← Kinh Trung Bộ

MN90 · Majjhima Nikāya

Kinh Kaṇṇakatthala

Kaṇṇakatthalasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Kaṇṇakatthala mở ra ở Ujuññā, tại vườn Nai Kaṇṇakatthala. Vua Pasenadi xứ Kosala đến Ujuññā vì một công việc và đến yết kiến Đức Phật sau bữa sáng; hai chị em Somā và Sakulā nghe tin, nhờ nhà vua chuyển lời đảnh lễ, và Đức Phật nguyện cho hai chị em được an lạc.

Nhà vua bạch rằng mình nghe nói sa-môn Gotama tuyên bố chẳng có sa-môn hay bà-la-môn nào biết tất cả, thấy tất cả và tự nhận tri kiến không còn dư sót. Đức Phật khẳng định những người ấy báng bổ bằng điều sai sự thật: lời Ngài nhớ đã nói là chẳng có ai biết tất cả, thấy tất cả cùng một lúc. Nhà vua nhận xét lời ấy nói có căn cứ; đại tướng Viḍūḍabha cho biết chuyện bàn tán vào hoàng cung từ bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa, và nhà vua triệu vị ấy đến.

Về bốn đẳng cấp Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-sa, Thủ-đà, đời hiện tại hai đẳng cấp được tuyên là tối thượng về lễ nghi; nhưng khi nhà vua hỏi về đời vị lai, Đức Phật nêu năm pháp tinh cần: tín, ít bệnh, thật thà, tinh tấn, có trí, và nói ai thành tựu được lợi ích và hạnh phúc lâu dài. Được hỏi giữa những người thành tựu còn khác nhau chăng, Ngài nói chỉ khác nhau ở nỗ lực, ví như voi, ngựa hay bò thuần hóa khéo với chưa thuần hóa. Còn nếu nỗ lực chánh đáng, Ngài nói chẳng có sự khác nhau nào: giải thoát này với giải thoát khác.

Nhà vua hỏi có chư thiên chăng; khi nói mình hỏi các vị ấy có trở lại hay không, Đức Phật đáp chư thiên còn phiền não sẽ trở lại, những vị không còn phiền não thì không. Đại tướng Viḍūḍabha hỏi chư thiên còn phiền não có thể lật đổ hay trục xuất những vị không còn phiền não chăng; Tôn giả Ānanda gỡ thắc mắc: trong cương vực, nhà vua có thể trục xuất bất cứ sa-môn bà-la-môn nào; ngoài cương vực thì không; còn chư thiên Trời Ba Mươi Ba, nhà vua còn chẳng thể nhìn thấy, huống chi trục xuất, và cũng vậy, chư thiên còn phiền não còn chẳng thể nhìn thấy những vị không còn phiền não. Nhà vua khen Tôn giả Ānanda, rồi hỏi về Phạm thiên và nhận được câu đáp tương tự.

Sañjaya họ Ākāsa đến nơi, và khi nhà vua hỏi ai đã đưa chuyện bàn tán vào hoàng cung, vị ấy và đại tướng Viḍūḍabha đều chỉ vào nhau. Nhà vua tóm lại bốn câu hỏi đã được giải đáp: sự toàn tri, sự thanh tịnh của bốn đẳng cấp, chư thiên và Phạm thiên; bất cứ điều gì mình hỏi, Đức Phật đều giải đáp.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 472 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2835f07b-9fc3-426a-839b-4ddacd5a9240 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 99054cb092627df831eb207803dde19c7787b0563a4263e6ea632a8da3e95368

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 472 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2c7bc95d-59ef-4935-b3f2-6c9a7c7ccb32 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 99054cb092627df831eb207803dde19c7787b0563a4263e6ea632a8da3e95368

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 172 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 4ad44c1c-ceb8-48d1-a5af-361c9652647e · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 76c19552e21e1ab027ed7bedfa38806df4610c6223a611886d20ed541e4ba9f0

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 172 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 629e3f3f-ddce-4456-93d0-402a4f6be9ab · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 76c19552e21e1ab027ed7bedfa38806df4610c6223a611886d20ed541e4ba9f0

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

172/172 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

141/172 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

172/172 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 90
Middle Discourses 90
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 90
Kaṇṇakatthalasutta
At Kaṇṇakatthala
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Kaṇṇakatthala
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā uruññāyaṁ viharati kaṇṇakatthale migadāye.
At one time the Buddha was staying near Ujuññā in the deer park at Kaṇṇakatthala.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Ujuññā, tại vườn Nai Kaṇṇakatthala.
Tena kho pana samayena rājā pasenadi kosalo uruññaṁ anuppatto hoti kenacideva karaṇīyena.
Now at that time King Pasenadi of Kosala had arrived at Ujuññā on some business.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, vua Pasenadi xứ Kosala đến Ujuññā vì một công việc nào đó.
Atha kho rājā pasenadi kosalo aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
Then he addressed a man,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala nói với một người hầu:
“ehi tvaṁ, ambho purisa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha:
“Please, my man, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này người ơi, hãy đến yết kiến Đức Phật; đến nơi, thay ta đảnh lễ đầu Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu:
‘rājā, bhante, pasenadi kosalo bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi xứ Kosala đảnh lễ đầu hai chân Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu.’;
evañca vadehi:
And then say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và nói thêm:
‘ajja kira, bhante, rājā pasenadi kosalo pacchābhattaṁ bhuttapātarāso bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamissatī’”ti.
‘Sir, King Pasenadi of Kosala will come to see you today when he has finished breakfast.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala sau khi dùng bữa sáng xong sẽ đến yết kiến Đức Phật.’”
“Evaṁ, devā”ti kho so puriso rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho so puriso bhagavantaṁ etadavoca:
“Yes, Your Majesty,” that man replied. He did as the king asked.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ, thưa Đại vương” — người hầu ấy đáp lời vua Pasenadi xứ Kosala, đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Người hầu ấy ngồi một bên, nói với Đức Phật:
“rājā, bhante, pasenadi kosalo bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, vua Pasenadi xứ Kosala đảnh lễ đầu hai chân Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu;
evañca vadeti:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và nói thêm:
‘ajja kira, bhante, rājā pasenadi kosalo pacchābhattaṁ bhuttapātarāso bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamissatī’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala sau khi dùng bữa sáng xong sẽ đến yết kiến Đức Phật.’”
Assosuṁ kho somā ca bhaginī sakulā ca bhaginī:
The sisters Somā and Sakulā heard this.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hai chị em Somā và Sakulā nghe được tin:
“ajja kira rājā pasenadi kosalo pacchābhattaṁ bhuttapātarāso bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamissatī”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala sau khi dùng bữa sáng xong sẽ đến yết kiến Đức Phật.”
Atha kho somā ca bhaginī sakulā ca bhaginī rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ bhattābhihāre upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
While the meal was being served, they approached the king and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi khi bữa ăn đang được dâng cúng, hai chị em đi đến chỗ nhà vua và nói:
“tena hi, mahārāja, amhākampi vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha:
“Great king, since you are going to the Buddha, please bow in our name with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, xin Đại vương thay chúng tôi đảnh lễ đầu Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu:
‘somā ca, bhante, bhaginī sakulā ca bhaginī bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, hai chị em Somā và Sakulā đảnh lễ đầu hai chân Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu.’”
Atha kho rājā pasenadi kosalo pacchābhattaṁ bhuttapātarāso yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
When he had finished breakfast, King Pasenadi went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala, sau khi dùng bữa sáng xong, đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Vua Pasenadi xứ Kosala ngồi một bên, nói với Đức Phật:
“somā ca, bhante, bhaginī sakulā ca bhaginī bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī”ti.
“Sir, the sisters Somā and Sakulā bow with their heads to your feet. They ask if you are healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, hai chị em Somā và Sakulā đảnh lễ đầu hai chân Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu.”
“Kiṁ pana, mahārāja, somā ca bhaginī sakulā ca bhaginī aññaṁ dūtaṁ nālatthun”ti?
“But, Great King, couldn’t they get any other messenger?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhưng này Đại vương, hai chị em ấy chẳng tìm được người đưa thư nào khác sao?”
“Assosuṁ kho, bhante, somā ca bhaginī sakulā ca bhaginī:
So Pasenadi explained the circumstances of the message.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, hai chị em Somā và Sakulā nghe được tin:
‘ajja kira rājā pasenadi kosalo pacchābhattaṁ bhuttapātarāso bhagavantaṁ dassanāya upasaṅkamissatī’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hôm nay vua Pasenadi xứ Kosala sau khi dùng bữa sáng xong sẽ đến yết kiến Đức Phật.’
Atha kho, bhante, somā ca bhaginī sakulā ca bhaginī maṁ bhattābhihāre upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi khi bữa ăn đang được dâng cúng, hai chị em đi đến chỗ con và nói:
‘tena hi, mahārāja, amhākampi vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Đại vương, xin Đại vương thay chúng tôi đảnh lễ đầu Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu —
somā ca bhaginī sakulā ca bhaginī bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hai chị em Somā và Sakulā đảnh lễ đầu hai chân Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu.’”
“Sukhiniyo hontu tā, mahārāja, somā ca bhaginī sakulā ca bhaginī”ti.
The Buddha said, “May the sisters Somā and Sakulā be happy, Great King.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Xin hai chị em Somā và Sakulā được an lạc, này Đại vương.” — Đức Phật nói vậy.
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
Then the king said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala nói với Đức Phật:
“sutaṁ metaṁ, bhante, samaṇo gotamo evamāha:
“I have heard, sir, that the ascetic Gotama says this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con nghe sa-môn Gotama nói như sau:
‘natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānissati, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti.
‘There is no ascetic or brahmin who will ever claim to be all-knowing and all-seeing, to know and see everything without exception: that is not possible.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chẳng có sa-môn hay bà-la-môn nào biết tất cả, thấy tất cả và tự nhận tri kiến không còn dư sót; điều ấy không thể xảy ra.’
Ye te, bhante, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo evamāha—natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānissati, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti; kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti?
I trust those who say this repeat what the Buddha has said, and do not misrepresent him with an untruth? Is their explanation in line with the teaching? Are there any legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, những ai nói ‘sa-môn Gotama nói như vậy’ — chắc những người ấy nói đúng lời Đức Phật, chẳng báng bổ Đức Phật bằng điều không thật, giải thích hợp với Pháp, và chẳng có lý do chính đáng nào để phản bác và phê phán chăng?”
“Ye te, mahārāja, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo evamāha—natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānissati, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti; na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca pana maṁ te asatā abhūtenā”ti.
“Great king, those who say this do not repeat what I have said. They misrepresent me with what is false and untrue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, những người ấy không nói đúng lời Ta; họ báng bổ Ta bằng điều sai sự thật và không thật.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo viṭaṭūbhaṁ senāpatiṁ āmantesi:
Then King Pasenadi addressed General Viḍūḍabha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala nói với đại tướng Viḍūḍabha:
“ko nu kho, senāpati, imaṁ kathāvatthuṁ rājantepure abbhudāhāsī”ti?
“General, who introduced this topic of discussion to the royal compound?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này đại tướng, ai đã đưa chuyện bàn tán ấy vào hoàng cung?”
“Sañjayo, mahārāja, brāhmaṇo ākāsagotto”ti.
“It was Sañjaya, Great King, the brahmin of the Ākāsa clan.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, là bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo aññataraṁ purisaṁ āmantesi:
Then the king addressed a man,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi nhà vua nói với một người hầu:
“ehi tvaṁ, ambho purisa, mama vacanena sañjayaṁ brāhmaṇaṁ ākāsagottaṁ āmantehi:
“Please, my man, in my name tell Sañjaya that
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này người ơi, hãy thay ta đến truyền lời bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa:
‘rājā taṁ, bhante, pasenadi kosalo āmantetī’”ti.
King Pasenadi summons him.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, vua Pasenadi xứ Kosala triệu ngài.’”
“Evaṁ, devā”ti kho so puriso rañño pasenadissa kosalassa paṭissutvā yena sañjayo brāhmaṇo ākāsagotto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā sañjayaṁ brāhmaṇaṁ ākāsagottaṁ etadavoca:
“Yes, Your Majesty,” that man replied. He did as the king asked.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ, thưa Đại vương” — người hầu ấy đáp lời vua Pasenadi xứ Kosala, đi đến bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa; đến nơi, nói với bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa:
“rājā taṁ, bhante, pasenadi kosalo āmantetī”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa ngài, vua Pasenadi xứ Kosala triệu ngài.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
Then the king said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala nói với Đức Phật:
“siyā nu kho, bhante, bhagavatā aññadeva kiñci sandhāya bhāsitaṁ, tañca jano aññathāpi paccāgaccheyya.
“Sir, might the Buddha have spoken in reference to one thing, but that person believed it was something else?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, có khi nào Đức Phật nói về một việc, mà người ấy lại hiểu theo một nghĩa khác chăng?
Yathā kathaṁ pana, bhante, bhagavā abhijānāti vācaṁ bhāsitā”ti?
How then do you recall making this statement?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, Đức Phật nhớ mình đã nói lời ấy như thế nào?”
“Evaṁ kho ahaṁ, mahārāja, abhijānāmi vācaṁ bhāsitā:
“Great king, I recall making this statement:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, Ta nhớ mình đã nói lời ấy như sau:
‘natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo sakideva sabbaṁ ñassati, sabbaṁ dakkhiti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’”ti.
‘There is no ascetic or brahmin who will ever know all and see all simultaneously: that is not possible.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chẳng có sa-môn hay bà-la-môn nào biết tất cả, thấy tất cả cùng một lúc; điều ấy không thể xảy ra.’”
“Heturūpaṁ, bhante, bhagavā āha; saheturūpaṁ, bhante, bhagavā āha:
“What the Buddha says appears reasonable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đức Phật đã nói có căn cứ, Đức Phật đã nói có nguyên nhân:
‘natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo sakideva sabbaṁ ñassati, sabbaṁ dakkhiti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chẳng có sa-môn hay bà-la-môn nào biết tất cả, thấy tất cả cùng một lúc; điều ấy không thể xảy ra.’
Cattārome, bhante, vaṇṇā—
Sir, there are these four classes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, có bốn đẳng cấp —
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
aristocrats, brahmins, peasants, and menials.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-sa, Thủ-đà.
Imesaṁ nu kho, bhante, catunnaṁ vaṇṇānaṁ siyā viseso siyā nānākaraṇan”ti?
Is there any difference between them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giữa bốn đẳng cấp ấy, bạch Thế Tôn, có sự khác biệt, có sự khác nhau chăng?”
“Cattārome, mahārāja, vaṇṇā—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, có bốn đẳng cấp —
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-sa, Thủ-đà.
Imesaṁ kho, mahārāja, catunnaṁ vaṇṇānaṁ dve vaṇṇā aggamakkhāyanti—
“Of the four classes, two are said to be preeminent—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giữa bốn đẳng cấp ấy, thưa Đại vương, có hai đẳng cấp được tuyên là tối thượng —
khattiyā ca brāhmaṇā ca—
the aristocrats and the brahmins.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sát-đế-lợi và Bà-la-môn —
yadidaṁ abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammānī”ti.
That is, when it comes to bowing down, rising up, greeting with cupped palms, and observing proper etiquette.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nghĩa là về việc đảnh lễ, đứng dậy chào, chắp tay cúi chào và những lễ nghi đúng mực.”
“Nāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ diṭṭhadhammikaṁ pucchāmi;
“Sir, I am not asking you about this life,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con không hỏi về đời hiện tại,
samparāyikāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ pucchāmi.
but about the life to come.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
con hỏi về đời vị lai.
Cattārome, bhante, vaṇṇā—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, có bốn đẳng cấp —
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-sa, Thủ-đà.
Imesaṁ nu kho, bhante, catunnaṁ vaṇṇānaṁ siyā viseso siyā nānākaraṇan”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giữa bốn đẳng cấp ấy, bạch Thế Tôn, có sự khác biệt, có sự khác nhau chăng?”
“Pañcimāni, mahārāja, padhāniyaṅgāni.
“Great king, there are these five factors that support meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, có năm pháp tinh cần.
Katamāni pañca?
What five?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm pháp nào?
Idha, mahārāja, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ:
It’s when a mendicant has faith in the Realized One’s awakening:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, thưa Đại vương, vị tỳ-kheo có tín, tín thọ giác ngộ của Như Lai:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti;
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bậc Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc tối thượng điều phục những người đáng được điều phục, thầy của chư thiên và loài người, bậc Phật, Thế Tôn.’;
appābādho hoti appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya;
They are rarely ill or unwell. Their stomach digests well, being neither too hot nor too cold, but just right, and fit for meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ít bệnh, ít đau, có bộ máy tiêu hóa đồng đều, không quá lạnh, không quá nóng, đủ sức tinh cần;
asaṭho hoti amāyāvī yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu;
They’re not devious or deceitful. They reveal themselves honestly to the Teacher or sensible spiritual companions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thật thà trung thực, tự trình bày chính mình như thật với bậc Đạo sư hay các vị đồng phạm hạnh có trí;
āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu;
They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sống với tinh tấn được khởi lên để đoạn bỏ các pháp bất thiện, thành tựu các pháp thiện; mạnh mẽ, nỗ lực kiên cường, không bỏ gánh trong các thiện pháp;
paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā—
They’re wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và có trí, thành tựu trí tuệ thấy sự sinh khởi và hoại diệt, thuộc bậc Thánh, có sức xuyên thấu, đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ —
imāni kho, mahārāja, pañca padhāniyaṅgāni.
These are the five factors that support meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thưa Đại vương, đó là năm pháp tinh cần.
Cattārome, mahārāja, vaṇṇā—
There are these four classes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có bốn đẳng cấp —
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
aristocrats, brahmins, peasants, and menials.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-sa, Thủ-đà.
Te cassu imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgatā;
If they had these five factors that support meditation,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu bốn đẳng cấp ấy thành tựu năm pháp tinh cần ấy,
ettha pana nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
that would be for their lasting welfare and happiness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì đó chính là lợi ích và hạnh phúc lâu dài của họ.”
“Cattārome, bhante, vaṇṇā—
“Sir, there are these four classes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, có bốn đẳng cấp —
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
aristocrats, brahmins, peasants, and menials.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-sa, Thủ-đà.
Te cassu imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgatā;
If they had these five factors that support meditation,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu bốn đẳng cấp ấy thành tựu năm pháp tinh cần ấy,
ettha pana nesaṁ, bhante, siyā viseso siyā nānākaraṇan”ti?
would there be any difference between them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
giữa họ, bạch Thế Tôn, còn có sự khác biệt, có sự khác nhau chăng?”
“Ettha kho nesāhaṁ, mahārāja, padhānavemattataṁ vadāmi.
“In that case, I say it is the disparity of their efforts in meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Trường hợp ấy, thưa Đại vương, Ta nói đến sự khác biệt trong nỗ lực tinh cần.
Seyyathāpissu, mahārāja, dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā sudantā suvinītā, dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā adantā avinītā.
Suppose there was a pair of elephants or horses or oxen in training who were well tamed and well trained. And there was a pair who were not tamed or trained.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa Đại vương, ví như có hai con voi thuần, hai con ngựa thuần hay hai con bò thuần được thuần hóa khéo, huấn luyện khéo; và hai con voi thuần, hai con ngựa thuần hay hai con bò thuần chưa thuần hóa, chưa huấn luyện.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương nghĩ thế nào?
ye te dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā sudantā suvinītā, api nu te dantāva dantakāraṇaṁ gaccheyyuṁ, dantāva dantabhūmiṁ sampāpuṇeyyun”ti?
Wouldn’t the pair that was well tamed and well trained perform the tasks of the tamed, and reach the level of the tamed?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hai con được thuần hóa khéo ấy có thực hiện việc của loài thuần hóa và đạt được trình độ của loài thuần hóa chăng?”
“Evaṁ, bhante”.
“Yes, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ có, bạch Thế Tôn.”
“Ye pana te dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā adantā avinītā, api nu te adantāva dantakāraṇaṁ gaccheyyuṁ, adantāva dantabhūmiṁ sampāpuṇeyyuṁ, seyyathāpi te dve hatthidammā vā assadammā vā godammā vā sudantā suvinītā”ti?
“But would the pair that was not tamed and trained perform the tasks of the tamed and reach the level of the tamed, just like the tamed pair?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Còn hai con chưa thuần hóa, chưa huấn luyện ấy có thực hiện việc của loài thuần hóa và đạt được trình độ của loài thuần hóa, giống như hai con được thuần hóa khéo ấy chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Evameva kho, mahārāja, yaṁ taṁ saddhena pattabbaṁ appābādhena asaṭhena amāyāvinā āraddhavīriyena paññavatā, taṁ vata assaddho bahvābādho saṭho māyāvī kusīto duppañño pāpuṇissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
“In the same way, there are things that must be attained by someone with faith, health, integrity, energy, and wisdom. It’s not possible for a faithless, unhealthy, deceitful, lazy, witless person to attain them.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, thưa Đại vương, những điều mà người có tín, ít bệnh, thật thà, tinh tấn, có trí phải đạt được — nói rằng người không tín, nhiều bệnh, xảo trá, lười biếng, ngu dốt sẽ đạt được — điều ấy không thể xảy ra.”
“Heturūpaṁ, bhante, bhagavā āha; saheturūpaṁ, bhante, bhagavā āha.
“What the Buddha says appears reasonable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đức Phật đã nói có căn cứ, Đức Phật đã nói có nguyên nhân.
Cattārome, bhante, vaṇṇā—
Sir, there are these four classes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, có bốn đẳng cấp —
khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā.
aristocrats, brahmins, peasants, and workers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Phệ-sa, Thủ-đà.
Te cassu imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgatā te cassu sammappadhānā;
If they had these five factors that support meditation, and if they practiced rightly,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu bốn đẳng cấp ấy thành tựu năm pháp tinh cần ấy và nỗ lực chánh đáng,
ettha pana nesaṁ, bhante, siyā viseso siyā nānākaraṇan”ti?
would there be any difference between them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
giữa họ, bạch Thế Tôn, còn có sự khác biệt, có sự khác nhau chăng?”
“Ettha kho nesāhaṁ, mahārāja, na kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi—yadidaṁ vimuttiyā vimuttiṁ.
“In that case, I say that there is no difference between the freedom of one and the freedom of the other.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Trường hợp ấy, thưa Đại vương, Ta nói chẳng có sự khác nhau nào — đó là giải thoát này với giải thoát khác.
Seyyathāpi, mahārāja, puriso sukkhaṁ sākakaṭṭhaṁ ādāya aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyya;
Suppose a person took dry teak wood and lit a fire and produced heat.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa Đại vương, ví như một người lấy gỗ teck khô mà nhóm lửa, làm xuất hiện ngọn lửa;
athāparo puriso sukkhaṁ sālakaṭṭhaṁ ādāya aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyya;
Then another person did the same using sāl wood,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
một người khác lấy gỗ sāl khô mà nhóm lửa, làm xuất hiện ngọn lửa;
athāparo puriso sukkhaṁ ambakaṭṭhaṁ ādāya aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyya;
another used mango wood,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
một người khác lấy gỗ xoài khô mà nhóm lửa, làm xuất hiện ngọn lửa;
athāparo puriso sukkhaṁ udumbarakaṭṭhaṁ ādāya aggiṁ abhinibbatteyya, tejo pātukareyya.
while another used wood of the cluster fig.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và một người khác lấy gỗ đề vặt khô mà nhóm lửa, làm xuất hiện ngọn lửa.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương nghĩ thế nào?
siyā nu kho tesaṁ aggīnaṁ nānādāruto abhinibbattānaṁ kiñci nānākaraṇaṁ acciyā vā acciṁ, vaṇṇena vā vaṇṇaṁ, ābhāya vā ābhan”ti?
Would there be any difference between the fires produced by these different kinds of wood, that is, in the flame, color, or luminosity?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những ngọn lửa do các loại gỗ khác nhau mà sinh ra ấy, có sự khác nhau nào về ngọn lửa với ngọn lửa, màu sắc với màu sắc, ánh sáng với ánh sáng chăng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ không, bạch Thế Tôn.”
“Evameva kho, mahārāja, yaṁ taṁ tejaṁ vīriyā nimmathitaṁ padhānābhinibbattaṁ, nāhaṁ tattha kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi—yadidaṁ vimuttiyā vimuttin”ti.
“In the same way, when fire has been churned by energy and produced by effort, I say that there is no difference between the freedom of one and the freedom of the other.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, thưa Đại vương, sức nóng được ma sát từ tinh tấn, được sinh ra từ nỗ lực — Ta nói chẳng có sự khác nhau nào — đó là giải thoát này với giải thoát khác.”
“Heturūpaṁ, bhante, bhagavā āha; saheturūpaṁ, bhante, bhagavā āha.
“What the Buddha says appears reasonable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đức Phật đã nói có căn cứ, Đức Phật đã nói có nguyên nhân.
Kiṁ pana, bhante, atthi devā”ti?
But sir, do gods survive?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, có chư thiên chăng?”
“Kiṁ pana tvaṁ, mahārāja, evaṁ vadesi:
“But what exactly are you asking?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương hỏi cụ thể thế nào:
‘kiṁ pana, bhante, atthi devā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, có chư thiên chăng?’”
“Yadi vā te, bhante, devā āgantāro itthattaṁ yadi vā anāgantāro itthattaṁ”?
“Whether those gods come back to this place or not.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Con hỏi: những chư thiên ấy có trở lại chỗ này hay không trở lại chỗ này.”
“Ye te, mahārāja, devā sabyābajjhā te devā āgantāro itthattaṁ, ye te devā abyābajjhā te devā anāgantāro itthattan”ti.
“Those gods who are afflicted come back to this place, but those who are unafflicted do not come back.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Những chư thiên còn phiền não sẽ trở lại chỗ này; những chư thiên không còn phiền não sẽ không trở lại chỗ này.”
Evaṁ vutte, viṭaṭūbho senāpati bhagavantaṁ etadavoca:
When he said this, General Viḍūḍabha said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe nói vậy, đại tướng Viḍūḍabha nói với Đức Phật:
“ye te, bhante, devā sabyābajjhā āgantāro itthattaṁ te devā, ye te devā abyābajjhā anāgantāro itthattaṁ te deve tamhā ṭhānā cāvessanti vā pabbājessanti vā”ti?
“Sir, will the gods who are afflicted topple or expel from their place the gods who are unafflicted?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, những chư thiên còn phiền não sẽ trở lại chỗ này, những chư thiên không còn phiền não sẽ không trở lại chỗ này — vậy những chư thiên còn phiền não có thể lật đổ hay trục xuất những chư thiên không còn phiền não khỏi chỗ ấy chăng?”
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
Then Venerable Ānanda thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Ānanda nghĩ:
“ayaṁ kho viṭaṭūbho senāpati rañño pasenadissa kosalassa putto;
“This General Viḍūḍabha is King Pasenadi’s son,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại tướng Viḍūḍabha này là con của vua Pasenadi xứ Kosala,
ahaṁ bhagavato putto.
and I am the Buddha’s son.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn ta là con của Đức Phật.
Ayaṁ kho kālo yaṁ putto puttena manteyyā”ti.
Now is the time for one son to confer with another.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã đến lúc một đứa con tâm sự với một đứa con.”
Atha kho āyasmā ānando viṭaṭūbhaṁ senāpatiṁ āmantesi:
So Ānanda addressed General Viḍūḍabha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Ānanda nói với đại tướng Viḍūḍabha:
“tena hi, senāpati, taññevettha paṭipucchissāmi; yathā te khameyya tathā naṁ byākareyyāsi.
“Well then, general, I’ll ask you about this in return, and you can answer as you like.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy này đại tướng, Ta sẽ hỏi lại ngươi về điều này; ngươi hãy trả lời tùy ý ngươi.
Taṁ kiṁ maññasi, senāpati,
What do you think, general?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này đại tướng, ngươi nghĩ thế nào?
yāvatā rañño pasenadissa kosalassa vijitaṁ yattha ca rājā pasenadi kosalo issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreti, pahoti tattha rājā pasenadi kosalo samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā puññavantaṁ vā apuññavantaṁ vā brahmacariyavantaṁ vā abrahmacariyavantaṁ vā tamhā ṭhānā cāvetuṁ vā pabbājetuṁ vā”ti?
As far as the dominion of King Pasenadi of Kosala extends, where he rules as sovereign lord, can he topple or expel from that place any ascetic or brahmin, regardless of whether they are good or bad, or whether or not they are genuine spiritual practitioners?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong cương vực của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi nhà vua trị vì với chủ quyền, nhà vua có thể lật đổ hay trục xuất bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào — dù có phước hay vô phước, có phạm hạnh hay không phạm hạnh — khỏi chỗ ấy chăng?”
“Yāvatā, bho, rañño pasenadissa kosalassa vijitaṁ yattha ca rājā pasenadi kosalo issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreti, pahoti tattha rājā pasenadi kosalo samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā puññavantaṁ vā apuññavantaṁ vā brahmacariyavantaṁ vā abrahmacariyavantaṁ vā tamhā ṭhānā cāvetuṁ vā pabbājetuṁ vā”ti.
“He can, worthy.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Tôn giả, trong cương vực của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi nhà vua trị vì với chủ quyền, nhà vua có thể lật đổ hay trục xuất bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào — dù có phước hay vô phước, có phạm hạnh hay không phạm hạnh — khỏi chỗ ấy.”
“Taṁ kiṁ maññasi, senāpati,
“What do you think, general?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này đại tướng, ngươi nghĩ thế nào?
yāvatā rañño pasenadissa kosalassa avijitaṁ yattha ca rājā pasenadi kosalo na issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreti, tattha pahoti rājā pasenadi kosalo samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā puññavantaṁ vā apuññavantaṁ vā brahmacariyavantaṁ vā abrahmacariyavantaṁ vā tamhā ṭhānā cāvetuṁ vā pabbājetuṁ vā”ti?
As far as the dominion of King Pasenadi does not extend, where he does not rule as sovereign lord, can he topple or expel from that place any ascetic or brahmin, regardless of whether they are good or bad, or whether or not they are genuine spiritual practitioners?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngoài cương vực của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi nhà vua không trị vì với chủ quyền, nhà vua có thể lật đổ hay trục xuất bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào — dù có phước hay vô phước, có phạm hạnh hay không phạm hạnh — khỏi chỗ ấy chăng?”
“Yāvatā, bho, rañño pasenadissa kosalassa avijitaṁ yattha ca rājā pasenadi kosalo na issariyādhipaccaṁ rajjaṁ kāreti, na tattha pahoti rājā pasenadi kosalo samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā puññavantaṁ vā apuññavantaṁ vā brahmacariyavantaṁ vā abrahmacariyavantaṁ vā tamhā ṭhānā cāvetuṁ vā pabbājetuṁ vā”ti.
“He cannot, worthy.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Tôn giả, ngoài cương vực của vua Pasenadi xứ Kosala, nơi nhà vua không trị vì với chủ quyền, nhà vua không thể lật đổ hay trục xuất bất cứ sa-môn hay bà-la-môn nào — dù có phước hay vô phước, có phạm hạnh hay không phạm hạnh — khỏi chỗ ấy.”
“Taṁ kiṁ maññasi, senāpati,
“What do you think, general?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này đại tướng, ngươi nghĩ thế nào?
sutā te devā tāvatiṁsā”ti?
Have you heard of the gods of the thirty-three?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngươi có nghe đến chư thiên Trời Ba Mươi Ba chưa?”
“Evaṁ, bho.
“Yes, worthy,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ có, thưa Tôn giả.
Sutā me devā tāvatiṁsā.
I’ve heard of them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con có nghe đến chư thiên Trời Ba Mươi Ba.
Idhāpi bhotā raññā pasenadinā kosalena sutā devā tāvatiṁsā”ti.
and so has the worthy King Pasenadi.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và cả Tôn giả Pasenadi xứ Kosala này cũng đã nghe đến chư thiên Trời Ba Mươi Ba.”
“Taṁ kiṁ maññasi, senāpati,
“What do you think, general?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này đại tướng, ngươi nghĩ thế nào?
pahoti rājā pasenadi kosalo deve tāvatiṁse tamhā ṭhānā cāvetuṁ vā pabbājetuṁ vā”ti?
Can King Pasenadi topple or expel from their place the gods of the thirty-three?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua Pasenadi xứ Kosala có thể lật đổ hay trục xuất chư thiên Trời Ba Mươi Ba khỏi chỗ ấy chăng?”
“Dassanampi, bho, rājā pasenadi kosalo deve tāvatiṁse nappahoti, kuto pana tamhā ṭhānā cāvessati vā pabbājessati vā”ti?
“King Pasenadi can’t even see the gods of the thirty-three, so how could he possibly topple or expel them from their place?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Tôn giả, vua Pasenadi xứ Kosala còn chẳng thể nhìn thấy chư thiên Trời Ba Mươi Ba, huống chi lật đổ hay trục xuất họ khỏi chỗ ấy.”
“Evameva kho, senāpati, ye te devā sabyābajjhā āgantāro itthattaṁ te devā, ye te devā abyābajjhā anāgantāro itthattaṁ te deve dassanāyapi nappahonti; kuto pana tamhā ṭhānā cāvessanti vā pabbājessanti vā”ti?
“In the same way, general, the gods who are afflicted can’t even see the gods who are unafflicted, so how could they possibly topple or expel them from their place?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này đại tướng, những chư thiên còn phiền não còn chẳng thể nhìn thấy những chư thiên không còn phiền não, huống chi lật đổ hay trục xuất họ khỏi chỗ ấy.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
Then the king said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala nói với Đức Phật:
“konāmo ayaṁ, bhante, bhikkhū”ti?
“Sir, what is this mendicant’s name?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, vị tỳ-kheo này tên gì?”
“Ānando nāma, mahārājā”ti.
“Ānanda, Great King.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, vị ấy tên Ānanda.”
“Ānando vata bho, ānandarūpo vata bho.
“A joy he is, and a joy he seems!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả là vị An Lạc, quả là dáng vẻ an lạc!
Heturūpaṁ, bhante, āyasmā ānando āha; saheturūpaṁ, bhante, āyasmā ānando āha.
What Venerable Ānanda says seems reasonable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda đã nói có căn cứ, đã nói có nguyên nhân.
Kiṁ pana, bhante, atthi brahmā”ti?
But sir, does a divinity survive?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, có Phạm thiên chăng?”
“Kiṁ pana tvaṁ, mahārāja, evaṁ vadesi:
“But what exactly are you asking?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương hỏi cụ thể thế nào:
‘kiṁ pana, bhante, atthi brahmā’”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, có Phạm thiên chăng?’”
“Yadi vā so, bhante, brahmā āgantā itthattaṁ, yadi vā anāgantā itthattan”ti?
“Whether that divinity comes back to this place or not.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Con hỏi: Phạm thiên ấy có trở lại chỗ này hay không trở lại chỗ này.”
“Yo so, mahārāja, brahmā sabyābajjho so brahmā āgantā itthattaṁ, yo so brahmā abyābajjho so brahmā anāgantā itthattan”ti.
“A divinity who is afflicted comes back to this place, but one who is unafflicted does not come back.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Phạm thiên còn phiền não sẽ trở lại chỗ này; Phạm thiên không còn phiền não sẽ không trở lại chỗ này.”
Atha kho aññataro puriso rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ etadavoca:
Then a certain man said to the king,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi một người nào đó nói với vua Pasenadi xứ Kosala:
“sañjayo, mahārāja, brāhmaṇo ākāsagotto āgato”ti.
“Great king, Sañjaya, the brahmin of the Ākāsa clan, has come.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa đã đến.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo sañjayaṁ brāhmaṇaṁ ākāsagottaṁ etadavoca:
Then King Pasenadi asked Sañjaya,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala hỏi bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa:
“ko nu kho, brāhmaṇa, imaṁ kathāvatthuṁ rājantepure abbhudāhāsī”ti?
“Brahmin, who introduced this topic of discussion to the royal compound?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này bà-la-môn, ai đã đưa chuyện bàn tán ấy vào hoàng cung?”
“Viṭaṭūbho, mahārāja, senāpatī”ti.
“It was General Viḍūḍabha, Great King.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, là đại tướng Viḍūḍabha.”
Viṭaṭūbho senāpati evamāha:
But Viḍūḍabha said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng đại tướng Viḍūḍabha nói:
“sañjayo, mahārāja, brāhmaṇo ākāsagotto”ti.
“It was Sañjaya, Great King, the brahmin of the Ākāsa clan.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, là bà-la-môn Sañjaya họ Ākāsa.”
Atha kho aññataro puriso rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ etadavoca:
Then a certain man said to the king,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi một người nào đó nói với vua Pasenadi xứ Kosala:
“yānakālo, mahārājā”ti.
“It’s time to go, Great King.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, đã đến giờ về.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṁ etadavoca:
So the king said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala nói với Đức Phật:
“sabbaññutaṁ mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ apucchimhā, sabbaññutaṁ bhagavā byākāsi;
“Sir, I asked you about omniscience, and you answered.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con hỏi Đức Phật về sự toàn tri, Đức Phật đã giải đáp;
tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca, tena camhā attamanā.
I endorse and accept this, and am satisfied with it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
điều ấy được con ưa thích và chấp nhận, con hài lòng về điều ấy.
Cātuvaṇṇisuddhiṁ mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ apucchimhā, cātuvaṇṇisuddhiṁ bhagavā byākāsi;
I asked you about purification in the four classes,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con hỏi Đức Phật về sự thanh tịnh của bốn đẳng cấp, Đức Phật đã giải đáp;
tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca, tena camhā attamanā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
điều ấy được con ưa thích và chấp nhận, con hài lòng về điều ấy.
Adhideve mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ apucchimhā, adhideve bhagavā byākāsi;
about the gods,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con hỏi Đức Phật về chư thiên, Đức Phật đã giải đáp;
tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca, tena camhā attamanā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
điều ấy được con ưa thích và chấp nhận, con hài lòng về điều ấy.
Adhibrahmānaṁ mayaṁ, bhante, bhagavantaṁ apucchimhā, adhibrahmānaṁ bhagavā byākāsi;
and about divinities, and you answered in each case.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con hỏi Đức Phật về Phạm thiên, Đức Phật đã giải đáp;
tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca, tena camhā attamanā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
điều ấy được con ưa thích và chấp nhận, con hài lòng về điều ấy.
Yaṁ yadeva ca mayaṁ bhagavantaṁ apucchimhā taṁ tadeva bhagavā byākāsi;
Whatever I asked the Buddha about, he answered.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ điều gì con hỏi Đức Phật, Đức Phật đều giải đáp;
tañca panamhākaṁ ruccati ceva khamati ca, tena camhā attamanā.
I endorse and accept this, and am satisfied with it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
điều ấy được con ưa thích và chấp nhận, con hài lòng về điều ấy.
Handa ca dāni mayaṁ, bhante, gacchāma;
Well, now, sir, I must go.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, giờ đây con xin phép được về;
bahukiccā mayaṁ bahukaraṇīyā”ti.
I have many duties, and much to do.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
con còn nhiều công việc, nhiều việc phải làm.”
“Yassadāni tvaṁ, mahārāja, kālaṁ maññasī”ti.
“Please, Great King, go at your convenience.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Đại vương, hãy đi khi nhà vua thấy hợp lúc.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmīti.
Then King Pasenadi approved and agreed with what the Buddha said. Then he got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala tán thán và tùy hỷ lời Đức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Kaṇṇakatthalasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Kaṇṇakatthala, bài thứ mười, kết thúc.
Rājavaggo niṭṭhito catuttho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Phẩm Vua thứ tư, kết thúc.
Tassuddānaṁ
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tóm lược:
Ghaṭikāro raṭṭhapālo,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ghaṭīkāra, Raṭṭhapāla,
maghadevo madhuriyaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Makhādeva, kinh Madhurā;
Bodhi aṅgulimālo ca,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bodhi, Aṅgulimāla,
piyajātaṁ bāhitikaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sinh Từ Điều Thân Yêu, Vải Nước Ngoài;
Dhammacetiyasuttañca,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Tháp Pháp,
dasamaṁ kaṇṇakatthalaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và Kaṇṇakatthala — bài thứ mười.