhoto gotamassa bhamukantare jātā odātā mudutūlasannibhā …
Between his eyebrows there grows a tuft, soft and white like cotton-wool.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giữa hai lông mày của bậc Gotama mọc sợi lông trắng mềm như bông nõn …
Uṇhīsasīso kho pana so bhavaṁ gotamo; idampi tassa bhoto gotamassa mahāpurisassa mahāpurisalakkhaṇaṁ bhavati.
The crown of his head is like a turban.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đầu của bậc Gotama như đội mão trâm; đây cũng là đại trượng phu tướng của bậc Tôn giả Gotama.
Imehi kho, bho, so bhavaṁ gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi samannāgato.
These are the thirty-two marks of a great man possessed by the worthy Gotama.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với ba mươi hai tướng đại trượng phu ấy, bậc Gotama được trang nghiêm.
Gacchanto kho pana so bhavaṁ gotamo dakkhiṇeneva pādena paṭhamaṁ pakkamati.
When he’s walking he takes the first step with the right foot.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đi, bậc Gotama bước chân phải đi trước.
So nātidūre pādaṁ uddharati, nāccāsanne pādaṁ nikkhipati;
He doesn’t lift his foot too far or place it too near.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài không giơ chân quá xa, không đặt chân quá gần;
so nātisīghaṁ gacchati, nātisaṇikaṁ gacchati;
He doesn’t walk too slow or too fast.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đi không quá nhanh, không quá chậm;
na ca adduvena adduvaṁ saṅghaṭṭento gacchati, na ca gopphakena gopphakaṁ saṅghaṭṭento gacchati.
He walks without knocking his knees or ankles together.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đi không đụng đầu gối vào đầu gối, không đụng mắt cá vào mắt cá.
So gacchanto na satthiṁ unnāmeti, na satthiṁ onāmeti; na satthiṁ sannāmeti, na satthiṁ vināmeti.
When he’s walking he keeps his thighs neither too straight nor too bent, neither too tight nor too loose.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đi, Ngài không duỗi đùi quá thẳng, không co đùi quá cong; không đùi ép quá chặt, không đùi xòe quá rộng.
Gacchato kho pana tassa bhoto gotamassa adharakāyova iñjati, na ca kāyabalena gacchati.
When he walks, only the lower half of his body moves, and he walks effortlessly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi bậc Gotama đi, chỉ nửa thân dưới chuyển động; Ngài đi mà không dùng sức thân.
Apalokento kho pana so bhavaṁ gotamo sabbakāyeneva apaloketi;
When he turns to look he does so with the whole body.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ngó quanh, bậc Gotama xoay toàn thân mà nhìn;
so na uddhaṁ ulloketi, na adho oloketi;
He doesn’t look directly up or down.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài không nhìn lên cao, không nhìn xuống thấp;
na ca vipekkhamāno gacchati, yugamattañca pekkhati; tato cassa uttari anāvaṭaṁ ñāṇadassanaṁ bhavati.
He doesn’t look all around while walking, but focuses a plough’s length in front. Beyond that he has unhindered knowledge and vision.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài không đi mà nhìn quanh; chỉ nhìn trước mặt độ một cánh cày. Trên hết, trí kiến của Ngài không bị che chắn.
So antaragharaṁ pavisanto na kāyaṁ unnāmeti, na kāyaṁ onāmeti; na kāyaṁ sannāmeti, na kāyaṁ vināmeti.
When entering an inhabited area he keeps his body neither too straight nor too bent, neither too tight nor too loose.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi vào làng, Ngài giữ thân không quá thẳng, không quá cong; không quá căng, không quá lỏng.
So nātidūre nāccāsanne āsanassa parivattati, na ca pāṇinā ālambitvā āsane nisīdati, na ca āsanasmiṁ kāyaṁ pakkhipati.
He turns around neither too far nor too close to the seat. He doesn’t lean on his hand when sitting down. And he doesn’t just plonk his body down on the seat.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài quay về chỗ ngồi không quá xa, không quá gần; không chống tay xuống ghế khi ngồi; không nằm sượt thân lên ghế.
So antaraghare nisinno samāno na hatthakukkuccaṁ āpajjati, na pādakukkuccaṁ āpajjati;
When sitting in inhabited areas he doesn’t fidget with his hands or feet.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ngồi trong làng, Ngài không xao nhãng tay, không xao nhãng chân;
na adduvena adduvaṁ āropetvā nisīdati; na ca gopphakena gopphakaṁ āropetvā nisīdati;
He doesn’t sit with his knees or ankles crossed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài không ngồi gác đầu gối lên đầu gối, không ngồi gác mắt cá lên mắt cá;
na ca pāṇinā hanukaṁ upadahitvā nisīdati.
He doesn’t sit with his hand holding his chin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài không ngồi chống cằm bằng tay.
So antaraghare nisinno samāno na chambhati na kampati na vedhati na paritassati. So achambhī akampī avedhī aparitassī vigatalomahaṁso.
When sitting in inhabited areas he doesn’t shake, tremble, quake, or get nervous, and so he is not nervous at all.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ngồi trong làng, Ngài không giật mình, không run rẩy, không lay động, không lo lắng; không giật mình, không run rẩy, không lay động, không lo lắng, không rợn tóc gáy.
Vivekavatto ca so bhavaṁ gotamo antaraghare nisinno hoti.
When sitting in inhabited areas he still practices seclusion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ngồi trong làng, bậc Gotama vẫn sống trong sự viễn ly.
So pattodakaṁ paṭiggaṇhanto na pattaṁ unnāmeti, na pattaṁ onāmeti; na pattaṁ sannāmeti, na pattaṁ vināmeti.
When receiving water for rinsing the bowl, he holds the bowl neither too straight nor too bent, neither too tight nor too loose.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi nhận nước lau bát, Ngài cầm bát không quá thẳng, không quá nghiêng; không quá căng, không quá lỏng.
So pattodakaṁ paṭiggaṇhāti nātithokaṁ nātibahuṁ.
He receives neither too little nor too much water.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nhận nước lau bát không quá ít, không quá nhiều.
So na khulukhulukārakaṁ pattaṁ dhovati, na samparivattakaṁ pattaṁ dhovati, na pattaṁ bhūmiyaṁ nikkhipitvā hatthe dhovati; hatthesu dhotesu patto dhoto hoti, patte dhote hatthā dhotā honti.
He rinses the bowl without making a sloshing noise, or spinning it around. He doesn’t put the bowl on the ground to rinse his hands; his hands and bowl are rinsed at the same time.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài rửa bát không gây tiếng loan xoan, không xoay tròn bát; không đặt bát xuống đất rồi rửa tay; khi rửa tay thì bát cũng sạch, khi rửa bát thì tay cũng sạch.
So pattodakaṁ chaḍḍeti nātidūre nāccāsanne, na ca vicchaḍḍayamāno.
He doesn’t throw the bowl rinsing water away too far or too near, or splash it about.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đổ nước rửa bát không quá xa, không quá gần, không tạt tung tóe.
So odanaṁ paṭiggaṇhanto na pattaṁ unnāmeti, na pattaṁ onāmeti; na pattaṁ sannāmeti, na pattaṁ vināmeti.
When receiving rice, he holds the bowl neither too straight nor too bent, neither too close nor too loose.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi nhận cơm, Ngài cầm bát không quá thẳng, không quá nghiêng; không quá căng, không quá lỏng.
So odanaṁ paṭiggaṇhāti nātithokaṁ nātibahuṁ.
He receives neither too little nor too much rice.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nhận cơm không quá ít, không quá nhiều.
Byañjanaṁ kho pana bhavaṁ gotamo byañjanamattāya āhāreti, na ca byañjanena ālopaṁ atināmeti.
He eats sauce in a moderate proportion, and doesn’t put too much sauce on his portions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama ăn nước canh với tỷ lệ vừa phải, không trà trộn quá nhiều canh vào cơm.
Dvattikkhattuṁ kho bhavaṁ gotamo mukhe ālopaṁ samparivattetvā ajjhoharati;
He chews over each portion two or three times before swallowing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama nhai từng miếng cơm hai hoặc ba lần rồi mới nuốt;
na cassa kāci odanamiñjā asambhinnā kāyaṁ pavisati, na cassa kāci odanamiñjā mukhe avasiṭṭhā hoti;
But no grain of rice enters his body unchewed, and none remain in his mouth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng có hạt cơm nào chưa nhai kỹ đi vào thân, chẳng có miếng cơm nào còn sót lại trong miệng;
athāparaṁ ālopaṁ upanāmeti.
Only then does he raise another portion to his lips.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
rồi Ngài mới đưa miếng kế tiếp lên miệng.
Rasapaṭisaṁvedī kho pana so bhavaṁ gotamo āhāraṁ āhāreti, no ca rasarāgapaṭisaṁvedī.
He eats experiencing the taste, but without experiencing greed for the taste.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama thọ dùng thức ăn thọ nhận vị ngon, nhưng không thọ nhận sự tham ái vị ngon.
Aṭṭhaṅgasamannāgataṁ kho pana so bhavaṁ gotamo āhāraṁ āhāreti—
He eats food thinking of eight reasons:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama thọ dụng thức ăn với tám suy niệm —
neva davāya, na madāya na maṇḍanāya na vibhūsanāya, yāvadeva imassa kāyassa ṭhitiyā yāpanāya, vihiṁsūparatiyā brahmacariyānuggahāya: ‘iti purāṇañca vedanaṁ paṭihaṅkhāmi navañca vedanaṁ na uppādessāmi, yātrā ca me bhavissati anavajjatā ca phāsuvihāro cā’ti.
‘Not for fun, indulgence, adornment, or decoration, but only to sustain this body, to avoid harm, and to support spiritual practice. In this way, I shall put an end to old discomfort and not give rise to new discomfort, and I will have the means to keep going, blamelessness, and a comfortable abiding.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘chẳng phải để vui chơi, để say đắm, để trang điểm, để làm đẹp, mà chỉ để duy trì thân này, để sống, để chấm dứt sự tổn hại, để hỗ trợ phạm hạnh: như vậy, Ta đoạn tận cảm thọ cũ, không khởi cảm thọ mới, và đời sống của Ta sẽ không có lỗi lầm, được an trú dễ chịu.’
So bhuttāvī pattodakaṁ paṭiggaṇhanto na pattaṁ unnāmeti, na pattaṁ onāmeti; na pattaṁ sannāmeti, na pattaṁ vināmeti.
After eating, when receiving water for washing the bowl, he holds the bowl neither too straight nor too bent, neither too tight nor too loose.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Dùng bữa xong, khi nhận nước rửa bát, Ngài cầm bát không quá thẳng, không quá nghiêng; không quá căng, không quá lỏng.
So pattodakaṁ paṭiggaṇhāti nātithokaṁ nātibahuṁ.
He receives neither too little nor too much water.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nhận nước rửa bát không quá ít, không quá nhiều.
So na khulukhulukārakaṁ pattaṁ dhovati, na samparivattakaṁ pattaṁ dhovati, na pattaṁ bhūmiyaṁ nikkhipitvā hatthe dhovati; hatthesu dhotesu patto dhoto hoti, patte dhote hatthā dhotā honti.
He washes the bowl without making a sloshing noise, or spinning it around. He doesn’t put the bowl on the ground to wash his hands; his hands and bowl are washed at the same time.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài rửa bát không gây tiếng loan xoan, không xoay tròn bát; không đặt bát xuống đất rồi rửa tay; khi rửa tay thì bát cũng sạch, khi rửa bát thì tay cũng sạch.
So pattodakaṁ chaḍḍeti nātidūre nāccāsanne, na ca vicchaḍḍayamāno.
He doesn’t throw the bowl washing water away too far or too near, or splash it about.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đổ nước rửa bát không quá xa, không quá gần, không tạt tung tóe.
So bhuttāvī na pattaṁ bhūmiyaṁ nikkhipati nātidūre nāccāsanne, na ca anatthiko pattena hoti, na ca ativelānurakkhī pattasmiṁ.
After eating he doesn’t put the bowl on the ground too far away or too close. He’s not careless with his bowl, nor does he spend too much time on it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Dùng bữa xong, Ngài đặt bát xuống đất không quá xa, không quá gần; không vô tâm với bát, cũng không quá chăm chăm giữ gìn bát.
So bhuttāvī muhuttaṁ tuṇhī nisīdati, na ca anumodanassa kālamatināmeti.
After eating he sits a while in silence, but doesn’t wait too long to give the verses of appreciation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Dùng bữa xong, Ngài ngồi im lặng một lát, nhưng không để quá lâu mới tán thán dâng cúng.
So bhuttāvī anumodati, na taṁ bhattaṁ garahati, na aññaṁ bhattaṁ paṭikaṅkhati;
After eating he expresses appreciation without criticizing the meal or expecting another one.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Dùng bữa xong, Ngài tán thán dâng cúng, không chê trách bữa ăn ấy, không chờ mong bữa ăn khác;
aññadatthu dhammiyā kathāya taṁ parisaṁ sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Invariably, he educates, encourages, fires up, and inspires that assembly with a Dhamma talk.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thay vào đó, Ngài dùng pháp thoại khai thị, khuyến khích, cổ động, làm hoan hỷ cho hội chúng ấy.
So taṁ parisaṁ dhammiyā kathāya sandassetvā samādapetvā samuttejetvā sampahaṁsetvā uṭṭhāyāsanā pakkamati.
Then he gets up from his seat and leaves.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi dùng pháp thoại khai thị, khuyến khích, cổ động, làm hoan hỷ cho hội chúng ấy, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
So nātisīghaṁ gacchati, nātisaṇikaṁ gacchati, na ca muccitukāmo gacchati;
He walks neither too fast nor too slow, without wanting to get out of there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đi không quá nhanh, không quá chậm, không đi mà mong thoát khỏi nơi ấy;
na ca tassa bhoto gotamassa kāye cīvaraṁ accukkaṭṭhaṁ hoti na ca accokkaṭṭhaṁ, na ca kāyasmiṁ allīnaṁ na ca kāyasmā apakaṭṭhaṁ;
He wears his robe on his body neither too high nor too low, neither too clinging nor too loose.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
y phục trên thân Ngài không quá cao, không quá thấp; không quá bó sát thân, không quá xa rời thân;
na ca tassa bhoto gotamassa kāyamhā vāto cīvaraṁ apavahati;
The wind doesn’t blow his robe off his body.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
gió không thổi bay y phục khỏi thân Ngài;
na ca tassa bhoto gotamassa kāye rajojallaṁ upalimpati.
And dust and dirt don’t stick to his body.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bụi bặm cũng chẳng dính vào thân Ngài.
So ārāmagato nisīdati paññatte āsane. Nisajja pāde pakkhāleti;
When he has gone to the monastery he sits on a seat spread out and washes his feet.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đến tu viện, Ngài ngồi xuống chỗ đã được sửa soạn, rửa chân;
na ca so bhavaṁ gotamo pādamaṇḍanānuyogamanuyutto viharati.
But he doesn’t waste time with pedicures.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng bậc Gotama chẳng chuyên cần việc trang trí bàn chân.
So pāde pakkhāletvā nisīdati pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
When he has washed his feet, he sits down cross-legged, sets his body straight, and brings mindfulness to the present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rửa chân xong, Ngài ngồi kiết già, giữ thân thẳng, thiết lập niệm trước mặt.
So neva attabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti;
He has no intention to hurt himself, hurt others, or hurt both.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài không tư duy để hại mình, không tư duy để hại người, không tư duy để hại cả hai;
attahitaparahitaubhayahitasabbalokahitameva so bhavaṁ gotamo cintento nisinno hoti.
He only wishes for the welfare of himself, of others, of both, and of the whole world.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc Gotama chỉ tư duy về lợi ích của mình, của người, của cả hai, và của toàn thế giới, khi ngồi thiền.
So ārāmagato parisati dhammaṁ deseti, na taṁ parisaṁ ussādeti, na taṁ parisaṁ apasādeti;
In the monastery when he teaches Dhamma to an assembly, he neither flatters them nor rebukes them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở tu viện, khi giảng Pháp cho hội chúng, Ngài không nịnh bợ hội chúng, không khiêm nhục hội chúng;
aññadatthu dhammiyā kathāya taṁ parisaṁ sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti.
Invariably, he educates, encourages, fires up, and inspires that assembly with a Dhamma talk.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thay vào đó, Ngài dùng pháp thoại khai thị, khuyến khích, cổ động, làm hoan hỷ cho hội chúng ấy.
Aṭṭhaṅgasamannāgato kho panassa bhoto gotamassa mukhato ghoso niccharati—
The sound of his voice has eight qualities:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Âm thanh phát ra từ miệng bậc Gotama có tám phẩm chất —
vissaṭṭho ca, viññeyyo ca, mañju ca, savanīyo ca, bindu ca, avisārī ca, gambhīro ca, ninnādī ca.
it is clear, comprehensible, charming, audible, lucid, undistorted, deep, and resonant.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trong sáng, dễ hiểu, êm dịu, dễ nghe, thấm thía, không lan tán, sâu thẳm, và vang xa.
Yathāparisaṁ kho pana so bhavaṁ gotamo sarena viññāpeti, na cassa bahiddhā parisāya ghoso niccharati.
He makes sure his voice is intelligible as far as the assembly goes, but the sound doesn’t extend outside the assembly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giọng nói của bậc Gotama khiến hội chúng lĩnh hội, nhưng âm thanh ấy chẳng lan ra ngoài hội chúng.
Te tena bhotā gotamena dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā uṭṭhāyāsanā pakkamanti avalokayamānāyeva avijahitattā.
And when they’ve been inspired with a Dhamma talk by the worthy Gotama they get up from their seats and leave looking back at him alone, and not forgetting their lesson.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ta được bậc Gotama dùng pháp thoại khai thị, khuyến khích, cổ động, làm hoan hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi mà vẫn nhìn nhìn lại, chẳng quên lời dạy.
Addasāma kho mayaṁ, bho, taṁ bhavantaṁ gotamaṁ gacchantaṁ, addasāma ṭhitaṁ, addasāma antaragharaṁ pavisantaṁ, addasāma antaraghare nisinnaṁ tuṇhībhūtaṁ, addasāma antaraghare bhuñjantaṁ, addasāma bhuttāviṁ nisinnaṁ tuṇhībhūtaṁ, addasāma bhuttāviṁ anumodantaṁ, addasāma ārāmaṁ gacchantaṁ, addasāma ārāmagataṁ nisinnaṁ tuṇhībhūtaṁ, addasāma ārāmagataṁ parisati dhammaṁ desentaṁ.
I have seen the worthy Gotama walking and standing; entering inhabited areas, and sitting and eating there; sitting silently after eating, and expressing appreciation; going to the monastery, sitting silently there, and teaching Dhamma to an assembly there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa cha, con đã thấy bậc Tôn giả Gotama khi đi, khi đứng, khi vào làng, khi ngồi im lặng trong làng, khi ăn trong làng, khi dùng bữa xong ngồi im lặng, khi dùng bữa xong tán thán dâng cúng, khi đi đến tu viện, khi ở tu viện ngồi im lặng, và khi ở tu viện giảng Pháp cho hội chúng.
Ediso ca ediso ca so bhavaṁ gotamo, tato ca bhiyyo”ti.
Such is the worthy Gotama; such he is and more than that.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Gotama là như vậy, và còn hơn thế nữa.”
Evaṁ vutte, brahmāyu brāhmaṇo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ udānaṁ udāneti:
When he had spoken, the brahmin Brahmāyu rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and uttered this aphorism three times:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe nói vậy, bà-la-môn Brahmāyu từ chỗ ngồi đứng dậy, khoác y qua một vai, chắp tay hướng về nơi bậc Tôn giả Gotama, thốt lên lời cảm thán ba lần:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
“Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đảnh lễ bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đảnh lễ bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassāti.
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đảnh lễ bậc Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!
Appeva nāma mayaṁ kadāci karahaci tena bhotā gotamena samāgaccheyyāma? Appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpo”ti.
Hopefully, some time or other I’ll get to meet him, and we can have a discussion.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Biết đâu đôi khi chúng ta có thể gặp được bậc Gotama ấy, biết đâu chúng ta có thể đàm luận đôi điều!”
Atha kho bhagavā videhesu anupubbena cārikaṁ caramāno yena mithilā tadavasari.
And then the Buddha, traveling stage by stage in the Videhan lands, arrived at Mithilā,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật du hành tuần tự trong xứ người Videha, đến Mithilā.
Tatra sudaṁ bhagavā mithilāyaṁ viharati maghadevaambavane.
where he stayed in the Maghadeva Mango Grove.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, Đức Phật trú tại Mithilā, trong vườn xoài Makhādeva.
Assosuṁ kho mithileyyakā brāhmaṇagahapatikā:
The brahmins and householders of Mithilā heard:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các bà-la-môn và gia chủ ở Mithilā nghe được tin:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito videhesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi mithilaṁ anuppatto, mithilāyaṁ viharati maghadevaambavane.
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Mithilā, where he is staying in the Maghadeva Mango Grove.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả thật, sa-môn Gotama, dòng Sakiya xuất gia từ gia đình Sakiya, đang du hành trong xứ người Videha cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, năm trăm vị, đã đến Mithilā, đang trú tại Mithilā, trong vườn xoài Makhādeva.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
He has this good reputation:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Danh tiếng tốt lành của bậc Tôn giả Gotama ấy đã được tuyên dương như sau:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bậc Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc tối thượng điều phục những người đáng được điều phục, thầy của chư thiên và loài người, bậc Phật, Thế Tôn.’
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài tự mình với thắng trí đã giác ngộ và thực chứng, rồi tuyên giảng thế giới này cùng các chư thiên, các Ác ma, các Phạm thiên, loài chúng sinh cùng các sa-môn bà-la-môn, chư thiên và loài người.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài thuyết Pháp tốt lành ở đầu, tốt lành ở giữa, tốt lành ở cuối, có nghĩa, có lời hay; Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
It’s good to see such perfected ones.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được gặp các bậc A-la-hán như thế thật là điều tốt.”
Atha kho mithileyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Then the brahmins and householders of Mithilā went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bà-la-môn và gia chủ ở Mithilā đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, một số đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số chào hỏi với Đức Phật, sau những lời chào hỏi và xã giao thân thiện rồi ngồi xuống một bên; một số chắp tay hướng về Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số báo tên và họ trước Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên.
Assosi kho brahmāyu brāhmaṇo: “samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito mithilaṁ anuppatto, mithilāyaṁ viharati maghadevaambavane”ti.
The brahmin Brahmāyu also heard that the Buddha had arrived.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bà-la-môn Brahmāyu cũng nghe được tin: “sa-môn Gotama đã đến Mithilā, đang trú tại Mithilā, trong vườn xoài Makhādeva.”
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo sambahulehi sāvakehi saddhiṁ yena maghadevaambavanaṁ tenupasaṅkami.
So he went to the Maghadeva Mango Grove together with several disciples.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu cùng vài đệ tử đi đến vườn xoài Makhādeva.
Atha kho brahmāyuno brāhmaṇassa avidūre ambavanassa etadahosi:
Not far from the grove he thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không xa vườn xoài, bà-la-môn Brahmāyu nghĩ:
“na kho metaṁ patirūpaṁ yohaṁ pubbe appaṭisaṁvidito samaṇaṁ gotamaṁ dassanāya upasaṅkameyyan”ti.
“It wouldn’t be appropriate for me to go to see the ascetic Gotama without letting him know beforehand.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Chẳng hợp lẽ gì khi ta đi yết kiến sa-môn Gotama mà không báo trước.”
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo aññataraṁ māṇavakaṁ āmantesi:
So he addressed one of his young students:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu gọi một thiếu niên:
“ehi tvaṁ, māṇavaka, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena samaṇaṁ gotamaṁ appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha:
“Here, young student, go to the ascetic Gotama and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này thiếu niên, hãy đến yết kiến sa-môn Gotama; đến nơi, thay ta hỏi thăm sa-môn Gotama ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu:
‘brahmāyu, bho gotama, brāhmaṇo bhavantaṁ gotamaṁ appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tôn giả Gotama, bà-la-môn Brahmāyu hỏi thăm Tôn giả ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu.’
Evañca vadehi:
And then say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và hãy nói thêm:
‘brahmāyu, bho gotama, brāhmaṇo jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto, vīsavassasatiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo.
‘Worthy Gotama, the brahmin Brahmāyu is old, elderly, and senior, advanced in years, having reached the final stage of life; he is a hundred and twenty years old. He has mastered the three Vedas, together with their vocabularies and ritual performance, their phonology and word classification, and the testaments as fifth. He knows them word-by-word, and their grammar. He is well versed in cosmology and the marks of a great man.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tôn giả Gotama, bà-la-môn Brahmāyu già nua, cao tuổi, uy lão, tuổi đã cao, đã đến giai đoạn cuối của đời, một trăm hai mươi tuổi; thông thành ba Vệ Đà cùng các phụ lục từ vựng và nghi lễ, các phép ngữ âm và phân loại từ, phụ lục lịch sử thứ năm; thuộc từng chữ, khéo ngữ pháp; tinh thông thế giới học và các tướng đại trượng phu.
Yāvatā, bho, brāhmaṇagahapatikā mithilāyaṁ paṭivasanti, brahmāyu tesaṁ brāhmaṇo aggamakkhāyati—
Of all the brahmins and householders residing in Mithilā, Brahmāyu is said to be the foremost in
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong các bà-la-môn gia chủ trú ở Mithilā, Brahmāyu được tuyên là bậc nhất —
yadidaṁ bhogehi;
wealth,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
về tài sản;
brahmāyu tesaṁ brāhmaṇo aggamakkhāyati—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Brahmāyu được tuyên là bậc nhất —
yadidaṁ mantehi;
hymns,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
về các bài trí nguyện;
brahmāyu tesaṁ brāhmaṇo aggamakkhāyati—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Brahmāyu được tuyên là bậc nhất —
yadidaṁ āyunā ceva yasasā ca.
lifespan, and fame.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
về tuổi thọ và danh tiếng.
So bhoto gotamassa dassanakāmo’”ti.
He wants to see the worthy Gotama.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bà-la-môn ấy muốn yết kiến Tôn giả Gotama.’”
“Evaṁ, bho”ti kho so māṇavako brahmāyussa brāhmaṇassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
“Yes, worthy sir,” that young student replied. He did as he was asked, and the Buddha said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ vâng, thưa ngài” — thiếu niên ấy đáp lời bà-la-môn Brahmāyu, đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, chào hỏi với Đức Phật.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho so māṇavako bhagavantaṁ etadavoca:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau những lời chào hỏi và xã giao thân thiện, anh đứng một bên. Thiếu niên ấy đứng một bên, nói với Đức Phật:
“brahmāyu, bho gotama, brāhmaṇo bhavantaṁ gotamaṁ appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôn giả Gotama, bà-la-môn Brahmāyu hỏi thăm Tôn giả ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu;
evañca vadeti:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và nói thêm:
‘brahmāyu, bho gotama, brāhmaṇo jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto, vīsavassasatiko jātiyā, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ, padako, veyyākaraṇo, lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tôn giả Gotama, bà-la-môn Brahmāyu già nua, cao tuổi, uy lão, tuổi đã cao, đã đến giai đoạn cuối của đời, một trăm hai mươi tuổi; thông thành ba Vệ Đà cùng các phụ lục từ vựng và nghi lễ, các phép ngữ âm và phân loại từ, phụ lục lịch sử thứ năm; thuộc từng chữ, khéo ngữ pháp; tinh thông thế giới học và các tướng đại trượng phu.
Yāvatā, bho, brāhmaṇagahapatikā mithilāyaṁ paṭivasanti, brahmāyu tesaṁ brāhmaṇo aggamakkhāyati—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong các bà-la-môn gia chủ trú ở Mithilā, Brahmāyu được tuyên là bậc nhất —
yadidaṁ bhogehi;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
về tài sản;
brahmāyu tesaṁ brāhmaṇo aggamakkhāyati—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Brahmāyu được tuyên là bậc nhất —
yadidaṁ mantehi;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
về các bài trí nguyện;
brahmāyu tesaṁ brāhmaṇo aggamakkhāyati—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Brahmāyu được tuyên là bậc nhất —
yadidaṁ āyunā ceva yasasā ca.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
về tuổi thọ và danh tiếng.
So bhoto gotamassa dassanakāmo’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bà-la-môn ấy muốn yết kiến Tôn giả Gotama.’”
“Yassadāni, māṇava, brahmāyu brāhmaṇo kālaṁ maññatī”ti.
“Please, student, let Brahmāyu come at his convenience.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này thiếu niên, hãy để bà-la-môn Brahmāyu đến khi ông thấy hợp lúc.”
Atha kho so māṇavako yena brahmāyu brāhmaṇo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
The young student went back to Brahmāyu and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thiếu niên ấy trở về nơi bà-la-môn Brahmāyu; đến nơi, nói với bà-la-môn Brahmāyu:
“katāvakāso khomhi bhavatā samaṇena gotamena.
“Your request for an audience with the ascetic Gotama has been granted.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lời thỉnh cầu yết kiến sa-môn Gotama của ngài đã được chấp thuận.
Yassadāni bhavaṁ kālaṁ maññatī”ti.
Please go at your convenience.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin ngài hãy đi khi thấy hợp lúc.”
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami.
Then the brahmin Brahmāyu went up to the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu đi đến nơi Đức Phật.
Addasā kho sā parisā brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ dūratova āgacchantaṁ.
The assembly saw him coming off in the distance,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hội chúng thấy bà-la-môn Brahmāyu từ xa đi đến,
Disvāna oramiya okāsamakāsi yathā taṁ ñātassa yasassino.
and made way for him, as he was well-known and famous.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đùn đẩy nhường chỗ cho ông, vì ông là bậc nức tiếng nổi danh.
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo taṁ parisaṁ etadavoca:
Brahmāyu said to that retinue,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu nói với hội chúng ấy:
“alaṁ, bho.
“Enough, gentlemen.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thôi nhé, này Quý vị.
Nisīdatha tumhe sake āsane.
Please sit on your own seats.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Quý vị hãy ngồi vào chỗ ngồi của mình.
Idhāhaṁ samaṇassa gotamassa santike nisīdissāmī”ti.
I shall sit here by the ascetic Gotama.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta sẽ ngồi ngay đây, gần sa-môn Gotama.”
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Then the brahmin Brahmāyu went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, chào hỏi với Đức Phật.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau những lời chào hỏi và xã giao thân thiện, ông ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho brahmāyu brāhmaṇo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi.
and scrutinized the Buddha’s body for the thirty-two marks of a great man.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bà-la-môn Brahmāyu ngồi một bên, quan sát thân Đức Phật để tìm ba mươi hai tướng đại trượng phu.
Addasā kho brahmāyu brāhmaṇo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni, yebhuyyena ṭhapetvā dve.
He saw all of them except two,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông thấy trên thân Đức Phật ba mươi hai tướng đại trượng phu, trừ hai tướng.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
which he had doubts about:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về hai đại trượng phu tướng ấy, ông hoài nghi, do dự, không tin chắc, không sáng tỏ —
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya ca.
whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vật dục được che kín, và lưỡi dài rộng.
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
Then Brahmāyu addressed the Buddha in verse:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu bạch Đức Phật bằng kệ:
“Ye me dvattiṁsāti sutā,
“I have learned of the thirty-two
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ba mươi hai đại trượng phu tướng
mahāpurisalakkhaṇā;
marks of a great man.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tôi đã được nghe;
Duve tesaṁ na passāmi,
There are two that I don’t see
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trên thân của Tôn giả Gotama,
bhoto kāyasmiṁ gotama.
on the body of the worthy Gotama.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tôi thấy thiếu hai tướng.
Kacci kosohitaṁ bhoto,
Are the private parts sheathed in a foreskin,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chẳng biết vật dục của bậc tối thượng
vatthaguyhaṁ naruttama;
O supreme man?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
có được che kín chăng;
Nārīsamānasavhayā,
Though called by a word of the feminine gender,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
từ ngữ ấy mang giống cái,
kacci jivhā na dassakā.
perhaps your tongue is a manly one?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lưỡi ấy há lại không dài?
Kacci pahūtajivhosi,
Perhaps your tongue is large,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chẳng biết lưỡi ấy có dài rộng,
yathā taṁ jāniyāmase;
as we have been informed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
như lời người ta truyền đạt;
Ninnāmayetaṁ pahūtaṁ,
Please stick it out in its full extent,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xin ngài giơ dài lưỡi ấy ra,
kaṅkhaṁ vinaya no ise.
and so, O seer, dispel my doubt.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hãy xua tan hoài nghi của tôi, này bậc Trí.
Diṭṭhadhammahitatthāya,
For my welfare and benefit in this life,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì lợi ích và hạnh phúc ngay đời này,
samparāyasukhāya ca;
and happiness in lives to come.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và hạnh phúc ở các đời sau,
Katāvakāsā pucchāma,
And I ask you to grant the opportunity
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xin ngài cho phép tôi hỏi
yaṁ kiñci abhipatthitan”ti.
to ask whatever I desire.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bất cứ điều gì tôi mong ước.”
Atha kho bhagavato etadahosi:
Then it occurred to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật nghĩ:
“passati kho me ayaṁ brahmāyu brāhmaṇo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni, yebhuyyena ṭhapetvā dve.
“Brahmāyu sees all the marks except two,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bà-la-môn Brahmāyu này thấy ba mươi hai tướng đại trượng phu trên thân Ta, trừ hai tướng.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
which he has doubts about:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về hai đại trượng phu tướng ấy, ông hoài nghi, do dự, không tin chắc, không sáng tỏ —
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti.
whether the private parts are sheathed in a foreskin, and the largeness of the tongue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vật dục được che kín, và lưỡi dài rộng.”
Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā addasa brahmāyu brāhmaṇo bhagavato kosohitaṁ vatthaguyhaṁ.
So the Buddha used his psychic power to will that Brahmāyu would see his private parts sheathed in a foreskin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật tác ý một thần thông như sau: để bà-la-môn Brahmāyu thấy vật dục được che kín.
Atha kho bhagavā jivhaṁ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi; ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi; kevalampi nalāṭamaṇḍalaṁ jivhāya chādesi.
And he stuck out his tongue and stroked back and forth on his ear holes and nostrils, and covered his entire forehead with his tongue.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật đưa lưỡi sờ qua sờ lại cả hai lỗ tai, sờ qua sờ lại cả hai lỗ mũi, và phủ kín cả trán bằng lưỡi.
Atha kho bhagavā brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ gāthāhi paccabhāsi:
Then the Buddha replied to Brahmāyu in verse:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật đáp lời bà-la-môn Brahmāyu bằng kệ:
“Ye te dvattiṁsāti sutā,
“The thirty-two marks of a great man
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ba mươi hai đại trượng phu tướng
mahāpurisalakkhaṇā;
that you have learned
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mà nhà hiền triết đã được nghe,
Sabbe te mama kāyasmiṁ,
are all found on my body:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đều đầy đủ trên thân Ta:
mā te kaṅkhāhu brāhmaṇa.
so do not doubt, brahmin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này Bà-la-môn, chớ có hoài nghi.
Abhiññeyyaṁ abhiññātaṁ,
I have known what should be known,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều nên thắng tri đã thắng tri,
bhāvetabbañca bhāvitaṁ;
and developed what should be developed,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
điều nên tu tập đã tu tập;
Pahātabbaṁ pahīnaṁ me,
and given up what should be given up:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
điều nên đoạn bỏ đã đoạn bỏ:
tasmā buddhosmi brāhmaṇa.
and so, brahmin, I am a Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
do vậy, này Bà-la-môn, Ta là bậc Phật.
Diṭṭhadhammahitatthāya,
For your welfare and benefit in this life,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì lợi ích và hạnh phúc ngay đời này,
samparāyasukhāya ca;
and happiness in lives to come:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và hạnh phúc ở các đời sau:
Katāvakāso pucchassu,
I grant you the opportunity
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta cho phép nhà hiền triết hỏi
yaṁ kiñci abhipatthitan”ti.
to ask whatever you desire.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bất cứ điều gì mong ước.”
Atha kho brahmāyussa brāhmaṇassa etadahosi:
Then Brahmāyu thought:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu nghĩ:
“katāvakāso khomhi samaṇena gotamena.
“My request has been granted.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lời thỉnh cầu của tôi đã được sa-môn Gotama chấp thuận.
Kiṁ nu kho ahaṁ samaṇaṁ gotamaṁ puccheyyaṁ:
Should I ask him about
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nên hỏi sa-môn Gotama điều gì:
‘diṭṭhadhammikaṁ vā atthaṁ samparāyikaṁ vā’”ti.
what is beneficial in this life or the next?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘lợi ích đời này hay lợi ích đời sau?’”
Atha kho brahmāyussa brāhmaṇassa etadahosi:
Then he thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu nghĩ:
“kusalo kho ahaṁ diṭṭhadhammikānaṁ atthānaṁ.
“I’m well versed in the benefits that apply to this life,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôi tinh thông các lợi ích đời này;
Aññepi maṁ diṭṭhadhammikaṁ atthaṁ pucchanti.
and others ask me about this.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người khác cũng hay hỏi tôi về lợi ích đời này.
Yannūnāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ samparāyikaṁyeva atthaṁ puccheyyan”ti.
Why don’t I ask the ascetic Gotama about the benefit that specifically applies to lives to come?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thôi thì tôi hãy hỏi sa-môn Gotama về lợi ích đời sau.”
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo bhagavantaṁ gāthāhi ajjhabhāsi:
So Brahmāyu addressed the Buddha in verse:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu bạch Đức Phật bằng kệ:
“Kathaṁ kho brāhmaṇo hoti,
“How do you become a brahmin?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế nào là Bà-la-môn?
kathaṁ bhavati vedagū;
And how do you become a knowledge master?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bậc trí vô biên?
Tevijjo bho kathaṁ hoti,
How a master of the three knowledges?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bậc tam minh?
sotthiyo kinti vuccati.
And how is one called a scholar?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bậc an ổn?
Arahaṁ bho kathaṁ hoti,
How do you become a perfected one?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bậc A-la-hán?
kathaṁ bhavati kevalī;
And how a consummate one?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bậc viên mãn?
Muni ca bho kathaṁ hoti,
How do you become a sage?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bậc Thánh Nhân?
buddho kinti pavuccatī”ti.
And how is one declared to be awakened?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là bậc Phật?”
Atha kho bhagavā brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ gāthāhi paccabhāsi:
Then the Buddha replied to Brahmāyu in verse:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật đáp lời bà-la-môn Brahmāyu bằng kệ:
“Pubbenivāsaṁ yo vedi,
“One who knows their past lives,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ai biết các tiền thân,
saggāpāyañca passati;
sees heaven and places of loss,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thấy cõi thiên và cõi dữ,
Atho jātikkhayaṁ patto,
and has attained the end of rebirth:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và đạt đến diệt tận sinh:
abhiññā vosito muni.
such a sage has perfect insight.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc Thánh Nhân ấy đã thắng tri viễn ly.
Cittaṁ visuddhaṁ jānāti,
They know their mind is pure,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Biết rõ tâm trong sáng,
muttaṁ rāgehi sabbaso;
completely freed from greed;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đã giải thoát hoàn toàn khỏi tham;
Pahīnajātimaraṇo,
they’ve given up birth and death,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đã đoạn sinh và tử,
brahmacariyassa kevalī;
and have completed the spiritual journey.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc viên mãn của phạm hạnh.
Pāragū sabbadhammānaṁ,
Gone beyond all things,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã vượt qua mọi pháp,
buddho tādī pavuccatī”ti.
such a one is declared to be awakened.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc ấy được tuyên là Phật.”
Evaṁ vutte, brahmāyu brāhmaṇo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavato pādāni mukhena ca paricumbati, pāṇīhi ca parisambāhati, nāmañca sāveti:
When he said this, Brahmāyu got up from his seat and arranged his robe over one shoulder. He bowed with his head to the Buddha’s feet, caressing them and covering them with kisses, and pronounced his name:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe nói vậy, bà-la-môn Brahmāyu từ chỗ ngồi đứng dậy, khoác y qua một vai, cúi đầu xuống hai chân Đức Phật, hôn và xoa khắc hai chân Ngài, xưng danh:
“brahmāyu ahaṁ, bho gotama, brāhmaṇo;
“I am the brahmin Brahmāyu, worthy Gotama!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Tôn giả Gotama, con là bà-la-môn Brahmāyu!
brahmāyu ahaṁ, bho gotama, brāhmaṇo”ti.
I am the brahmin Brahmāyu!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa Tôn giả Gotama, con là bà-la-môn Brahmāyu!”
Atha kho sā parisā acchariyabbhutacittajātā ahosi:
Then that assembly, their minds full of wonder and amazement, thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi hội chúng ấy sinh tâm kỳ dị, kinh ngạc, nghĩ:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
“Oh lord, how incredible, how amazing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay!
Yatra hi nāmāyaṁ brahmāyu brāhmaṇo ñāto yasassī evarūpaṁ paramanipaccakāraṁ karissatī”ti.
that Brahmāyu, who is so well-known and famous, should show the Buddha such utmost deference.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bà-la-môn Brahmāyu nức tiếng nổi danh như thế mà tỏ lòng tôn kính tận cùng với bậc Tôn giả Gotama!”
Atha kho bhagavā brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
Then the Buddha said to Brahmāyu,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật nói với bà-la-môn Brahmāyu:
“alaṁ, brāhmaṇa, uṭṭhaha nisīda tvaṁ sake āsane yato te mayi cittaṁ pasannan”ti.
“Enough, brahmin. Get up, and sit in your own seat, since your mind has such confidence in me.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thôi nhé, này Bà-la-môn, hãy đứng dậy ngồi vào chỗ ngồi của mình, vì tâm ông đã hướng tín nơi Ta.”
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo uṭṭhahitvā sake āsane nisīdi.
So Brahmāyu got up and sat in his own seat.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu đứng dậy ngồi vào chỗ ngồi của mình.
Atha kho bhagavā brahmāyussa brāhmaṇassa anupubbiṁ kathaṁ kathesi, seyyathidaṁ—
Then the Buddha taught him step by step, with
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật giảng cho bà-la-môn Brahmāyu từng bước một, đó là:
dānakathaṁ, sīlakathaṁ, saggakathaṁ;
a talk on giving, ethical conduct, and heaven.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thuyết bố thí, thuyết giới, thuyết thiên giới;
kāmānaṁ ādīnavaṁ okāraṁ saṅkilesaṁ nekkhamme ānisaṁsaṁ pakāsesi.
He revealed the drawbacks of sensual pleasures, so sordid and corrupt, and the benefit of renunciation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài trình bày nguy hại của các dục, sự ô uế, cấu nhiễm, và lợi ích của xuất ly.
Yadā bhagavā aññāsi brahmāyuṁ brāhmaṇaṁ kallacittaṁ muducittaṁ vinīvaraṇacittaṁ udaggacittaṁ pasannacittaṁ, atha yā buddhānaṁ sāmukkaṁsikā dhammadesanā taṁ pakāsesi—
And when the Buddha knew that Brahmāyu’s mind was ready, pliable, rid of hindrances, elated, and confident he revealed the special teaching of the Buddhas:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi biết tâm bà-la-môn Brahmāyu đã thuận hợp, mềm dẻo, không triền cái, hoan hỷ, tín nhiệm, bấy giờ Đức Phật trình bày giáo pháp tối thượng của các bậc Phật —
dukkhaṁ, samudayaṁ, nirodhaṁ, maggaṁ.
suffering, its origin, its cessation, and the path.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khổ, tập, diệt, đạo.
Seyyathāpi nāma suddhaṁ vatthaṁ apagatakāḷakaṁ sammadeva rajanaṁ paṭiggaṇheyya;
Just as a clean cloth rid of stains would properly absorb dye,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như tấm vải sạch không vết bẩn nhận màu nhuộm khéo;
evameva brahmāyussa brāhmaṇassa tasmiṁyeva āsane virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
in that very seat the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in the brahmin Brahmāyu:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, ngay trên tấm ghế ấy, pháp nhãn không bụi không bẩn sinh khởi nơi bà-la-môn Brahmāyu:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
“Everything that is liable to arise is liable to cease.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bất cứ pháp gì sinh từ nhân duyên, tất cả những pháp ấy đều diệt.”
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca:
Then Brahmāyu saw, attained, understood, and fathomed the Dhamma. He went beyond doubt, got rid of indecision, and became self-assured and independent of others regarding the Teacher’s instructions. He said to the Buddha:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu thấy Pháp, đạt Pháp, hiểu Pháp, đào sâu Pháp, vượt qua nghi ngờ, chấm dứt hoài nghi, đạt đến vô úy, không nương tựa nơi người khác về giáo pháp của bậc Đạo sư, nói với Đức Phật:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama!
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the teaching clear in many ways.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như dựng đứng lại vật bị lật ngược, phơi bày điều bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối để người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, Tôn giả Gotama đã trình bày Pháp bằng nhiều phương tiện.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
I go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng chúng tỳ-kheo.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gataṁ.
From this day forth, may the worthy Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mong Tôn giả Gotama ghi nhận con là nam cư sĩ đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.
Adhivāsetu ca me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Would you and the mendicant Saṅgha please accept tomorrow’s meal from me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mong Tôn giả Gotama cùng Tăng chúng tỳ-kheo nhận lời dùng bữa của con vào ngày mai.”
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
The Buddha consented with silence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật im lặng nhận lời.
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Then, knowing that the Buddha had consented, Brahmāyu rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Brahmāyu biết Đức Phật đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi:
And when the night had passed Brahmāyu had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home. Then he had the Buddha informed of the time, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Qua đêm ấy, bà-la-môn Brahmāyu cho chuẩn bị tại nhà mình các món ăn cứng ngon lành, món ăn mềm ngon lành, rồi tâu lên Đức Phật thời khắc đã đến:
“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
“It’s time, worthy Gotama, the meal is ready.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Tôn giả Gotama, thời điểm đã đến, bữa ăn đã sẵn sàng.”
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena brahmāyussa brāhmaṇassa nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to the home of the brahmin Brahmāyu, where he sat down on the seat spread out together with the Saṅgha of mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y, đi đến nhà bà-la-môn Brahmāyu; đến nơi, ngồi xuống chỗ đã được sửa soạn cùng Tăng chúng tỳ-kheo.
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo sattāhaṁ buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
For seven days, Brahmāyu served and satisfied the mendicant Saṅgha headed by the Buddha with his own hands with delicious fresh and cooked foods.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bảy ngày liền, bà-la-môn Brahmāyu tự tay dâng cúng, mời dùng cho đầy đủ Tăng chúng tỳ-kheo có Đức Phật đứng đầu bằng các món ăn cứng ngon lành, món ăn mềm ngon lành.
Atha kho bhagavā tassa sattāhassa accayena videhesu cārikaṁ pakkāmi.
When the seven days had passed, the Buddha left to wander in the Videhan lands.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Qua bảy ngày ấy, Đức Phật lên đường du hành trong xứ người Videha.
Atha kho brahmāyu brāhmaṇo acirapakkantassa bhagavato kālamakāsi.
Not long after the Buddha left, Brahmāyu passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chẳng bao lâu sau khi Đức Phật ra đi, bà-la-môn Brahmāyu qua đời.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi nhiều vị tỳ-kheo đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Các tỳ-kheo ấy ngồi một bên, bạch Đức Phật:
“brahmāyu, bhante, brāhmaṇo kālaṅkato.
“Sir, Brahmāyu has passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, bà-la-môn Brahmāyu đã qua đời.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Where has he been reborn in his next life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy sẽ đi đến cõi nào, kiếp sau ra sao?”
“Paṇḍito, bhikkhave, brahmāyu brāhmaṇo paccapādi dhammassānudhammaṁ, na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ vihesesi.
“Mendicants, the brahmin Brahmāyu was astute. He practiced in line with the teaching, and did not trouble me about the teachings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, bà-la-môn Brahmāyu là bậc có trí, đã thực hành đúng với Pháp, và chẳng làm phiền Ta bằng những cuộc tranh biện về Pháp.
Brahmāyu, bhikkhave, brāhmaṇo pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti, tattha parinibbāyī, anāvattidhammo tasmā lokā”ti.
With the ending of the five lower fetters, he’s been reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, nhờ đoạn tận năm hạ phần kiết sử, bà-la-môn Brahmāyu là bậc hóa sinh, sẽ nhập diệt độ tại đó, không còn trở lại từ cõi thế giới ấy.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các tỳ-kheo hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Brahmāyusuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Brahmāyu, bài thứ nhất, kết thúc.