← Kinh Trung Bộ

MN87 · Majjhima Nikāya

Kinh Sinh Từ Điều Thân Yêu

Piyajātikasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Sinh Từ Điều Thân Yêu diễn ra tại rừng Jeta, Sāvatthī. Một gia chủ mất đứa con một yêu dấu: từ khi con mất, ông chẳng còn muốn làm việc gì, chẳng còn muốn ăn gì, ra bãi thiêu khóc than "Con ơi, con một của bố ở đâu?". Đức Phật nói sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu; gia chủ bác bỏ, bảo niềm an lạc và hạnh phúc mới sinh từ những điều thân yêu, rồi ra đi kể lại cho các con bạc, các con bạc cũng tán đồng.

Chuyện ấy truyền đến hoàng cung. Vua Pasenadi kể lại cho hoàng hậu Mallikā và chê bà cứ hoan hỷ theo mọi điều sa-môn Gotama nói như học trò tán đồng vị thầy, rồi đuổi bà đi. Mallikā sai bà-la-môn Nāḷijaṅgha đến hỏi lại Đức Phật và dặn mang về lời đáp đầy đủ, vì Như Lai không nói điều dối trá. Đức Phật xác nhận lời ấy và nêu phương tiện: người đàn bà mất mẹ đã phát điên mất trí, đi hỏi khắp các phố "Ai thấy mẹ tôi không?"; Ngài lặp lại tình cảnh ấy cho người đàn bà với cha, em trai, chị em gái, con trai, con gái, chồng đã mất, rồi cho người đàn ông với từng thân quyến.

Một người đàn bà về ở nhà họ hàng bị người ta muốn tách khỏi chồng để gả cho người khác, dù bà không muốn; người chồng cắt người vợ làm đôi, mổ bụng tự tử, nghĩ sau khi chết cả hai sẽ ở với nhau. Nāḷijaṅgha mang lời ấy về cho Mallikā.

Mallikā đến hỏi vua: có yêu công chúa Vajirī không, có yêu hoàng hậu Vāsabhā người Sát-đế-lợi không, có yêu vị đại tướng con trai Viḍūḍabha không, có yêu thiếp không, và có yêu hai nước Kāsi-Kosala không? Với từng người mà vua nhận là thương yêu, khi được hỏi nếu điều ấy đổi thay, hoại mất thì có sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não chăng, vua đáp nếu nó đổi thay hoại mất thì mạng sống của ta cũng có thể đổi thay, huống chi làm sao không sinh sầu; Mallikā kết luận mỗi lần như vậy là điều Thế Tôn đã nói.

Vua khen Mallikā đã hỏi khéo và nhìn nhận bậc Thế Tôn có trí tuệ xuyên thấu sâu xa; ông rửa tay, khoác y qua một vai, chắp tay hướng về Đức Phật thốt lên ba lần: Đảnh lễ Đức Phật, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác! Bài kinh qua đó cho thấy chính những điều ta thương yêu nhất — người thân, quyền lực — là nơi sầu khổ sinh khởi khi chúng đổi thay, hoại mất.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 465 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 4e25729d-3980-4ba0-b2a8-b8b3bcf9c19b · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 71168a64284ac4c73b052024542fc9be6a079a1cdb450aed5012dfc5656eb8a3

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 465 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 14273136-f9b0-481e-b5ba-2ece36a0c5f2 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 71168a64284ac4c73b052024542fc9be6a079a1cdb450aed5012dfc5656eb8a3

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 465 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 6364734a-f1c4-41eb-b44e-16b2edd6a2fa · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 819bb05b40e85d835509b65f8c48b19f66a2954af572aaee74195bae572def5f

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 150 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: bac1e747-f52f-43e1-b053-8421431c90ca · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f44aea2fea81592a0e1a9a2bd5cb03aec59df54b592b69a42ca8674167768b1c

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 150 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: b078b933-61db-4619-a51a-3fb8c7456649 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f44aea2fea81592a0e1a9a2bd5cb03aec59df54b592b69a42ca8674167768b1c

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 150 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: b3961158-4f54-4d7d-8eef-1b956a6b231b · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: e03999faf4c887c47136397f30ee226e565a6ea66cae01dbafb41a86de77827c

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

150/150 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

115/150 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

150/150 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 87
Middle Discourses 87
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 87
Piyajātikasutta
Born From the Beloved
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Sinh Từ Điều Thân Yêu
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Tena kho pana samayena aññatarassa gahapatissa ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato hoti.
Now at that time a certain householder’s dear and beloved only child passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, đứa con một yêu dấu của một gia chủ nào đó đã qua đời.
Tassa kālaṅkiriyāya neva kammantā paṭibhanti na bhattaṁ paṭibhāti.
After their death he didn’t feel like working or eating.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ khi con mất, ông chẳng còn muốn làm việc gì, chẳng còn muốn ăn gì.
So āḷāhanaṁ gantvā kandati:
He would go to the cremation ground and wail,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông đi đến bãi thiêu mà khóc than:
“kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā”ti.
“Where are you, my only child? Where are you, my only child?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Con ơi, con một của bố ở đâu? Con ơi, con một của bố ở đâu?”
Atha kho so gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho taṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Then he went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ ấy đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với gia chủ ấy đang ngồi một bên:
“na kho te, gahapati, sake citte ṭhitassa indriyāni, atthi te indriyānaṁ aññathattan”ti.
“Your faculties, householder, are those of one who is unstable in their own mind; there is a deterioration in your faculties.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này gia chủ, các căn của ông không còn vững vàng trong tâm mình, các căn của ông có sự biến đổi khác thường.”
“Kiñhi me, bhante, indriyānaṁ nāññathattaṁ bhavissati;
“And how, sir, could there be no deterioration of my faculties?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, các căn của con làm sao không có sự biến đổi khác thường được?
mayhañhi, bhante, ekaputto piyo manāpo kālaṅkato.
For my dear and beloved only child has passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, đứa con một yêu dấu của con đã qua đời.
Tassa kālaṅkiriyāya neva kammantā paṭibhanti, na bhattaṁ paṭibhāti.
Since their death I haven’t felt like working or eating.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ khi con mất, con chẳng còn muốn làm việc gì, chẳng còn muốn ăn gì.
Sohaṁ āḷāhanaṁ gantvā kandāmi:
I go to the cremation ground and wail:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con đi đến bãi thiêu mà khóc than:
‘kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā’”ti.
‘Where are you, my only child? Where are you, my only child?’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con ơi, con một của bố ở đâu? Con ơi, con một của bố ở đâu?’”
“Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati.
“That’s so true, householder! That’s so true, householder!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả thật vậy, này gia chủ, quả thật vậy, này gia chủ.
Piyajātikā hi, gahapati, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā”ti.
For our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.”
“Kassa kho nāmetaṁ, bhante, evaṁ bhavissati:
“Sir, who on earth could ever think such a thing!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, có ai mà lại nghĩ như vậy chăng:
‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu’?
Piyajātikā hi kho, bhante, ānandasomanassā piyappabhavikā”ti.
For our loved ones are a source of joy and happiness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, niềm an lạc và hạnh phúc mới sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.”
Atha kho so gahapati bhagavato bhāsitaṁ anabhinanditvā paṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Disagreeing with the Buddha’s statement, rejecting it, he rose from his seat and left.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ ấy không hoan hỷ, bác bỏ lời Đức Phật nói, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.
Tena kho pana samayena sambahulā akkhadhuttā bhagavato avidūre akkhehi dibbanti.
Now at that time several gamblers were playing dice not far from the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, vài con bạc đang đánh bạc không xa Đức Phật.
Atha kho so gahapati yena te akkhadhuttā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā akkhadhutte etadavoca:
That householder approached them and told them what had happened.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ ấy đi đến những con bạc ấy; đến nơi, kể lại sự việc cho các con bạc:
“idhāhaṁ, bhonto, yena samaṇo gotamo tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā samaṇaṁ gotamaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁ. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho maṁ, bhonto, samaṇo gotamo etadavoca:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các bạn, tôi đã đi đến nơi sa-môn Gotama; đến nơi, đảnh lễ sa-môn Gotama rồi ngồi xuống một bên. Sa-môn Gotama nói với tôi đang ngồi một bên:
‘na kho te, gahapati, sake citte ṭhitassa indriyāni, atthi te indriyānaṁ aññathattan’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này gia chủ, các căn của ông không còn vững vàng trong tâm mình, các căn của ông có sự biến đổi khác thường.’
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhonto, samaṇaṁ gotamaṁ etadavocaṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe nói vậy, này các bạn, tôi nói với sa-môn Gotama:
‘kiñhi me, bhante, indriyānaṁ nāññathattaṁ bhavissati;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, các căn của con làm sao không có sự biến đổi khác thường được?
mayhañhi, bhante, ekaputtako piyo manāpo kālaṅkato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, đứa con một yêu dấu của con đã qua đời.
Tassa kālaṅkiriyāya neva kammantā paṭibhanti, na bhattaṁ paṭibhāti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ khi con mất, con chẳng còn muốn làm việc gì, chẳng còn muốn ăn gì.
Sohaṁ āḷāhanaṁ gantvā kandāmi—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con đi đến bãi thiêu mà khóc than —
kahaṁ, ekaputtaka, kahaṁ, ekaputtakā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
con ơi, con một của bố ở đâu? Con ơi, con một của bố ở đâu.’
‘Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Quả thật vậy, này gia chủ, quả thật vậy, này gia chủ.
Piyajātikā hi, gahapati, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.’
‘Kassa kho nāmetaṁ, bhante, evaṁ bhavissati—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, có ai mà lại nghĩ như vậy chăng —
piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu?
Piyajātikā hi kho, bhante, ānandasomanassā piyappabhavikā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, niềm an lạc và hạnh phúc mới sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.’
Atha khvāhaṁ, bhonto, samaṇassa gotamassa bhāsitaṁ anabhinanditvā paṭikkositvā uṭṭhāyāsanā pakkamin”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này các bạn, tôi đã không hoan hỷ, bác bỏ lời sa-môn Gotama nói, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi.”
“Evametaṁ, gahapati, evametaṁ, gahapati.
“That’s so true, householder! That’s so true, householder!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả thật vậy, này gia chủ, quả thật vậy, này gia chủ.
Piyajātikā hi, gahapati, ānandasomanassā piyappabhavikā”ti.
For our loved ones are a source of joy and happiness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Niềm an lạc và hạnh phúc mới sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.”
Atha kho so gahapati “sameti me akkhadhuttehī”ti pakkāmi.
Thinking, “The gamblers and I are in agreement,” the householder left.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ ấy nghĩ “hợp ý mình với các con bạc rồi”, ra đi.
Atha kho idaṁ kathāvatthu anupubbena rājantepuraṁ pāvisi.
Eventually that topic of discussion reached the royal compound.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi chuyện bàn tán ấy dần dần truyền đến hoàng cung.
Atha kho rājā pasenadi kosalo mallikaṁ deviṁ āmantesi:
Then King Pasenadi addressed Queen Mallikā,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala nói với hoàng hậu Mallikā:
“idaṁ te, mallike, samaṇena gotamena bhāsitaṁ:
“Mallikā, your ascetic Gotama said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mallikā, sa-môn Gotama nói như sau:
‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’”ti.
‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu’.”
“Sacetaṁ, mahārāja, bhagavatā bhāsitaṁ, evametan”ti.
“If that’s what the Buddha said, Great King, then that’s how it is.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu điều ấy được Đức Phật nói, thưa Đại vương, thì quả là như vậy.”
“Evameva panāyaṁ mallikā yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati taṁ tadevassa abbhanumodati:
“No matter what the ascetic Gotama says, Mallikā agrees with him:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mallikā, cứ sa-môn Gotama nói gì thì bà cũng hoan hỷ theo như vậy:
‘Sacetaṁ, mahārāja, bhagavatā bhāsitaṁ evametan’ti.
‘If that’s what the Buddha said, Great King, then that’s how it is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nếu điều ấy được Đức Phật nói, thưa Đại vương, thì quả là như vậy.’
Seyyathāpi nāma, yaññadeva ācariyo antevāsissa bhāsati taṁ tadevassa antevāsī abbhanumodati:
You’re just like a pupil who agrees with everything their tutor says.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nh như một vị học trò cứ tán đồng mọi điều vị thầy nói:
‘evametaṁ, ācariya, evametaṁ, ācariyā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Quả vậy, thưa thầy, quả vậy, thưa thầy.’
Evameva kho tvaṁ, mallike, yaññadeva samaṇo gotamo bhāsati taṁ tadevassa abbhanumodasi:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này Mallikā, cứ sa-môn Gotama nói gì thì bà cũng hoan hỷ theo như vậy:
‘Sacetaṁ, mahārāja, bhagavatā bhāsitaṁ evametan’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nếu điều ấy được Đức Phật nói, thưa Đại vương, thì quả là như vậy.’
Cara pire, mallike, vinassā”ti.
Go away, Mallikā, get out of here!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đi ra chỗ khác đi, này Mallikā, biến khỏi đây!”
Atha kho mallikā devī nāḷijaṅghaṁ brāhmaṇaṁ āmantesi:
Then Queen Mallikā addressed the brahmin Nāḷijaṅgha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi hoàng hậu Mallikā nói với bà-la-môn Nāḷijaṅgha:
“ehi tvaṁ, brāhmaṇa, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vandāhi, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ puccha:
“Please, brahmin, go to the Buddha, and in my name bow with your head to his feet. Ask him if he is healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này bà-la-môn, hãy đến yết kiến Đức Phật; đến nơi, thay ta đảnh lễ đầu Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu:
‘mallikā, bhante, devī bhagavato pāde sirasā vandati, appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchatī’ti;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hoàng hậu Mallikā đảnh lễ đầu hai chân Đức Phật, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu.’;
evañca vadehi:
And then say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và hãy nói thêm:
‘bhāsitā nu kho, bhante, bhagavatā esā vācā—
‘Sir, did the Buddha make this statement:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, có phải Đức Phật đã nói lời này:
piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
“Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress”?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu’?
Yathā te bhagavā byākaroti taṁ sādhukaṁ uggahetvā mama āroceyyāsi.
Remember well how the Buddha answers and tell it to me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật trả lời ra sao, xin mang về báo lại cho ta đầy đủ.
Na hi tathāgatā vitathaṁ bhaṇantī”ti.
For Realized Ones say nothing that is not so.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì các bậc Như Lai không nói điều dối trá.”
“Evaṁ, bhotī”ti kho nāḷijaṅgho brāhmaṇo mallikāya deviyā paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
“Yes, ma’am,” he replied. He went to the Buddha and exchanged greetings with him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ, thưa bà chủ” — bà-la-môn Nāḷijaṅgha đáp lời hoàng hậu Mallikā, rồi đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, chào hỏi với Đức Phật.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho nāḷijaṅgho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau những lời chào hỏi và xã giao thân thiện, ngồi xuống một bên. Bà-la-môn Nāḷijaṅgha ngồi một bên, nói với Đức Phật:
“mallikā, bho gotama, devī bhoto gotamassa pāde sirasā vandati; appābādhaṁ appātaṅkaṁ lahuṭṭhānaṁ balaṁ phāsuvihāraṁ pucchati;
“Worthy Gotama, Queen Mallikā bows with her head to your feet. She asks if you are healthy and well, nimble, strong, and living comfortably.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Tôn giả Gotama, hoàng hậu Mallikā đảnh lễ đầu hai chân của Tôn giả Gotama, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít đau, khoan thai, khỏe mạnh, an trú dễ chịu;
evañca vadeti:
And she asks whether
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và hỏi thêm:
‘bhāsitā nu kho, bhante, bhagavatā esā vācā—
the Buddha made this statement:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, có phải Đức Phật đã nói lời này —
piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’”ti.
‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu’?”
“Evametaṁ, brāhmaṇa, evametaṁ, brāhmaṇa.
“That’s right, brahmin, that’s right!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả vậy, này bà-la-môn, quả vậy, này bà-la-môn.
Piyajātikā hi, brāhmaṇa, sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
For our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Tadamināpetaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā.
And here’s a way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và bằng phương tiện sau đây, này bà-la-môn, phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarissā itthiyā mātā kālamakāsi.
Once upon a time right here in Sāvatthī a certain woman’s mother passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại thành Sāvatthī này, mẹ của một người đàn bà nào đó qua đời.
Sā tassā kālakiriyāya ummattikā khittacittā rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
And because of that she went mad and lost her mind. She went from street to street and from square to square saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ chuyện đó, bà ta phát điên, mất trí, đi từ con phố này đến con phố khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, nói:
‘api me mātaraṁ addassatha, api me mātaraṁ addassathā’ti?
‘Has anyone seen my mother? Has anyone seen my mother?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai thấy mẹ tôi không? Ai thấy mẹ tôi không?’
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
And here’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bằng phương tiện này nữa, này bà-la-môn, phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarissā itthiyā pitā kālamakāsi …
Once upon a time right here in Sāvatthī a certain woman’s father …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại thành Sāvatthī này, cha của một người đàn bà nào đó qua đời …
bhātā kālamakāsi …
brother …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
em trai …
bhaginī kālamakāsi …
sister …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chị em gái …
putto kālamakāsi …
son …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
con trai …
dhītā kālamakāsi …
daughter …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
con gái …
sāmiko kālamakāsi.
husband passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chồng qua đời.
Sā tassa kālakiriyāya ummattikā khittacittā rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
And because of that she went mad and lost her mind. She went from street to street and from square to square saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ chuyện đó, bà ta phát điên, mất trí, đi từ con phố này đến con phố khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, nói:
‘api me sāmikaṁ addassatha, api me sāmikaṁ addassathā’ti?
‘Has anyone seen my husband? Has anyone seen my husband?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai thấy chồng tôi không? Ai thấy chồng tôi không?’
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
And here’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bằng phương tiện này nữa, này bà-la-môn, phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarassa purisassa mātā kālamakāsi.
Once upon a time right here in Sāvatthī a certain man’s mother …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại thành Sāvatthī này, mẹ của một người đàn ông nào đó qua đời.
So tassā kālakiriyāya ummattako khittacitto rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ chuyện đó, anh ta phát điên, mất trí, đi từ con phố này đến con phố khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, nói:
‘api me mātaraṁ addassatha, api me mātaraṁ addassathā’ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai thấy mẹ tôi không? Ai thấy mẹ tôi không?’
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bằng phương tiện này nữa, này bà-la-môn, phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarassa purisassa pitā kālamakāsi …
father …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại thành Sāvatthī này, cha của một người đàn ông nào đó qua đời …
bhātā kālamakāsi …
brother …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
em trai …
bhaginī kālamakāsi …
sister …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chị em gái …
putto kālamakāsi …
son …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
con trai …
dhītā kālamakāsi …
daughter …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
con gái …
pajāpati kālamakāsi.
wife passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vợ qua đời.
So tassā kālakiriyāya ummattako khittacitto rathikāya rathikaṁ siṅghāṭakena siṅghāṭakaṁ upasaṅkamitvā evamāha:
And because of that he went mad and lost his mind. He went from street to street and from square to square saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ chuyện đó, anh ta phát điên, mất trí, đi từ con phố này đến con phố khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, nói:
‘api me pajāpatiṁ addassatha, api me pajāpatiṁ addassathā’ti?
‘Has anyone seen my wife? Has anyone seen my wife?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai thấy vợ tôi không? Ai thấy vợ tôi không?’
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikāti.
And here’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bằng phương tiện này nữa, này bà-la-môn, phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Bhūtapubbaṁ, brāhmaṇa, imissāyeva sāvatthiyā aññatarā itthī ñātikulaṁ agamāsi.
Once upon a time right here in Sāvatthī a certain woman went to live with her relative’s family.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thuở xưa, này bà-la-môn, ngay tại thành Sāvatthī này, một người đàn bà nào đó về ở nhà họ hàng.
Tassā te ñātakā sāmikaṁ acchinditvā aññassa dātukāmā.
But her relatives wanted to divorce her from her husband and give her to another,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các người họ hàng của bà muốn tách bà khỏi chồng để gả cho người khác,
Sā ca taṁ na icchati.
who she didn’t want.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng bà không muốn như vậy.
Atha kho sā itthī sāmikaṁ etadavoca:
So she told her husband about this.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà ấy nói với chồng:
‘ime, maṁ, ayyaputta, ñātakā tvaṁ acchinditvā aññassa dātukāmā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa cậu, các người họ hàng của con muốn tách con khỏi cậu để gả cho người khác,
Ahañca taṁ na icchāmī’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng con không muốn như vậy.’
Atha kho so puriso taṁ itthiṁ dvidhā chetvā attānaṁ upphālesi:
But he cut her in two and disemboweled himself, thinking,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi người chồng cắt người vợ làm đôi, mổ bụng tự tử, nghĩ:
‘ubho pecca bhavissāmā’ti.
‘We shall be together after death.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘sau khi chết, cả hai sẽ ở với nhau.’
Imināpi kho etaṁ, brāhmaṇa, pariyāyena veditabbaṁ yathā piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā”ti.
That’s another way to understand how our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bằng phương tiện này nữa, này bà-la-môn, phải hiểu rằng sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.”
Atha kho nāḷijaṅgho brāhmaṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā yena mallikā devī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā yāvatako ahosi bhagavatā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ mallikāya deviyā ārocesi. Atha kho mallikā devī yena rājā pasenadi kosalo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ pasenadiṁ kosalaṁ etadavoca:
Then Nāḷijaṅgha the brahmin, having approved and agreed with what the Buddha said, rose from his seat, went to Queen Mallikā, and told her of all they had discussed. Then Queen Mallikā approached King Pasenadi and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi bà-la-môn Nāḷijaṅgha tán thán và tùy hỷ lời Đức Phật nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến nơi hoàng hậu Mallikā; đến nơi, kể lại đầy đủ cuộc đàm luận với Đức Phật. Rồi hoàng hậu Mallikā đi đến nơi vua Pasenadi xứ Kosala; đến nơi, nói với vua Pasenadi xứ Kosala:
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
piyā te vajirī kumārī”ti?
Do you love Princess Vajirī?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương có yêu công chúa Vajirī không?”
“Evaṁ, mallike, piyā me vajirī kumārī”ti.
“Indeed I do, Mallikā.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ có, này Mallikā, ta yêu công chúa Vajirī.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
vajiriyā te kumāriyā vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
If she were to decay and perish, would sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress arise in you?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu công chúa Vajirī đổi thay, hoại mất, thưa Đại vương có sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não chăng?”
“Vajiriyā me, mallike, kumāriyā vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“If she were to decay and perish, my life would fall apart. How could sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress not arise in me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mallikā, nếu công chúa Vajirī đổi thay, hoại mất thì mạng sống của ta cũng có thể đổi thay, huống chi làm sao không sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não?”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
“This is what the Buddha was referring to when he said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương nghĩ thế nào?
piyā te vāsabhā khattiyā”ti?
Do you love Queen Vāsabhā? …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương có yêu hoàng hậu Vāsabhā người Sát-đế-lợi không?”
“Evaṁ, mallike, piyā me vāsabhā khattiyā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ có, này Mallikā, ta yêu hoàng hậu Vāsabhā người Sát-đế-lợi.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, vāsabhāya te khattiyāya vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào? Nếu hoàng hậu Vāsabhā người Sát-đế-lợi đổi thay, hoại mất, thưa Đại vương có sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não chăng?”
“Vāsabhāya me, mallike, khattiyāya vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mallikā, nếu hoàng hậu Vāsabhā người Sát-đế-lợi đổi thay, hoại mất thì mạng sống của ta cũng có thể đổi thay, huống chi làm sao không sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não?”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, piyo te viṭaṭūbho senāpatī”ti?
Do you love your son, General Viḍūḍabha? …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có yêu vị đại tướng con trai Viḍūḍabha không?”
“Evaṁ, mallike, piyo me viṭaṭūbho senāpatī”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ có, này Mallikā, ta yêu vị đại tướng con trai Viḍūḍabha.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, viṭaṭūbhassa te senāpatissa vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào? Nếu vị đại tướng con trai Viḍūḍabha đổi thay, hoại mất, thưa Đại vương có sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não chăng?”
“Viṭaṭūbhassa me, mallike, senāpatissa vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mallikā, nếu vị đại tướng con trai Viḍūḍabha đổi thay, hoại mất thì mạng sống của ta cũng có thể đổi thay, huống chi làm sao không sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não?”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja, piyā te ahan”ti?
Do you love me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương nghĩ thế nào? Đại vương có yêu thiếp không?”
“Evaṁ, mallike, piyā mesi tvan”ti.
“Indeed I do love you, Mallikā.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ có, này Mallikā, ta yêu nàng.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
mayhaṁ te vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
If I were to decay and perish, would sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress arise in you?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu thiếp đổi thay, hoại mất, thưa Đại vương có sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não chăng?”
“Tuyhañhi me, mallike, vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“If you were to decay and perish, my life would fall apart. How could sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress not arise in me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mallikā, nếu nàng đổi thay, hoại mất thì mạng sống của ta cũng có thể đổi thay, huống chi làm sao không sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não?”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
“This is what the Buddha was referring to when he said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’ti.
‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu.
Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương nghĩ thế nào?
piyā te kāsikosalā”ti?
Do you love the realms of Kāsi and Kosala?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại vương có yêu hai nước Kāsi-Kosala không?”
“Evaṁ, mallike, piyā me kāsikosalā.
“Indeed I do, Mallikā.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ có, này Mallikā, ta yêu hai nước Kāsi-Kosala.
Kāsikosalānaṁ, mallike, ānubhāvena kāsikacandanaṁ paccanubhoma, mālāgandhavilepanaṁ dhāremā”ti.
It’s due to the bounty of Kāsi and Kosala that we use sandalwood imported from Kāsi and wear garlands, fragrance, and makeup.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ uy quyền của hai nước Kāsi-Kosala, ta thụ hưởng đàn hương Kāsi, đeo hoa, hương và phấn sáp.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
kāsikosalānaṁ te vipariṇāmaññathābhāvā uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
If these realms were to decay and perish, would sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress arise in you?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hai nước Kāsi-Kosala đổi thay, hoại mất, thưa Đại vương có sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não chăng?”
“Kāsikosalānañhi, mallike, vipariṇāmaññathābhāvā jīvitassapi siyā aññathattaṁ, kiṁ pana me na uppajjissanti sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti?
“If they were to decay and perish, my life would fall apart. How could sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress not arise in me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Mallikā, nếu hai nước Kāsi-Kosala đổi thay, hoại mất thì mạng sống của ta cũng có thể đổi thay, huống chi làm sao không sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não?”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
“This is what the Buddha was referring to when he said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘piyajātikā sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā piyappabhavikā’”ti.
‘Our loved ones are a source of sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sầu, bi, khổ, ưu, não sinh từ những điều thân yêu, hiện hữu từ nơi những điều thân yêu’.”
“Acchariyaṁ, mallike, abbhutaṁ, mallike.
“It’s incredible, Mallikā, it’s amazing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tuyệt diệu thay, này Mallikā! Tuyệt vời thay, này Mallikā!
Yāvañca so bhagavā paññāya ativijjha maññe passati.
how far the Buddha sees with penetrating wisdom, it seems to me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc Thế Tôn ấy có trí tuệ xuyên thấu sâu xa, ta nghĩ vậy.
Ehi, mallike, ācamehī”ti.
Come, Mallikā, rinse my hands.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Mallikā, hãy đến, rửa tay cho ta.”
Atha kho rājā pasenadi kosalo uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā tikkhattuṁ udānaṁ udānesi:
Then King Pasenadi rose from his seat, arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and expressed this heartfelt sentiment three times:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Pasenadi xứ Kosala từ chỗ ngồi đứng dậy, khoác y qua một vai, chắp tay hướng về Đức Phật, thốt lên lời cảm thán ba lần:
“Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
“Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đảnh lễ Đức Phật, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đảnh lễ Đức Phật, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassā”ti.
Homage to him, the blessed one, the perfected one, the fully awakened Buddha!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đảnh lễ Đức Phật, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác!”
Piyajātikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Sinh Từ Điều Thân Yêu, bài thứ bảy, kết thúc.