← Kinh Trung Bộ

MN82 · Majjhima Nikāya

Kinh Raṭṭhapāla

Raṭṭhapālasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Raṭṭhapāla kể về gia chủ Raṭṭhapāla, con trai gia tộc đứng đầu thị trấn Thullakoṭṭhika thuộc xứ người Kuru. Khi Đức Phật cùng Tăng chúng đến thuyết pháp, anh hiểu rằng sống tại gia khó giữ trọn phạm hạnh thanh tịnh, nên cầu xin xuất gia; Đức Phật không cho, vì cha mẹ anh chưa cho phép.

Cha mẹ khước từ: anh là con một, đâu biết khổ đau gì. Raṭṭhapāla nằm trên nền đất trống, nghĩ hoặc là sẽ chết hoặc là sẽ xuất gia, không ăn suốt bảy ngày; cha mẹ cùng các bạn khuyên can mỗi bên ba lần, chỉ gặp im lặng. Cuối cùng, vì các bạn nói cho phép thì còn thấy con, không cho thì con chết, cha mẹ cho phép với điều kiện xuất gia rồi phải trở về ra mắt.

Tôn giả Raṭṭhapāla chỉ sau nửa tháng đã thành A-la-hán; khi xin trở về, Đức Phật quán chiếu biết anh không thể từ bỏ việc học hỏi để quay về đời sống thấp kém, nên cho đi. Về quê, Ngài trú trong vùng rừng Nai của vua Koravya; khất thực về nhà cha thì bị rủa sả, chỉ xin phần cháo thô của đêm trước, nhờ đó mẹ nhận ra anh. Trước đống vàng thoi vàng vụn cha mở ra, anh bảo hãy kéo đổ giữa dòng sông Hằng, vì ai ôm giữ sẽ từ đó sinh sầu, bi, khổ, ưu, não; khi các bà vợ cũ nắm chân hỏi, anh chỉ gọi các chị, rồi tụng kệ về thân điểm trang chỉ là bọc xương phủ da.

Vua Koravya đến yết kiến, hỏi: người ta xuất gia vì bốn loại suy vong (già, bệnh, tài sản, thân tộc), mà anh chẳng có loại nào, vậy anh đã biết gì? Anh đáp bằng bốn sự thuyết giáo Chánh pháp của Thế Tôn: thế giới vô thường, đi đến hủy diệt; thế giới vô hộ, vô chủ; thế giới vô sở hữu, ra đi phải từ bỏ tất cả; thế giới thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái. Với từng lời, anh hỏi vua: sức trẻ đã qua lúc tám mươi tuổi; bệnh tiềm ẩn đến phải một mình cảm thọ; khi chết người khác hưởng tài sản, mình ra đi theo nghiệp; nghe có quốc độ trù phú ở bốn phương vẫn muốn chinh phục. Vua thừa nhận từng điều và tán thán.

Bài kinh nhấn mạnh Raṭṭhapāla xuất gia không phải vì suy vong nào, mà vì biết được bốn sự thuyết giáo ấy — người trẻ, khỏe, giàu, có thân tộc vẫn ra đi — và lời hứa trở về được giữ trọn khi anh đã thành A-la-hán.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 451 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: e9c23bfd-a762-473c-bbea-ffa950542bd8 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 189aafa150a1421c60a1044362566e98ab6450b3c7941e10ef66306de3cee3e9

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 451 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 287a0788-8b51-4be0-b315-848af9443506 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 189aafa150a1421c60a1044362566e98ab6450b3c7941e10ef66306de3cee3e9

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 434 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 8aecc4fd-0714-44fd-966f-737154f04d42 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 621a33dfdb761ad3dbb9313131d7b94db5502b77bb1e928094bb409d88679e33

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 434 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 923764a6-9e64-4a28-bc57-8fe7c97f57a2 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 621a33dfdb761ad3dbb9313131d7b94db5502b77bb1e928094bb409d88679e33

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.67/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.5
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.5
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

434/434 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

392/434 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

434/434 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 82
Middle Discourses 82
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 82
Raṭṭhapālasutta
With Raṭṭhapāla
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Raṭṭhapāla
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena thullakoṭṭhikaṁ nāma kurūnaṁ nigamo tadavasari.
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kurus together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at a town of the Kurus named Thullakoṭṭhika.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật đang du hành trong xứ người Kuru cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, rồi đến thị trấn người Kuru tên Thullakoṭṭhika.
Assosuṁ kho thullakoṭṭhikā brāhmaṇagahapatikā:
The brahmins and householders of Thullakoṭṭhika heard:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika nghe được tin:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kurūsu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ thullakoṭṭhikaṁ anuppatto.
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—has arrived at Thullakoṭṭhika, together with a large Saṅgha of mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả thật, sa-môn Gotama, dòng Sakiya xuất gia từ gia đình Sakiya, đang du hành trong xứ người Kuru cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, đã đến Thullakoṭṭhika.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
He has this good reputation:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Danh tiếng tốt lành của bậc Tôn giả Gotama ấy đã được tuyên dương như sau:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bậc Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc tối thượng điều phục những người đáng được điều phục, thầy của chư thiên và loài người, bậc Phật, Thế Tôn.’
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài tự mình với thắng trí đã giác ngộ và thực chứng, rồi tuyên giảng thế giới này cùng các chư thiên, các Ác ma, các Phạm thiên, loài chúng sinh cùng các sa-môn bà-la-môn, chư thiên và loài người.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài thuyết Pháp tốt lành ở đầu, tốt lành ở giữa, tốt lành ở cuối, có nghĩa, có lời hay; Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
It’s good to see such perfected ones.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được gặp các bậc A-la-hán như thế thật là điều tốt.”
Atha kho thullakoṭṭhikā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu, sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu; appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu.
Then the brahmins and householders of Thullakoṭṭhika went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, một số đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số chào hỏi với Đức Phật, sau những lời chào hỏi và xã giao thân thiện rồi ngồi xuống một bên; một số chắp tay hướng về Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số báo tên và họ trước Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinne kho thullakoṭṭhike brāhmaṇagahapatike bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
When they were seated, the Buddha educated, encouraged, fired up, and inspired them with a Dhamma talk.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi các bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika ngồi một bên, Đức Phật dùng pháp thoại khai thị, khuyến khích, cổ động, làm hoan hỷ.
Tena kho pana samayena raṭṭhapālo nāma kulaputto tasmiṁyeva thullakoṭṭhike aggakulassa putto tissaṁ parisāyaṁ nisinno hoti.
Now at that time a gentleman named Raṭṭhapāla, the son of the leading clan in Thullakoṭṭhika, was sitting in the assembly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, có gia chủ tên Raṭṭhapāla, con trai của gia tộc đứng đầu ở Thullakoṭṭhika, đang ngồi trong hội chúng ấy.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa etadahosi:
He thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, gia chủ Raṭṭhapāla nghĩ:
“yathā yathā khvāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
“As I understand the Buddha’s teaching, it’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Theo như ta hiểu Pháp được Đức Phật giảng dạy, sống tại gia thật không dễ gì thực hành phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan”ti.
Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from lay life to homelessness?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thôi thì ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
Atha kho thullakoṭṭhikā brāhmaṇagahapatikā bhagavatā dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Then, having approved and agreed with what the Buddha said, the brahmins and householders of Thullakoṭṭhika got up from their seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right, before leaving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika được Đức Phật dùng pháp thoại khai thị, khuyến khích, cổ động, làm hoan hỷ, tán thán và tùy hỷ lời Đức Phật dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto acirapakkantesu thullakoṭṭhikesu brāhmaṇagahapatikesu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho raṭṭhapālo kulaputto bhagavantaṁ etadavoca:
Soon after they left, Raṭṭhapāla went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ Raṭṭhapāla, chẳng bao lâu sau khi các bà-la-môn và gia chủ ở Thullakoṭṭhika ra đi, đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Gia chủ Raṭṭhapāla ngồi một bên, nói với Đức Phật:
“yathā yathāhaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
“Sir, as I understand the Buddha’s teaching, it’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, theo như con hiểu Pháp được Đức Phật giảng dạy, sống tại gia thật không dễ gì thực hành phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc.
Icchāmahaṁ, bhante, kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ.
I wish to shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con xin cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadaṁ.
Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mong con được xuất gia trong sự hiện hữu của Đức Phật, mong con được thọ cụ túc giới.
Pabbājetu maṁ bhagavā”ti.
May the Buddha please give me the going forth!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mong Đức Phật cho con xuất gia.”
“Anuññātosi pana tvaṁ, raṭṭhapāla, mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
“But, Raṭṭhapāla, do you have your parents’ permission?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhưng này Raṭṭhapāla, con đã được cha mẹ cho phép xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà chưa?”
“Na khohaṁ, bhante, anuññāto mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ chưa, bạch Thế Tôn, con chưa được cha mẹ cho phép xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
“Na kho, raṭṭhapāla, tathāgatā ananuññātaṁ mātāpitūhi puttaṁ pabbājentī”ti.
“Raṭṭhapāla, Buddhas don’t give the going forth to the child of parents who haven’t given their permission.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Raṭṭhapāla, các bậc Như Lai không cho xuất gia đứa con chưa được cha mẹ cho phép.”
“Svāhaṁ, bhante, tathā karissāmi yathā maṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
“I’ll make sure, sir, to get my parents’ permission.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ vâng, bạch Thế Tôn, con sẽ làm như thế để cha mẹ cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca:
Then Raṭṭhapāla rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha. Then he went to his parents and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ Raṭṭhapāla từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng về Ngài, đi đến nơi cha mẹ; đến nơi, nói với cha mẹ:
“ammatātā, yathā yathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
“Mum and dad, as I understand the Buddha’s teachings, it’s not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Mẹ và Cha, theo như con hiểu Pháp được Đức Phật giảng dạy, sống tại gia thật không dễ gì thực hành phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc.
Icchāmahaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ.
I wish to shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con xin cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Anujānātha maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Please give me permission to go forth.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Mẹ và Cha cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
Evaṁ vutte, raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ:
When he said this, Raṭṭhapāla’s parents said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe nói vậy, cha mẹ gia chủ Raṭṭhapāla nói với gia chủ Raṭṭhapāla:
“tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato.
“But, dear Raṭṭhapāla, you’re our only child. You’re dear to us and we love you. You’re pampered and raised in comfort.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, con là con một của chúng ta, là đứa con được yêu dấu, được chăm sóc đầy đủ, nuôi lớn trong êm ả.
Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi.
You know nothing of suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Raṭṭhapāla, con đâu biết khổ đau gì.
(…) Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma.
Even when you die we will lose you against our wishes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
(…) Ngay cả khi con chết, chúng ta không muốn mà vẫn phải mất con.
Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
So how can we allow you to go forth while you’re still alive?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi con còn sống, làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?”
Dutiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto …pe…
For a second time …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, gia chủ Raṭṭhapāla …
tatiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto mātāpitaro etadavoca:
For a third time, Raṭṭhapāla asked his parents for permission, but got the same reply.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lần thứ ba, gia chủ Raṭṭhapāla nói với cha mẹ:
“ammatātā, yathā yathāhaṁ bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāmi, nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Mẹ và Cha, theo như con hiểu Pháp được Đức Phật giảng dạy, sống tại gia thật không dễ gì thực hành phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc.
Icchāmahaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con xin cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Anujānātha maṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Mẹ và Cha cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
Tatiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, cha mẹ gia chủ Raṭṭhapāla nói với gia chủ Raṭṭhapāla:
“tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, con là con một của chúng ta, là đứa con được yêu dấu, được chăm sóc đầy đủ, nuôi lớn trong êm ả.
Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Raṭṭhapāla, con đâu biết khổ đau gì.
Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngay cả khi con chết, chúng ta không muốn mà vẫn phải mất con.
Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi con còn sống, làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?”
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto:
Then Raṭṭhapāla thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, gia chủ Raṭṭhapāla nghĩ:
“na maṁ mātāpitaro anujānanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti tattheva anantarahitāya bhūmiyā nipajji:
“My parents don’t allow me to go forth.” He laid down right there on the bare ground, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cha mẹ con không cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà” — con nằm ngay tại đó trên nền đất trống, nghĩ:
“idheva me maraṇaṁ bhavissati pabbajjā vā”ti.
“I’ll either die right here or go forth.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ở đây hoặc là ta sẽ chết, hoặc là ta sẽ xuất gia.”
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto ekampi bhattaṁ na bhuñji, dvepi bhattāni na bhuñji, tīṇipi bhattāni na bhuñji, cattāripi bhattāni na bhuñji, pañcapi bhattāni na bhuñji, chapi bhattāni na bhuñji, sattapi bhattāni na bhuñji.
And he refused to eat, up to the seventh meal.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ Raṭṭhapāla không ăn một bữa, không ăn hai bữa, không ăn ba bữa, không ăn bốn bữa, không ăn năm bữa, không ăn sáu bữa, không ăn bảy bữa.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ:
Then Raṭṭhapāla’s parents said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi cha mẹ gia chủ Raṭṭhapāla nói với gia chủ Raṭṭhapāla:
“tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato.
“Dear Raṭṭhapāla, you’re our only child. You’re dear to us and we love you. You’re pampered and raised in comfort.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, con là con một của chúng ta, là đứa con được yêu dấu, được chăm sóc đầy đủ, nuôi lớn trong êm ả.
Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci, dukkhassa jānāsi.
You know nothing of suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Raṭṭhapāla, con đâu biết khổ đau gì.
Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma.
When you die we will lose you against our wishes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngay cả khi con chết, chúng ta không muốn mà vẫn phải mất con.
Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
So how can we allow you to go forth from lay life to homelessness while you’re still living?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi con còn sống, làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Uṭṭhehi, tāta raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca;
Get up, Raṭṭhapāla! Eat, drink, and amuse yourself.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy đứng dậy đi, này con Raṭṭhapāla, hãy ăn uống và vui chơi;
bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu.
While enjoying sensual pleasures, delight in making merit.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hãy ăn uống, vui chơi, thụ hưởng các dục, tạo các phước, và an trú hoan hỷ.
Na taṁ mayaṁ anujānāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
We don’t allow you to go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng ta không cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma.
When you die we will lose you against our wishes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngay cả khi con chết, chúng ta không muốn mà vẫn phải mất con.
Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
So how can we allow you to go forth while you’re still alive?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi con còn sống, làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?”
Evaṁ vutte, raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
When they said this, Raṭṭhapāla kept silent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe nói vậy, gia chủ Raṭṭhapāla im lặng.
Dutiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ …pe…
For a second time,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, cha mẹ gia chủ Raṭṭhapāla lại nói với gia chủ Raṭṭhapāla như vậy …
dutiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lần thứ hai, gia chủ Raṭṭhapāla vẫn im lặng.
Tatiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ:
and a third time, Raṭṭhapāla’s parents made the same request.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, cha mẹ gia chủ Raṭṭhapāla nói với gia chủ Raṭṭhapāla:
“tvaṁ khosi, tāta raṭṭhapāla, amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, con là con một của chúng ta, là đứa con được yêu dấu, được chăm sóc đầy đủ, nuôi lớn trong êm ả.
Na tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Raṭṭhapāla, con đâu biết khổ đau gì.
Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma, kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngay cả khi con chết, chúng ta không muốn mà vẫn phải mất con, huống chi khi con còn sống, làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Uṭṭhehi, tāta raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy đứng dậy đi, này con Raṭṭhapāla, hãy ăn uống và vui chơi;
bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hãy ăn uống, vui chơi, thụ hưởng các dục, tạo các phước, và an trú hoan hỷ.
Na taṁ mayaṁ anujānāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng ta không cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Maraṇenapi te mayaṁ akāmakā vinā bhavissāma.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngay cả khi con chết, chúng ta không muốn mà vẫn phải mất con.
Kiṁ pana mayaṁ taṁ jīvantaṁ anujānissāma agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi con còn sống, làm sao chúng ta có thể cho phép con xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?”
Tatiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
And for a third time, Raṭṭhapāla kept silent. Raṭṭhapāla’s parents then went to see his friends. They told them of the situation and asked for their help.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, gia chủ Raṭṭhapāla vẫn im lặng.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā yena raṭṭhapālo kulaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ:
Then Raṭṭhapāla’s friends went to him and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bạn của gia chủ Raṭṭhapāla đi đến nơi gia chủ Raṭṭhapāla; đến nơi, nói với gia chủ Raṭṭhapāla:
“tvaṁ khosi, samma raṭṭhapāla, mātāpitūnaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato.
“Our dear Raṭṭhapāla, you are your parents’ only child. You’re dear to them and they love you. You’re pampered and raised in comfort.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này bạn Raṭṭhapāla, bạn là con một của cha mẹ, là đứa con được yêu dấu, được chăm sóc đầy đủ, nuôi lớn trong êm ả.
Na tvaṁ, samma raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi.
You know nothing of suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này bạn Raṭṭhapāla, bạn đâu biết khổ đau gì.
Maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti.
When you die your parents will lose you against their wishes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngay cả khi bạn chết, cha mẹ bạn không muốn mà vẫn phải mất bạn.
Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
So how can they allow you to go forth while you’re still alive?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Uṭṭhehi, samma raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca;
Get up, Raṭṭhapāla! Eat, drink, and amuse yourself.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy đứng dậy đi, này bạn Raṭṭhapāla, hãy ăn uống và vui chơi;
bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu.
While enjoying sensual pleasures, delight in making merit.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hãy ăn uống, vui chơi, thụ hưởng các dục, tạo các phước, và an trú hoan hỷ.
Na taṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
Your parents will not allow you to go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cha mẹ sẽ không cho phép bạn xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti.
Even when you die your parents will lose you against their wishes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngay cả khi bạn chết, cha mẹ bạn không muốn mà vẫn phải mất bạn.
Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
So how can they allow you to go forth while you’re still alive?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?”
Evaṁ vutte, raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
When they said this, Raṭṭhapāla kept silent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe nói vậy, gia chủ Raṭṭhapāla im lặng.
Dutiyampi kho …
For a second time …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, …
tatiyampi kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ:
For a third time, Raṭṭhapāla’s friends made the same request.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lần thứ ba, các bạn của gia chủ Raṭṭhapāla nói với gia chủ Raṭṭhapāla:
“tvaṁ khosi, samma raṭṭhapāla, mātāpitūnaṁ ekaputtako piyo manāpo sukhedhito sukhaparibhato, na tvaṁ, samma raṭṭhapāla, kassaci dukkhassa jānāsi, maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này bạn Raṭṭhapāla, bạn là con một của cha mẹ, là đứa con được yêu dấu, được chăm sóc đầy đủ, nuôi lớn trong êm ả; này bạn Raṭṭhapāla, bạn đâu biết khổ đau gì; ngay cả khi bạn chết, cha mẹ bạn không muốn mà vẫn phải mất bạn.
Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?
Uṭṭhehi, samma raṭṭhapāla, bhuñja ca piva ca paricārehi ca, bhuñjanto pivanto paricārento kāme paribhuñjanto puññāni karonto abhiramassu.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy đứng dậy đi, này bạn Raṭṭhapāla, hãy ăn uống và vui chơi, hãy ăn uống, vui chơi, thụ hưởng các dục, tạo các phước, và an trú hoan hỷ.
Na taṁ mātāpitaro anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, maraṇenapi te mātāpitaro akāmakā vinā bhavissanti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cha mẹ sẽ không cho phép bạn xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà; ngay cả khi bạn chết, cha mẹ bạn không muốn mà vẫn phải mất bạn.
Kiṁ pana te taṁ jīvantaṁ anujānissanti agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Huống chi khi bạn còn sống, làm sao họ có thể cho phép bạn xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?”
Tatiyampi kho raṭṭhapālo kulaputto tuṇhī ahosi.
And for a third time, Raṭṭhapāla kept silent.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, gia chủ Raṭṭhapāla vẫn im lặng.
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā yena raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā raṭṭhapālassa kulaputtassa mātāpitaro etadavocuṁ:
Then Raṭṭhapāla’s friends went to his parents and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bạn của gia chủ Raṭṭhapāla đi đến nơi cha mẹ gia chủ Raṭṭhapāla; đến nơi, nói với cha mẹ gia chủ Raṭṭhapāla:
“ammatātā, eso raṭṭhapālo kulaputto tattheva anantarahitāya bhūmiyā nipanno:
“Mum and dad, Raṭṭhapāla is lying there on the bare ground saying:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Mẹ và Cha, gia chủ Raṭṭhapāla đang nằm ngay tại đó trên nền đất trống, nói:
‘idheva me maraṇaṁ bhavissati pabbajjā vā’ti.
‘I’ll either die right here or go forth.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ở đây hoặc là con sẽ chết, hoặc là con sẽ xuất gia.’
Sace tumhe raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ nānujānissatha agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, tattheva maraṇaṁ āgamissati.
If you don’t allow him to go forth, he’ll die there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Mẹ và Cha không cho phép gia chủ Raṭṭhapāla xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà, thì tại đó người ấy sẽ chết.
Sace pana tumhe raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ anujānissatha agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, pabbajitampi naṁ dakkhissatha.
But if you do allow him to go forth, you’ll see him again afterwards.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nếu Mẹ và Cha cho phép gia chủ Raṭṭhapāla xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà, thì sau đó Mẹ và Cha vẫn sẽ thấy người ấy.
Sace raṭṭhapālo kulaputto nābhiramissati agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya, kā tassa aññā gati bhavissati? Idheva paccāgamissati.
And if he doesn’t enjoy the renunciate life, where else will he have to go? He’ll come right back here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và nếu gia chủ Raṭṭhapāla không hoan hỷ với đời sống xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà, người ấy còn biết đi đâu nữa? Người ấy sẽ trở về ngay tại đây.
Anujānātha raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāyā”ti.
Please give Raṭṭhapāla permission to go forth.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Mẹ và Cha cho phép gia chủ Raṭṭhapāla xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
“Anujānāma, tātā, raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
“Then, dears, we give Raṭṭhapāla permission to go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thôi thì, này các con, chúng tôi cho phép gia chủ Raṭṭhapāla xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Pabbajitena ca pana mātāpitaro uddassetabbā”ti.
But once gone forth he must visit his parents.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng khi đã xuất gia, con phải trở về ra mắt cha mẹ.”
Atha kho raṭṭhapālassa kulaputtassa sahāyakā yena raṭṭhapālo kulaputto tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā raṭṭhapālaṁ kulaputtaṁ etadavocuṁ:
Then Raṭṭhapāla’s friends went to him and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bạn của gia chủ Raṭṭhapāla đi đến nơi gia chủ Raṭṭhapāla; đến nơi, nói với gia chủ Raṭṭhapāla:
“uṭṭhehi, samma raṭṭhapāla, anuññātosi mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
“Get up, Raṭṭhapāla! Your parents have given you permission to go forth from lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Hãy đứng dậy đi, này bạn Raṭṭhapāla, cha mẹ bạn đã cho phép bạn xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Pabbajitena ca pana te mātāpitaro uddassetabbā”ti.
But once gone forth you must visit your parents.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng khi đã xuất gia, bạn phải trở về ra mắt cha mẹ.”
Atha kho raṭṭhapālo kulaputto uṭṭhahitvā balaṁ gāhetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho raṭṭhapālo kulaputto bhagavantaṁ etadavoca:
Raṭṭhapāla got up and regained his strength. He went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi gia chủ Raṭṭhapāla đứng dậy, lấy lại sức khỏe, đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Gia chủ Raṭṭhapāla ngồi một bên, nói với Đức Phật:
“anuññāto ahaṁ, bhante, mātāpitūhi agārasmā anagāriyaṁ pabbajjāya.
“Sir, I have my parents’ permission to go forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con đã được cha mẹ cho phép xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Pabbājetu maṁ bhagavā”ti.
May the Buddha please give me the going forth.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mong Đức Phật cho con xuất gia.”
Alattha kho raṭṭhapālo kulaputto bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
And Raṭṭhapāla received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và gia chủ Raṭṭhapāla đã được xuất gia trong sự hiện hữu của Đức Phật, đã được thọ cụ túc giới.
Atha kho bhagavā acirūpasampanne āyasmante raṭṭhapāle aḍḍhamāsupasampanne thullakoṭṭhike yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi.
Not long after Venerable Raṭṭhapāla’s ordination, a fortnight later, the Buddha—having stayed in Thullakoṭṭhika as long as he pleased—set out for Sāvatthī.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật, chẳng bao lâu sau khi Tôn giả Raṭṭhapāla xuất gia, được nửa tháng, sống tại Thullakoṭṭhika tùy hỷ bao lâu Ngài muốn, rồi lên đường du hành đến Sāvatthī.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari.
Traveling stage by stage, he arrived at Sāvatthī,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Du hành từng chặng, Ngài đến Sāvatthī.
Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
where he stayed in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, Đức Phật trú tại Sāvatthī, ở rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
Then Venerable Raṭṭhapāla, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla sống một mình, ở nơi vắng vẻ, không buông lung, nhiệt tâm, tinh tấn, chẳng bao lâu đạt đến mục tiêu tối thượng của phạm hạnh — vì mục tiêu ấy các thiện nam tử chân chánh xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà — tự mình với thắng trí thực chứng và an trú ngay trong hiện tại.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.” — Tôn giả biết rõ như vậy.
Aññataro kho panāyasmā raṭṭhapālo arahataṁ ahosi.
And Venerable Raṭṭhapāla became one of the perfected.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và Tôn giả Raṭṭhapāla trở thành một vị A-la-hán.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā raṭṭhapālo bhagavantaṁ etadavoca:
Then he went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Raṭṭhapāla ngồi một bên, nói với Đức Phật:
“icchāmahaṁ, bhante, mātāpitaro uddassetuṁ, sace maṁ bhagavā anujānātī”ti.
“Sir, I would like to visit my parents, if the Buddha allows it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con xin trở về ra mắt cha mẹ, nếu Đức Phật cho phép.”
Atha kho bhagavā āyasmato raṭṭhapālassa cetasā ceto paricca manasākāsi.
Then the Buddha focused on encompassing Raṭṭhapāla’s mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật quán chiếu tâm của Tôn giả Raṭṭhapāla bằng tâm.
Yathā bhagavā aññāsi:
When he knew that
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi Đức Phật biết rằng
“abhabbo kho raṭṭhapālo kulaputto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattitun”ti, atha kho bhagavā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca:
it was impossible for Raṭṭhapāla to resign the training and return to a lesser life, he said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Gia chủ Raṭṭhapāla không thể từ bỏ việc học hỏi để quay về với đời sống thấp kém”, bấy giờ Đức Phật nói với Tôn giả Raṭṭhapāla:
“yassadāni tvaṁ, raṭṭhapāla, kālaṁ maññasī”ti.
“Please, Raṭṭhapāla, go at your convenience.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Raṭṭhapāla, bây giờ hãy đi khi con thấy hợp lúc.”
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena thullakoṭṭhikaṁ tena cārikaṁ pakkāmi.
And then Raṭṭhapāla rose from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Thullakoṭṭhika.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng về Ngài, thu dọn chỗ nằm ngồi, cầm bát và y, lên đường du hành đến Thullakoṭṭhika.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena thullakoṭṭhiko tadavasari.
Traveling stage by stage, he arrived at Thullakoṭṭhika,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Du hành từng chặng, Ngài đến Thullakoṭṭhika.
Tatra sudaṁ āyasmā raṭṭhapālo thullakoṭṭhike viharati rañño korabyassa migacīre.
where he stayed in King Koravya’s deer range.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, Tôn giả Raṭṭhapāla trú tại vùng rừng Nai của vua Koravya ở Thullakoṭṭhika.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya thullakoṭṭhikaṁ piṇḍāya pāvisi.
Then Raṭṭhapāla robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Thullakoṭṭhika for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y, vào Thullakoṭṭhika khất thực.
Thullakoṭṭhike sapadānaṁ piṇḍāya caramāno yena sakapitu nivesanaṁ tenupasaṅkami.
Wandering indiscriminately for almsfood, he approached his own father’s house.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong Thullakoṭṭhika, Ngài khất thực tuần tự từng nhà, rồi đi đến nhà cha mình.
Tena kho pana samayena āyasmato raṭṭhapālassa pitā majjhimāya dvārasālāya ullikhāpeti.
Now at that time Raṭṭhapāla’s father was having his hair dressed in the hall of the middle gate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, cha của Tôn giả Raṭṭhapāla đang ngồi gội đầu ở sảnh cổng giữa.
Addasā kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ dūratova āgacchantaṁ.
He saw Raṭṭhapāla coming off in the distance
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cha của Tôn giả Raṭṭhapāla thấy Tôn giả Raṭṭhapāla từ xa đi đến.
Disvāna etadavoca:
and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy vậy, ông nói:
“imehi muṇḍakehi samaṇakehi amhākaṁ ekaputtako piyo manāpo pabbājito”ti.
“Our dear and beloved only son was made to go forth by these shavelings, these fake ascetics!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Chính những vị sa-môn đầu trọc ấy đã cho đứa con một của chúng ta, đứa con yêu dấu xuất gia!”
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo sakapitu nivesane neva dānaṁ alattha na paccakkhānaṁ;
And at his own father’s home Raṭṭhapāla received neither alms nor a polite refusal,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và tại nhà cha mình, Tôn giả Raṭṭhapāla không được dâng cúng cũng không bị từ chối lịch sự;
aññadatthu akkosameva alattha.
but only abuse.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thay vào đó, chỉ nhận được những lời rủa sả.
Tena kho pana samayena āyasmato raṭṭhapālassa ñātidāsī ābhidosikaṁ kummāsaṁ chaḍḍetukāmā hoti.
Now at that time a family bondservant wanted to throw away the previous night’s porridge.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, có nữ tỳ trong nhà của Tôn giả Raṭṭhapāla định đổ đi phần cháo thô của đêm trước.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo taṁ ñātidāsiṁ etadavoca:
So Raṭṭhapāla said to her,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla nói với nữ tỳ ấy:
“sacetaṁ, bhagini, chaḍḍanīyadhammaṁ, idha me patte ākirā”ti.
“If that’s to be thrown away, sister, pour it here in my bowl.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này chị, nếu thứ ấy định bỏ đi, thì đổ vào bát của ta ở đây.”
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa ñātidāsī taṁ ābhidosikaṁ kummāsaṁ āyasmato raṭṭhapālassa patte ākirantī hatthānañca pādānañca sarassa ca nimittaṁ aggahesi.
As she was pouring the porridge into his bowl, she recognized the features of his hands, feet, and voice.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi nữ tỳ ấy đổ phần cháo thô của đêm trước vào bát Tôn giả Raṭṭhapāla, nàng nhận ra dấu vết của đôi tay, đôi chân và giọng nói.
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa ñātidāsī yenāyasmato raṭṭhapālassa mātā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato raṭṭhapālassa mātaraṁ etadavoca:
She then went to his mother and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi nữ tỳ ấy đi đến nơi mẹ của Tôn giả Raṭṭhapāla; đến nơi, nói với mẹ của Tôn giả Raṭṭhapāla:
“yaggheyye, jāneyyāsi:
“Please, madam, you should know this.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bà chủ ơi, bà hãy biết điều này:
‘ayyaputto raṭṭhapālo anuppatto’”ti.
Master Raṭṭhapāla has arrived.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Cậu Raṭṭhapāla đã trở về.’”
“Sace, je, saccaṁ bhaṇasi, adāsiṁ taṁ karomī”ti.
“If you speak the truth, wench, I’ll make you a free woman!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu con nói thật, ta sẽ trả tự do cho con!”
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa mātā yenāyasmato raṭṭhapālassa pitā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmato raṭṭhapālassa pitaraṁ etadavoca:
Then Raṭṭhapāla’s mother went to his father and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi mẹ của Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến nơi cha của Tôn giả Raṭṭhapāla; đến nơi, nói với cha của Tôn giả Raṭṭhapāla:
“yagghe, gahapati, jāneyyāsi:
“Please householder, you should know this.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này gia chủ, ông hãy biết điều này:
‘raṭṭhapālo kira kulaputto anuppatto’”ti?
It seems our son Raṭṭhapāla has arrived.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Gia chủ Raṭṭhapāla đã trở về.’”
Tena kho pana samayena āyasmā raṭṭhapālo taṁ ābhidosikaṁ kummāsaṁ aññataraṁ kuṭṭamūlaṁ nissāya paribhuñjati.
Now at that time Raṭṭhapāla was eating last night’s porridge by a wall.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, Tôn giả Raṭṭhapāla đang dùng phần cháo thô của đêm trước, ngồi dựa vào chân một bức tường nào đó.
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā yenāyasmā raṭṭhapālo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca:
Then Raṭṭhapāla’s father went up to him and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi cha của Tôn giả Raṭṭhapāla đi đến nơi Tôn giả Raṭṭhapāla; đến nơi, nói với Tôn giả Raṭṭhapāla:
“atthi nāma, tāta raṭṭhapāla, ābhidosikaṁ kummāsaṁ paribhuñjissasi?
“Dear Raṭṭhapāla! How can you be eating last night’s porridge?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, làm sao con ăn phần cháo thô của đêm trước?
Nanu, tāta raṭṭhapāla, sakaṁ gehaṁ gantabban”ti?
Why not go to your own home?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Raṭṭhapāla, sao con không về nhà mình?”
“Kuto no, gahapati, amhākaṁ gehaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajitānaṁ?
“Householder, how could those of us who have gone forth from the lay life to homelessness have a house?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này gia chủ, chúng tôi đã xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà, thì nhà ở đâu?
Anagārā mayaṁ, gahapati.
We are homeless, householder.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng tôi không có nhà, này gia chủ.
Agamamha kho te, gahapati, gehaṁ, tattha neva dānaṁ alatthamha na paccakkhānaṁ;
I came to your house, but there I received neither alms nor a polite refusal,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi đã đến nhà ông, nhưng ở đó tôi không được dâng cúng cũng không bị từ chối lịch sự;
aññadatthu akkosameva alatthamhā”ti.
but only abuse.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thay vào đó, chỉ nhận được những lời rủa sả.”
“Ehi, tāta raṭṭhapāla, gharaṁ gamissāmā”ti.
“Come, dear Raṭṭhapāla, let’s go to the house.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, hãy vào nhà, ta sẽ vào nhà.”
“Alaṁ, gahapati, kataṁ me ajja bhattakiccaṁ”.
“Enough, householder. My meal is finished for today.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thôi nhé, này gia chủ, bữa ăn của tôi hôm nay đã xong rồi.”
“Tena hi, tāta raṭṭhapāla, adhivāsehi svātanāya bhattan”ti.
“Well then, dear Raṭṭhapāla, please accept tomorrow’s meal from me.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy thì, này con Raṭṭhapāla, hãy nhận bữa ăn của tôi vào ngày mai.”
Adhivāsesi kho āyasmā raṭṭhapālo tuṇhībhāvena.
Raṭṭhapāla consented with silence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Raṭṭhapāla im lặng nhận lời.
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā āyasmato raṭṭhapālassa adhivāsanaṁ viditvā yena sakaṁ nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mahantaṁ hiraññasuvaṇṇassa puñjaṁ kārāpetvā kilañjehi paṭicchādetvā āyasmato raṭṭhapālassa purāṇadutiyikā āmantesi:
Then, knowing that Raṭṭhapāla had consented, his father went back to his own house. He made a heap of gold, both coined and uncoined, and hid it under mats. Then he addressed Raṭṭhapāla’s former wives,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi cha của Tôn giả Raṭṭhapāla biết Tôn giả Raṭṭhapāla đã nhận lời, trở về nhà mình, cho dọn thành đống vàng thoi và vàng vụn, dùng chiếu phủ lên, rồi nói với các bà vợ cũ của Tôn giả Raṭṭhapāla:
“etha tumhe, vadhuyo, yena alaṅkārena alaṅkatā pubbe raṭṭhapālassa kulaputtassa piyā hotha manāpā tena alaṅkārena alaṅkarothā”ti.
“Please, daughters-in-law, adorn yourselves in the way that our son Raṭṭhapāla found you most adorable.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các cô dâu, hãy trang điểm bằng những thứ trang sức mà trước đây khiến các cô được Raṭṭhapāla thương yêu, được Raṭṭhapāla quý mến.”
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā āyasmato raṭṭhapālassa kālaṁ ārocesi:
And when the night had passed Raṭṭhapāla’s father had delicious fresh and cooked foods prepared in his own home, and announced the time to the Venerable Raṭṭhapāla, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Qua đêm ấy, cha của Tôn giả Raṭṭhapāla cho chuẩn bị tại nhà mình các món ăn cứng ngon lành, món ăn mềm ngon lành, rồi tâu lên Tôn giả Raṭṭhapāla thời khắc đã đến:
“kālo, tāta raṭṭhapāla, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
“Sir, it’s time. The meal is ready.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, thời điểm đã đến, bữa ăn đã sẵn sàng.”
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena sakapitu nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā taṁ hiraññasuvaṇṇassa puñjaṁ vivarāpetvā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca:
Then Raṭṭhapāla robed up in the morning and, taking his bowl and robe, went to his father’s home, and sat down on the seat spread out. Raṭṭhapāla’s father, revealing the heap of gold, both coined and uncoined, said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla vào buổi sáng đắp y, cầm bát và y, đi đến nhà cha mình; đến nơi, ngồi xuống chỗ đã được sửa soạn. Cha của Tôn giả Raṭṭhapāla mở tấm chiếu che đống vàng thoi và vàng vụn ấy ra, nói với Tôn giả Raṭṭhapāla:
“idaṁ te, tāta raṭṭhapāla, mātu mattikaṁ dhanaṁ, aññaṁ pettikaṁ, aññaṁ pitāmahaṁ.
“Dear Raṭṭhapāla, this is your maternal fortune. There’s another paternal fortune, and an ancestral one.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, đây là tài sản từ phía mẹ, kia là từ phía cha, kia nữa là từ phía ông bà.
Sakkā, tāta raṭṭhapāla, bhoge ca bhuñjituṁ puññāni ca kātuṁ.
You can both enjoy your wealth and make merit.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Raṭṭhapāla, có thể vừa thụ hưởng các tài sản ấy vừa tạo phước.
Ehi tvaṁ, tāta raṭṭhapāla, hīnāyāvattitvā bhoge ca bhuñjassu puññāni ca karohī”ti.
Come, return to a lesser life, enjoy wealth, and make merit!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này con Raṭṭhapāla, hãy quay về với đời sống thấp kém, hãy thụ hưởng các tài sản ấy và tạo phước!”
“Sace me tvaṁ, gahapati, vacanaṁ kareyyāsi, imaṁ hiraññasuvaṇṇassa puñjaṁ sakaṭe āropetvā nibbāhāpetvā majjhegaṅgāya nadiyā sote opilāpeyyāsi.
“If you’d follow my advice, householder, you’d have this heap of gold, both coined and uncoined, loaded on a cart and carried away to be dumped in the middle of the Ganges River.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này gia chủ, nếu ông nghe lời tôi, hãy cho chất đống vàng thoi và vàng vụn này lên xe, kéo đi rồi đổ giữa dòng sông Hằng.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Ye uppajjissanti hi te, gahapati, tatonidānaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā”ti.
Because this will bring you nothing but sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bởi vì, này gia chủ, những ai sẽ sinh ra [và ôm lấy của cải ấy] sẽ từ đó sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não.”
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa purāṇadutiyikā paccekaṁ pādesu gahetvā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavocuṁ:
Then Raṭṭhapāla’s former wives each clasped his feet and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bà vợ cũ của Tôn giả Raṭṭhapāla mỗi người nắm lấy đôi chân của Tôn giả Raṭṭhapāla, nói:
“kīdisā nāma tā, ayyaputta, accharāyo yāsaṁ tvaṁ hetu brahmacariyaṁ carasī”ti?
“What are they like, master, the nymphs for whom you lead the spiritual life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa cậu, những nàng tiên ấy là những người như thế nào, mà vì các nàng cậu sống phạm hạnh?”
“Na kho mayaṁ, bhaginī, accharānaṁ hetu brahmacariyaṁ carāmā”ti.
“Sisters, I don’t lead the spiritual life for the sake of nymphs.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các chị, chúng tôi không sống phạm hạnh vì các nàng tiên.”
“Bhaginivādena no ayyaputto raṭṭhapālo samudācaratī”ti tā tattheva mucchitā papatiṁsu.
Saying, “Our master Raṭṭhapāla addresses us as sisters!” they fainted right away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cậu Raṭṭhapāla gọi chúng tôi là các chị!” — nói vậy, các bà ấy ngất xỉu ngay tại đó.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo pitaraṁ etadavoca:
Then Raṭṭhapāla said to his father,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla nói với cha:
“sace, gahapati, bhojanaṁ dātabbaṁ, detha;
“If there is food to be given, householder, please give it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này gia chủ, nếu có thức ăn để dâng cúng, hãy dâng lên;
mā no viheṭhethā”ti.
But don’t harass me.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chớ làm phiền chúng tôi.”
“Bhuñja, tāta raṭṭhapāla, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
“Eat, dear Raṭṭhapāla. The meal is ready.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này con Raṭṭhapāla, hãy ăn, bữa ăn đã sẵn sàng.”
Atha kho āyasmato raṭṭhapālassa pitā āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Then Raṭṭhapāla’s father served and satisfied Venerable Raṭṭhapāla with his own hands with delicious fresh and cooked foods.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi cha của Tôn giả Raṭṭhapāla tự tay dâng cúng, mời dùng cho đầy đủ Tôn giả Raṭṭhapāla bằng các món ăn cứng ngon lành, món ăn mềm ngon lành.
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo bhuttāvī onītapattapāṇī ṭhitakova imā gāthā abhāsi:
When he had eaten and washed his hand and bowl, he spoke this verse while standing right there:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla, dùng bữa xong, rút tay khỏi bát, đứng tại đó tụng những bài kệ sau:
“Passa cittīkataṁ bimbaṁ,
“See this fancy puppet,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Hãy nhìn hình bóng được điểm trang,
arukāyaṁ samussitaṁ;
a body built of sores,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thân đầy vết loang được dựng lên;
Āturaṁ bahusaṅkappaṁ,
diseased, obsessed over,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bệnh hoạn, nhiều mộng tưởng,
yassa natthi dhuvaṁ ṭhiti.
in which nothing lasts at all.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không có gì trụ vững bền.
Passa cittīkataṁ rūpaṁ,
See this fancy figure,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy nhìn dung nhan được điểm trang,
maṇinā kuṇḍalena ca;
with its gems and earrings;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
với châu báu, với vòng tai;
Aṭṭhi tacena onaddhaṁ,
it is bones swathed in skin,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chỉ bọc xương phủ da,
saha vatthebhi sobhati.
made pretty by its clothes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
được y phục làm sáng chói.
Alattakakatā pādā,
Rouged feet
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chân được sơn màu đỏ,
mukhaṁ cuṇṇakamakkhitaṁ;
and powdered face
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mặt được thoa phấn;
Alaṁ bālassa mohāya,
may be enough to beguile a fool,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đủ mê hoặc kẻ ngu,
no ca pāragavesino.
but not a seeker of the far shore.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng đủ kẻ cầu bờ bên kia.
Aṭṭhāpadakatā kesā,
Hair in eight braids
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tóc búi thành tám lọn,
nettā añjanamakkhitā;
and eyeshadow
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mắt được thoa thuốc đen;
Alaṁ bālassa mohāya,
may be enough to beguile a fool,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đủ mê hoặc kẻ ngu,
no ca pāragavesino.
but not a seeker of the far shore.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng đủ kẻ cầu bờ bên kia.
Añjanīva navā cittā,
A rotting body all adorned
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như hộp phấn mới tô son,
pūtikāyo alaṅkato;
like a freshly painted makeup box
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thân thối rữa được điểm trang;
Alaṁ bālassa mohāya,
may be enough to beguile a fool,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đủ mê hoặc kẻ ngu,
no ca pāragavesino.
but not a seeker of the far shore.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng đủ kẻ cầu bờ bên kia.
Odahi migavo pāsaṁ,
The hunter laid his snare,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người thợ săn đặt lưới sập,
nāsadā vākaraṁ migo;
but the deer didn’t spring the trap.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nai khôn chẳng dẫm mồi bẫy;
Bhutvā nivāpaṁ gacchāma,
I’ve eaten the bait and now I go,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ăn mồi xong, ta ra đi,
kandante migabandhake”ti.
leaving the trapper to lament.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mặc kẻ bắt nai than khóc.”
Atha kho āyasmā raṭṭhapālo ṭhitakova imā gāthā bhāsitvā yena rañño korabyassa migacīraṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Then Raṭṭhapāla, having spoke this verse while standing, went to King Koravya’s deer range and sat at the root of a tree for the day’s meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Raṭṭhapāla tụng những bài kệ ấy xong, đứng tại đó, đi đến vùng rừng Nai của vua Koravya; đến nơi, ngồi thiền nghỉ trưa dưới gốc một cây.
Atha kho rājā korabyo migavaṁ āmantesi:
Then King Koravya addressed his gamekeeper,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Koravya nói với người coi rừng Nai:
“sodhehi, samma migava, migacīraṁ uyyānabhūmiṁ;
“My good gamekeeper, tidy up the park of the deer range.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này bạn coi rừng Nai, hãy dọn dẹp vùng rừng Nai để làm nơi vườn thượng uyển.
gacchāma subhūmiṁ dassanāyā”ti.
We will go to see the scenery.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng ta sẽ đi ngắm cảnh đẹp.”
“Evaṁ, devā”ti kho migavo rañño korabyassa paṭissutvā migacīraṁ sodhento addasa āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisinnaṁ.
“Yes, Your Majesty,” replied the gamekeeper. While tidying the deer range he saw Raṭṭhapāla sitting in meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ, thưa Đại vương” — người coi rừng Nai vâng lời vua Koravya, trong khi dọn dẹp vùng rừng Nai, thấy Tôn giả Raṭṭhapāla đang ngồi thiền nghỉ trưa dưới gốc một cây.
Disvāna yena rājā korabyo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā rājānaṁ korabyaṁ etadavoca:
Seeing this, he went to the king, and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy vậy, người ấy đi đến nơi vua Koravya; đến nơi, nói với vua Koravya:
“suddhaṁ kho te, deva, migacīraṁ.
“The deer range is tidy, Your Majesty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, vùng rừng Nai đã dọn xong.
Atthi cettha raṭṭhapālo nāma kulaputto imasmiṁyeva thullakoṭṭhike aggakulassa putto yassa tvaṁ abhiṇhaṁ kittayamāno ahosi, so aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisinno”ti.
And the gentleman named Raṭṭhapāla, the son of the leading clan in Thullakoṭṭhika, of whom you have often spoken highly, is meditating there at the root of a tree.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và ở đó có gia chủ tên Raṭṭhapāla, con trai của gia tộc đứng đầu ở Thullakoṭṭhika — người mà Đại vương thường khen ngợi — đang ngồi thiền nghỉ trưa dưới gốc một cây.”
“Tena hi, samma migava, alaṁ dānajja uyyānabhūmiyā.
“Well then, my good gamekeeper, that’s enough of the park for today.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy thì, này bạn coi rừng Nai, hôm nay đừng đi vườn thượng uyển nữa.
Tameva dāni mayaṁ bhavantaṁ raṭṭhapālaṁ payirupāsissāmā”ti.
Now I shall pay homage to the worthy Raṭṭhapāla.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bây giờ chúng ta sẽ đến yết kiến bậc đáng kính Raṭṭhapāla.”
Atha kho rājā korabyo “yaṁ tattha khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyattaṁ taṁ sabbaṁ vissajjethā”ti vatvā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi thullakoṭṭhikamhā niyyāsi mahaccarājānubhāvena āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ dassanāya.
And then King Koravya said, “Distribute the fresh and cooked foods that have been prepared there.” He had the finest carriages harnessed. Then he mounted a fine carriage and, along with other fine carriages, set out in full royal pomp from Thullakoṭṭhika to see Raṭṭhapāla.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi vua Koravya nói: “Hãy đem phát hết các món ăn cứng và món ăn mềm đã chuẩn bị ở đó” — rồi thắng các cỗ xe thù thắng, leo lên một cỗ xe thù thắng, cùng các cỗ xe thù thắng đi ra khỏi Thullakoṭṭhika với đại uy vệ của nhà vua, để yết kiến Tôn giả Raṭṭhapāla.
Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova ussaṭāya ussaṭāya parisāya yenāyasmā raṭṭhapālo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā raṭṭhapālena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho rājā korabyo āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca:
He went by carriage as far as the terrain allowed, then descended and approached Raṭṭhapāla on foot, together with a group of eminent officials. They exchanged greetings, and, when the greetings and polite conversation were over, he stood to one side and said to Raṭṭhapāla:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua đi xe cho đến nơi nào còn đi được xe, rồi xuống xe, cùng đoàn tùy tùng hàng đầu hàng đầu đi bộ đến nơi Tôn giả Raṭṭhapāla; đến nơi, chào hỏi với Tôn giả Raṭṭhapāla. Sau những lời chào hỏi và xã giao thân thiện, vua đứng một bên. Vua Koravya đứng một bên, nói với Tôn giả Raṭṭhapāla:
“idha bhavaṁ raṭṭhapālo hatthatthare nisīdatū”ti.
“Here, worthy Raṭṭhapāla, sit on this elephant rug.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Mời bậc đáng kính Raṭṭhapāla ngồi lên tấm thảm phủ lưng voi ở đây.”
“Alaṁ, mahārāja, nisīda tvaṁ;
“Enough, Great King, you sit on it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thôi nhé, Đại vương, chính nhà vua hãy ngồi.
nisinno ahaṁ sake āsane”ti.
I’m sitting on my own seat.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi đang ngồi trên chỗ ngồi của tôi.”
Nisīdi rājā korabyo paññatte āsane. Nisajja kho rājā korabyo āyasmantaṁ raṭṭhapālaṁ etadavoca:
So the king sat down on the seat spread out, and said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua Koravya ngồi xuống chỗ đã được sửa soạn. Vua Koravya ngồi xong, nói với Tôn giả Raṭṭhapāla:
“Cattārimāni, bho raṭṭhapāla, pārijuññāni yehi pārijuññehi samannāgatā idhekacce kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti.
“Worthy Raṭṭhapāla, there are these four kinds of decay. Because of these, some people shave off their hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có bốn loại suy vong; do thành tựu bốn loại suy vong ấy, ở đây có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Katamāni cattāri?
What four?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn loại nào?
Jarāpārijuññaṁ, byādhipārijuññaṁ, bhogapārijuññaṁ, ñātipārijuññaṁ.
Decay due to old age, decay due to sickness, decay of wealth, and decay of relatives.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Suy vong do già, suy vong do bệnh, suy vong do tài sản, suy vong do thân tộc.
Katamañca, bho raṭṭhapāla, jarāpārijuññaṁ?
And what is decay due to old age?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, là suy vong do già?
Idha, bho raṭṭhapāla, ekacco jiṇṇo hoti vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto.
It’s when someone is old, elderly, and senior, advanced in years, and has reached the final stage of life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có người già nua, cao tuổi, uy lão, tuổi đã cao, đã đến giai đoạn cuối của đời.
So iti paṭisañcikkhati:
They reflect:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy suy nghĩ như sau:
‘ahaṁ khomhi etarahi jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto.
‘I’m now old, elderly, and senior. I’m advanced in years and have reached the final stage of life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bây giờ ta đã già nua, cao tuổi, uy lão, tuổi đã cao, đã đến giai đoạn cuối của đời.
Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ.
It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với ta, thật không dễ gì kiếm được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thôi thì ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.’
So tena jarāpārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
So because of that decay due to old age they go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy do thành tựu suy vong do già ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, jarāpārijuññaṁ.
This is called decay due to old age.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, như vậy được gọi là suy vong do già.
Bhavaṁ kho pana raṭṭhapālo etarahi daharo yuvā susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā.
But worthy Raṭṭhapāla is now a youth, young, with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn bậc đáng kính Raṭṭhapāla bây giờ còn trẻ, tuổi trẻ, tóc đen mượt, được phước tuổi trẻ, ở thời kỳ đầu của tuổi đời.
Taṁ bhoto raṭṭhapālassa jarāpārijuññaṁ natthi.
You have no decay due to old age.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đâu có suy vong do già.
Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
So what did you know or see or hear that made you go forth?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?
Katamañca, bho raṭṭhapāla, byādhipārijuññaṁ?
And what is decay due to sickness?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, là suy vong do bệnh?
Idha, bho raṭṭhapāla, ekacco ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
It’s when someone is sick, suffering, gravely ill.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có người bị bệnh, khổ đau, bệnh nặng.
So iti paṭisañcikkhati:
They reflect:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy suy nghĩ như sau:
‘ahaṁ khomhi etarahi ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno.
‘I’m now sick, suffering, gravely ill.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bây giờ ta bị bệnh, khổ đau, bệnh nặng.
Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ.
It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với ta, thật không dễ gì kiếm được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
Why don’t I go forth from the lay life to homelessness?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thôi thì ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.’
So tena byādhipārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
So because of that decay due to sickness they go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy do thành tựu suy vong do bệnh ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, byādhipārijuññaṁ.
This is called decay due to sickness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, như vậy được gọi là suy vong do bệnh.
Bhavaṁ kho pana raṭṭhapālo etarahi appābādho appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya.
But worthy Raṭṭhapāla is now rarely ill or unwell. Your stomach digests well, being neither too hot nor too cold.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn bậc đáng kính Raṭṭhapāla bây giờ ít bệnh, ít đau, có bộ máy tiêu hóa đồng đều, không quá lạnh, không quá nóng.
Taṁ bhoto raṭṭhapālassa byādhipārijuññaṁ natthi.
You have no decay due to sickness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đâu có suy vong do bệnh.
Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
So what did you know or see or hear that made you go forth?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?
Katamañca, bho raṭṭhapāla, bhogapārijuññaṁ?
And what is decay of wealth?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, là suy vong do tài sản?
Idha, bho raṭṭhapāla, ekacco aḍḍho hoti mahaddhano mahābhogo.
It’s when someone is rich, affluent, and wealthy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có người giàu sang, tiền của nhiều, tài vật nhiều.
Tassa te bhogā anupubbena parikkhayaṁ gacchanti.
But gradually their wealth dwindles away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng các tài sản ấy dần dần suy giảm.
So iti paṭisañcikkhati:
They reflect:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy suy nghĩ như sau:
‘ahaṁ kho pubbe aḍḍho ahosiṁ mahaddhano mahābhogo.
‘I used to be rich, affluent, and wealthy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trước đây ta giàu sang, tiền của nhiều, tài vật nhiều.
Tassa me te bhogā anupubbena parikkhayaṁ gatā.
But gradually my wealth has dwindled away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng các tài sản ấy của ta dần dần đã suy giảm.
Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ.
It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với ta, thật không dễ gì kiếm được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
Why don’t I go forth from the lay life to homelessness?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thôi thì ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.’
So tena bhogapārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
So because of that decay of wealth they go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy do thành tựu suy vong do tài sản ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, bhogapārijuññaṁ.
This is called decay of wealth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, như vậy được gọi là suy vong do tài sản.
Bhavaṁ kho pana raṭṭhapālo imasmiṁyeva thullakoṭṭhike aggakulassa putto.
But worthy Raṭṭhapāla is the son of the leading clan here in Thullakoṭṭhika.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn bậc đáng kính Raṭṭhapāla là con trai của gia tộc đứng đầu ở chính Thullakoṭṭhika này.
Taṁ bhoto raṭṭhapālassa bhogapārijuññaṁ natthi.
You have no decay of wealth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đâu có suy vong do tài sản.
Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
So what did you know or see or hear that made you go forth?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?
Katamañca, bho raṭṭhapāla, ñātipārijuññaṁ?
And what is decay of relatives?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, là suy vong do thân tộc?
Idha, bho raṭṭhapāla, ekaccassa bahū honti mittāmaccā ñātisālohitā.
It’s when someone has many friends and colleagues, relatives and kin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có người có nhiều bạn hữu, người quen, bà con huyết thống.
Tassa te ñātakā anupubbena parikkhayaṁ gacchanti.
But gradually their relatives dwindle away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng thân tộc ấy dần dần suy giảm.
So iti paṭisañcikkhati:
They reflect:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy suy nghĩ như sau:
‘mamaṁ kho pubbe bahū ahesuṁ mittāmaccā ñātisālohitā.
‘I used to have many friends and colleagues, relatives and kin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trước đây ta có nhiều bạn hữu, người quen, bà con huyết thống.
Tassa me te anupubbena parikkhayaṁ gatā.
But gradually they’ve dwindled away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng thân tộc ấy của ta dần dần đã suy giảm.
Na kho pana mayā sukaraṁ anadhigataṁ vā bhogaṁ adhigantuṁ adhigataṁ vā bhogaṁ phātiṁ kātuṁ.
It’s not easy for me to acquire more wealth or to increase the wealth I’ve already acquired.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với ta, thật không dễ gì kiếm được tài sản chưa có, hay làm cho tài sản đã có được tăng trưởng.
Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
Why don’t I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thôi thì ta hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.’
So tena ñātipārijuññena samannāgato kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajati.
So because of that decay of relatives they go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy do thành tựu suy vong do thân tộc ấy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Idaṁ vuccati, bho raṭṭhapāla, ñātipārijuññaṁ.
This is called decay of relatives.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, như vậy được gọi là suy vong do thân tộc.
Bhoto kho pana raṭṭhapālassa imasmiṁyeva thullakoṭṭhike bahū mittāmaccā ñātisālohitā.
But worthy Raṭṭhapāla has many friends and colleagues, relatives and kin right here in Thullakoṭṭhika.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn bậc đáng kính Raṭṭhapāla, tại chính Thullakoṭṭhika này, có nhiều bạn hữu, người quen, bà con huyết thống.
Taṁ bhoto raṭṭhapālassa ñātipārijuññaṁ natthi.
You have no decay of relatives.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đâu có suy vong do thân tộc.
Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito?
So what did you know or see or hear that made you go forth?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?
Imāni kho, bho raṭṭhapāla, cattāri pārijuññāni, yehi pārijuññehi samannāgatā idhekacce kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti.
There are these four kinds of decay. Because of these, some people shave off their hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, đây là bốn loại suy vong; do thành tựu bốn loại suy vong ấy, ở đây có người cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Tāni bhoto raṭṭhapālassa natthi.
Worthy Raṭṭhapāla has none of these.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đâu có những loại ấy.
Kiṁ bhavaṁ raṭṭhapālo ñatvā vā disvā vā sutvā vā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti?
So what did you know or see or hear that made you go forth?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã biết gì, đã thấy gì hay đã nghe gì mà xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà?”
“Atthi kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammuddesā uddiṭṭhā, ye ahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
“Great king, the Blessed One who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha has taught these four summaries of the teaching for recitation. It was after knowing and seeing and hearing these that I went forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Đại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giảng dạy; do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe những sự thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Katame cattāro?
What four?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn sự thuyết giáo nào?
‘Upaniyyati loko addhuvo’ti
‘The world is unstable and swept away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt’ —
kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamo dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
This is the first summary.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thưa Đại vương, đó là sự thuyết giáo Chánh pháp thứ nhất được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giảng dạy; do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe sự thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
‘Atāṇo loko anabhissaro’ti
‘The world has no shelter and no savior.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô hộ, vô chủ’ —
kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyo dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
This is the second summary.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thưa Đại vương, đó là sự thuyết giáo Chánh pháp thứ hai được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giảng dạy; do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe sự thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
‘Assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti
‘The world has no owner—you must leave it all behind and pass on.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả’ —
kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyo dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
This is the third summary.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thưa Đại vương, đó là sự thuyết giáo Chánh pháp thứ ba được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giảng dạy; do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe sự thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
‘Ūno loko atitto taṇhādāso’ti
‘The world is wanting, insatiable, the slave of craving.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái’ —
kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catuttho dhammuddeso uddiṭṭho, yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
This is the fourth summary.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thưa Đại vương, đó là sự thuyết giáo Chánh pháp thứ tư được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giảng dạy; do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe sự thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.
Ime kho, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro dhammuddesā uddiṭṭhā, ye ahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
The Blessed One who knows and sees, the perfected one, the fully awakened Buddha taught these four summaries of the teaching. It was after knowing and seeing and hearing these that I went forth from the lay life to homelessness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa Đại vương, có bốn sự thuyết giáo Chánh pháp được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, giảng dạy; do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe những sự thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
“‘Upaniyyati loko addhuvo’ti—
“‘The world is unstable and swept away.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“‘Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt’ —
bhavaṁ raṭṭhapālo āha.
So the worthy Raṭṭhapāla said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã giảng như vậy.
Imassa, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
How should I see the meaning of this statement?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, phải hiểu ý nghĩa của lời nói ấy như thế nào?”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
tvaṁ vīsativassuddesikopi paṇṇavīsativassuddesikopi hatthismimpi katāvī assasmimpi katāvī rathasmimpi katāvī dhanusmimpi katāvī tharusmimpi katāvī ūrubalī bāhubalī alamatto saṅgāmāvacaro”ti?
When you were twenty or twenty-five years of age, were you well-versed at riding elephants, horses, and chariots, and at archery and swordsmanship? Were you strong in thigh and arm, capable, and battle-hardened?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi vua ở tuổi hai mươi hay tuổi hai lăm, vua có khéo léo cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, bắn cung, chước kiếm chăng? Vua có mạnh về đùi, mạnh về tay, đủ sức, tinh thông trên chiến trường chăng?”
“Ahosiṁ ahaṁ, bho raṭṭhapāla, vīsativassuddesikopi paṇṇavīsativassuddesikopi hatthismimpi katāvī assasmimpi katāvī rathasmimpi katāvī dhanusmimpi katāvī tharusmimpi katāvī ūrubalī bāhubalī alamatto saṅgāmāvacaro.
“I was, worthy Raṭṭhapāla.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, khi tôi ở tuổi hai mươi hay tuổi hai lăm, tôi khéo léo cưỡi voi, cưỡi ngựa, cưỡi xe, bắn cung, chước kiếm; mạnh về đùi, mạnh về tay, đủ sức, tinh thông trên chiến trường.
Appekadāhaṁ, bho raṭṭhapāla, iddhimāva maññe na attano balena samasamaṁ samanupassāmī”ti.
Sometimes it seems as if I had superpowers then. I don’t see anyone who could have equaled me in strength.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có khi tôi cứ tưởng như có thần thông, không thấy ai sánh ngang sức mạnh của tôi.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
evameva tvaṁ etarahi ūrubalī bāhubalī alamatto saṅgāmāvacaro”ti?
These days are you just as strong in thigh and arm, capable, and battle-hardened?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bây giờ vua còn mạnh về đùi, mạnh về tay, đủ sức, tinh thông trên chiến trường như thế chăng?”
“No hidaṁ, bho raṭṭhapāla.
“No, worthy Raṭṭhapāla.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ không, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla.
Etarahi jiṇṇo vuḍḍho mahallako addhagato vayoanuppatto āsītiko me vayo vattati.
For now I am old, elderly, and senior, I’m advanced in years and have reached the final stage of life. I am eighty years old.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bây giờ tôi già nua, cao tuổi, uy lão, tuổi đã cao, đã đến giai đoạn cuối của đời; năm nay tôi tám mươi tuổi.
Appekadāhaṁ, bho raṭṭhapāla, ‘idha pādaṁ karissāmī’ti aññeneva pādaṁ karomī”ti.
Sometimes I intend to step in one place, but my foot goes somewhere else.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có khi tôi nghĩ ‘ta sẽ đặt chân vào chỗ này’ mà chân lại đặt vào chỗ khác.”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
“This is what the Buddha was referring to when he said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘upaniyyati loko addhuvo’ti,
‘The world is unstable and swept away.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt’ —
yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe điều ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla.
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tuyệt diệu thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla! Tuyệt vời thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla!
Yāva subhāsitañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena:
how well said this was by the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều ấy được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo nói:
‘upaniyyati loko addhuvo’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.’
Upaniyyati hi, bho raṭṭhapāla, loko addhuvo.
For the world is indeed unstable and swept away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật vậy, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt.
Saṁvijjante kho, bho raṭṭhapāla, imasmiṁ rājakule hatthikāyāpi assakāyāpi rathakāyāpi pattikāyāpi, amhākaṁ āpadāsu pariyodhāya vattissanti.
In this royal court you can find divisions of elephants, cavalry, chariots, and infantry. They will serve to defend us from any threats. Yet you said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, ở trong hoàng gia này có các đoàn voi, đoàn kỵ binh, đoàn xe và đoàn bộ binh, sẽ sử dụng để chống lại những tai họa của chúng tôi. Vậy mà bậc đáng kính lại giảng:
‘Atāṇo loko anabhissaro’ti—
‘The world has no shelter and no savior.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô hộ, vô chủ’ —
bhavaṁ raṭṭhapālo āha.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã giảng như vậy.
Imassa pana, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
How should I see the meaning of this statement?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, phải hiểu ý nghĩa của lời nói ấy như thế nào?”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
atthi te koci anusāyiko ābādho”ti?
Do you have any chronic ailments?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua có bệnh tiềm ẩn nào chăng?”
“Atthi me, bho raṭṭhapāla, anusāyiko ābādho.
“Yes, I do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, tôi có bệnh tiềm ẩn.
Appekadā maṁ, bho raṭṭhapāla, mittāmaccā ñātisālohitā parivāretvā ṭhitā honti:
Sometimes my friends and colleagues, relatives and kin surround me, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, có khi bạn hữu, người quen, bà con huyết thống vây quanh tôi, nghĩ:
‘idāni rājā korabyo kālaṁ karissati, idāni rājā korabyo kālaṁ karissatī’”ti.
‘Now the king will die! Now the king will die!’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bây giờ vua Koravya sẽ qua đời, bây giờ vua Koravya sẽ qua đời.’”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
labhasi tvaṁ te mittāmacce ñātisālohite:
Can you get your friends and colleagues, relatives and kin to help:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua có thể nhờ bạn hữu, người quen, bà con huyết thống:
‘āyantu me bhonto mittāmaccā ñātisālohitā, sabbeva santā imaṁ vedanaṁ saṁvibhajatha, yathāhaṁ lahukatarikaṁ vedanaṁ vediyeyyan’ti—
‘Please, my dear friends and colleagues, relatives and kin, all of you here share my pain so that I may feel less pain.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Xin các bạn hữu, người quen, bà con huyết thống của tôi hãy đến đây, tất cả mọi người hãy cùng chia xẻ cảm thọ này với tôi, để tôi được cảm thọ nhẹ nhàng hơn’ —
udāhu tvaṁyeva taṁ vedanaṁ vediyasī”ti?
Or must you alone feel that pain?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hay là chính vua phải một mình cảm thọ cảm thọ ấy?”
“Nāhaṁ, bho raṭṭhapāla, labhāmi te mittāmacce ñātisālohite:
“I can’t get my friends to share my pain.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ không, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, tôi không thể nhờ bạn hữu, người quen, bà con huyết thống:
‘āyantu me bhonto mittāmaccā ñātisālohitā, sabbeva santā imaṁ vedanaṁ saṁvibhajatha, yathāhaṁ lahukatarikaṁ vedanaṁ vediyeyyan’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Xin các bạn hữu, người quen, bà con huyết thống của tôi hãy đến đây, tất cả mọi người hãy cùng chia xẻ cảm thọ này với tôi, để tôi được cảm thọ nhẹ nhàng hơn.’
Atha kho ahameva taṁ vedanaṁ vediyāmī”ti.
Rather, I alone must feel it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, chính tôi phải một mình cảm thọ cảm thọ ấy.”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
“This is what the Buddha was referring to when he said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘atāṇo loko anabhissaro’ti,
‘The world has no shelter and no savior.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô hộ, vô chủ’ —
yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe điều ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla.
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tuyệt diệu thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla! Tuyệt vời thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla!
Yāva subhāsitaṁ cidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena:
how well said this was by the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều ấy được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo nói:
‘atāṇo loko anabhissaro’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô hộ, vô chủ.’
Atāṇo hi, bho raṭṭhapāla, loko anabhissaro.
For the world indeed has no shelter and no savior.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật vậy, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, thế giới là vô hộ, vô chủ.
Saṁvijjati kho, bho raṭṭhapāla, imasmiṁ rājakule pahūtaṁ hiraññasuvaṇṇaṁ bhūmigatañca vehāsagatañca.
In this royal court you can find abundant gold, both coined and uncoined, stored above and below ground. Yet you said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, ở trong hoàng gia này có nhiều vàng thoi vàng vụn, cất giấu dưới đất và trên trời. Vậy mà bậc đáng kính lại giảng:
‘Assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti—
‘The world has no owner—you must leave it all behind and pass on.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả’ —
bhavaṁ raṭṭhapālo āha.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã giảng như vậy.
Imassa pana, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
How should I see the meaning of this statement?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, phải hiểu ý nghĩa của lời nói ấy như thế nào?”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
yathā tvaṁ etarahi pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāresi, lacchasi tvaṁ paratthāpi:
These days you amuse yourself, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation. But is there any way to ensure that in the next life
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bây giờ vua thụ hưởng ngũ dục được cung cấp đầy đủ; vua có thể mong rằng [sang đời sau]
‘evamevāhaṁ imeheva pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāremī’ti, udāhu aññe imaṁ bhogaṁ paṭipajjissanti, tvaṁ pana yathākammaṁ gamissasī”ti?
you will continue to amuse yourself in the same way, supplied and provided with the same five kinds of sensual stimulation? Or will others make use of this property, while you pass on according to your deeds?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘ta cũng sẽ thụ hưởng ngũ dục ấy được cung cấp đầy đủ như thế này’, hay là người khác sẽ hưởng thụ các tài sản ấy, còn vua sẽ ra đi tùy theo nghiệp của mình?”
“Yathāhaṁ, bho raṭṭhapāla, etarahi pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāremi, nāhaṁ lacchāmi paratthāpi:
“There’s no way to ensure that I will continue to amuse myself in the same way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, tôi không thể mong rằng:
‘evameva imeheva pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāremī’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘ta cũng sẽ thụ hưởng ngũ dục ấy được cung cấp đầy đủ như thế này.
Atha kho aññe imaṁ bhogaṁ paṭipajjissanti; ahaṁ pana yathākammaṁ gamissāmī”ti.
Rather, others will take over this property, while I pass on according to my deeds.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, người khác sẽ hưởng thụ các tài sản ấy; còn tôi sẽ ra đi tùy theo nghiệp của mình.”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
“This is what the Buddha was referring to when he said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti,
‘The world has no owner—you must leave it all behind and pass on.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả’ —
yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe điều ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla.
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tuyệt diệu thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla! Tuyệt vời thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla!
Yāva subhāsitaṁ cidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena:
how well said this was by the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều ấy được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo nói:
‘assako loko, sabbaṁ pahāya gamanīyan’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả.’
Assako hi, bho raṭṭhapāla, loko sabbaṁ pahāya gamanīyaṁ.
For the world indeed has no owner—you must leave it all behind and pass on.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật vậy, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, thế giới là vô sở hữu, ra đi cần phải từ bỏ tất cả.
‘Ūno loko atitto taṇhādāso’ti—
You also said this: ‘The world is wanting, insatiable, the slave of craving.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bậc đáng kính cũng giảng: ‘Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.’
bhavaṁ raṭṭhapālo āha.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc đáng kính Raṭṭhapāla đã giảng như vậy.
Imassa, bho raṭṭhapāla, bhāsitassa kathaṁ attho daṭṭhabbo”ti?
How should I see the meaning of this statement?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, phải hiểu ý nghĩa của lời nói ấy như thế nào?”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
phītaṁ kuruṁ ajjhāvasasī”ti?
Do you reign over the prosperous land of Kuru?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua đang trị vì xứ Kuru thịnh vượng chăng?”
“Evaṁ, bho raṭṭhapāla, phītaṁ kuruṁ ajjhāvasāmī”ti.
“Indeed I do.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ đúng vậy, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, tôi đang trị vì xứ Kuru thịnh vượng.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
idha puriso āgaccheyya puratthimāya disāya saddhāyiko paccayiko.
Suppose a trustworthy and dependable man were to come from the east.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giả sử có một người đáng tin cậy từ phương đông đến.
So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya:
He’d approach you and say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy đến gặp vua và nói:
‘yagghe, mahārāja, jāneyyāsi, ahaṁ āgacchāmi puratthimāya disāya?
‘Please, Great King, you should know this. I come from the east.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Đại vương, xin hãy biết, tôi từ phương đông đến.
Tatthaddasaṁ mahantaṁ janapadaṁ iddhañceva phītañca bahujanaṁ ākiṇṇamanussaṁ.
There I saw a large country that is successful and prosperous, populous and full of people.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, tôi thấy một quốc độ lớn, thịnh vượng, sung túc, đông dân, người đông nghẹt.
Bahū tattha hatthikāyā assakāyā rathakāyā pattikāyā;
They have many divisions of elephants, cavalry, chariots, and infantry.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó có nhiều đoàn voi, đoàn kỵ binh, đoàn xe, đoàn bộ binh;
bahu tattha dhanadhaññaṁ;
And there’s plenty of money and grain,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ở đó có nhiều tiền của và lương thực;
bahu tattha hiraññasuvaṇṇaṁ akatañceva katañca;
plenty of gold, coined and uncoined, worked and unworked,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ở đó có nhiều vàng thoi vàng vụn, đã gia công và chưa gia công;
bahu tattha itthipariggaho.
and plenty of women for the taking.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ở đó có nhiều phụ nữ có thể chiếm đoạt.
Sakkā ca tāvatakeneva balamattena abhivijinituṁ.
With your current forces you can conquer it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với lực lượng hiện có, Đại vương có thể chinh phục được.’
Abhivijina, mahārājā’ti, kinti naṁ kareyyāsī”ti?
Conquer it, Great King!’ What would you do?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy chinh phục, thưa Đại vương’ — Đại vương sẽ làm gì?”
“Tampi mayaṁ, bho raṭṭhapāla, abhivijiya ajjhāvaseyyāmā”ti.
“I would conquer it and reign over it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, tôi sẽ chinh phục nơi ấy và trị vì tại đó.”
“Taṁ kiṁ maññasi, mahārāja,
“What do you think, Great King?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương nghĩ thế nào?
idha puriso āgaccheyya pacchimāya disāya …
Suppose a trustworthy and dependable man were to come from the west,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giả sử có một người đáng tin cậy từ phương tây đến …
uttarāya disāya …
north,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
từ phương bắc đến …
dakkhiṇāya disāya …
south,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
từ phương nam đến …
parasamuddato saddhāyiko paccayiko.
or from over the ocean.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hay từ bên kia biển cả đến.
So taṁ upasaṅkamitvā evaṁ vadeyya:
He’d approach you and say the same thing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy đến gặp vua và nói:
‘yagghe, mahārāja, jāneyyāsi, ahaṁ āgacchāmi parasamuddato?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Đại vương, xin hãy biết, tôi từ bên kia biển cả đến.
Tatthaddasaṁ mahantaṁ janapadaṁ iddhañceva phītañca bahujanaṁ ākiṇṇamanussaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, tôi thấy một quốc độ lớn, thịnh vượng, sung túc, đông dân, người đông nghẹt.
Bahū tattha hatthikāyā assakāyā rathakāyā pattikāyā;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó có nhiều đoàn voi, đoàn kỵ binh, đoàn xe, đoàn bộ binh;
bahu tattha dhanadhaññaṁ;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ở đó có nhiều tiền của và lương thực;
bahu tattha hiraññasuvaṇṇaṁ akatañceva katañca;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ở đó có nhiều vàng thoi vàng vụn, đã gia công và chưa gia công;
bahu tattha itthipariggaho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ở đó có nhiều phụ nữ có thể chiếm đoạt.
Sakkā ca tāvatakeneva balamattena abhivijinituṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với lực lượng hiện có, Đại vương có thể chinh phục được.’
Abhivijina, mahārājā’ti, kinti naṁ kareyyāsī”ti?
What would you do?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy chinh phục, thưa Đại vương’ — Đại vương sẽ làm gì?”
“Tampi mayaṁ, bho raṭṭhapāla, abhivijiya ajjhāvaseyyāmā”ti.
“I would conquer it and reign over it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, tôi sẽ chinh phục nơi ấy và trị vì tại đó.”
“Idaṁ kho taṁ, mahārāja, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena sandhāya bhāsitaṁ:
“This is what the Buddha was referring to when he said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đại vương, đây chính là điều mà Đức Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đã nói để chỉ cho điều này:
‘ūno loko atitto taṇhādāso’ti,
‘The world is wanting, insatiable, the slave of craving.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái’ —
yamahaṁ ñatvā ca disvā ca sutvā ca agārasmā anagāriyaṁ pabbajito”ti.
And it was after knowing and seeing and hearing this that I went forth from the lay life to homelessness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
do tôi biết, tôi thấy và tôi nghe điều ấy, mà tôi xuất gia từ đời sống tại gia đi đến đời sống không nhà.”
“Acchariyaṁ, bho raṭṭhapāla, abbhutaṁ, bho raṭṭhapāla.
“It’s incredible, worthy Raṭṭhapāla, it’s amazing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tuyệt diệu thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla! Tuyệt vời thay, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla!
Yāva subhāsitañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena:
how well said this was by the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều ấy được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, khéo nói:
‘ūno loko atitto taṇhādāso’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.’
Ūno hi, bho raṭṭhapāla, loko atitto taṇhādāso”ti.
For the world is indeed wanting, insatiable, the slave of craving.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật vậy, thưa bậc đáng kính Raṭṭhapāla, thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.”
Idamavoca āyasmā raṭṭhapālo.
That is what Venerable Raṭṭhapāla said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Raṭṭhapāla đã nói như vậy.
Idaṁ vatvā athāparaṁ etadavoca:
Then he went on to say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nói xong, bậc Thánh lại nói thêm:
“Passāmi loke sadhane manusse,
“I see rich humans in the world who,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta thấy người giàu sang ở đời,
Laddhāna vittaṁ na dadanti mohā;
because of delusion, give not <j>the wealth they’ve earned.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
có của vì si chẳng bố thí;
Luddhā dhanaṁ sannicayaṁ karonti,
Greedily, they hoard their riches,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vì tham, họ tích tụ tài vật,
Bhiyyova kāme abhipatthayanti.
yearning for ever more sensual pleasures.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và theo đuổi dục càng nhiều thêm.
Rājā pasayhā pathaviṁ vijitvā,
A king who conquered the earth by force,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua chinh phục cả đất đai,
Sasāgarantaṁ mahimāvasanto;
ruling the land from sea to sea,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trị vì đến tận bờ biển;
Oraṁ samuddassa atittarūpo,
unsatisfied with the near shore of the ocean,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chưa thỏa bờ biển bên này,
Pāraṁ samuddassapi patthayetha.
would still yearn for the further shore.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vẫn mong bờ biển bên kia.
Rājā ca aññe ca bahū manussā,
Not just the king, but others too,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vua và nhiều người khác nữa,
Avītataṇhā maraṇaṁ upenti;
reach death not rid of craving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tham ái chưa ly đến cái chết;
Ūnāva hutvāna jahanti dehaṁ,
They leave the body still wanting,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bị thiếu thốn, bỏ xác thân này,
Kāmehi lokamhi na hatthi titti.
for in this world sensual pleasures never satisfy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dục ở đời chẳng bao giờ đủ.
Kandanti naṁ ñātī pakiriya kese,
Relatives lament, their hair disheveled,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thân tộc xơ xác tóc tai, khóc than:
Ahovatā no amarāti cāhu;
saying ‘Ah! Alas! They’re not immortal!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Than ôi! Chẳng phải người bất tử!’
Vatthena naṁ pārutaṁ nīharitvā,
They take out the body wrapped in a shroud,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ quấn thân bằng vải, đưa ra,
Citaṁ samādāya tatoḍahanti.
heap up a pyre, and burn it there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chồng củ chất đống, hỏa thiêu tại đó.
So ḍayhati sūlehi tujjamāno,
It’s poked with stakes while being burnt,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thân bị thọc que trong lửa cháy,
Ekena vatthena pahāya bhoge;
in just a single cloth, all wealth gone.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chỉ một tấm vải, bỏ lại tài sản.
Na mīyamānassa bhavanti tāṇā,
Relatives, friends, and companions
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi người lâm chung, chẳng có gì che chở,
Ñātīdha mittā atha vā sahāyā.
can’t help you when you’re dying.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
từ bà con, bạn hữu, đến người tri kỷ.
Dāyādakā tassa dhanaṁ haranti,
Heirs take your riches,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người thừa tự mang đi tài sản,
Satto pana gacchati yena kammaṁ;
while beings fare on according to their deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn chúng sinh ra đi theo nghiệp.
Na mīyamānaṁ dhanamanveti kiñci,
Riches don’t follow you when you die;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không gì tài sản theo kẻ chết,
Puttā ca dārā ca dhanañca raṭṭhaṁ.
nor do children, wife, wealth, nor kingdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng chẳng con, vợ, tài sản, quốc độ.
Na dīghamāyuṁ labhate dhanena,
Longevity isn’t gained by riches,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Của cải chẳng mua được trường thọ,
Na cāpi vittena jaraṁ vihanti;
nor does wealth banish old age;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tiền tài chẳng xua được già suy;
Appaṁ hidaṁ jīvitamāhu dhīrā,
for the attentive say this life is short,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc trí nói đời này thật ngắn,
Asassataṁ vippariṇāmadhammaṁ.
it’s perishable and not eternal.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vô thường, luôn luôn biến đổi.
Aḍḍhā daliddā ca phusanti phassaṁ,
The rich and the poor feel its touch;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kẻ giàu, kẻ nghèo cùng cảm thọ,
Bālo ca dhīro ca tatheva phuṭṭho;
the fool and the attentive one feel it too.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
kẻ ngu, bậc trí đều như thế;
Bālo ca bālyā vadhitova seti,
But the fool lies stricken by their own folly,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
kẻ ngu bị ngu đánh, nằm ngã,
Dhīro ca na vedhati phassaphuṭṭho.
while the attentive don’t tremble at the touch.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bậc trí cảm thọ, chẳng run rẩy.
Tasmā hi paññāva dhanena seyyo,
Therefore wisdom’s much better than wealth,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, trí tuệ hơn tài sản,
Yāya vosānamidhādhigacchati;
since by wisdom <j>you reach consummation in this life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhờ trí, ở đây đạt viên mãn.
Abyositattā hi bhavābhavesu,
But if because of delusion <j>you don’t reach consummation,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không thành mãn trong hữu phi hữu,
Pāpāni kammāni karonti mohā.
you’ll do evil deeds in life after life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
kẻ ngu tạo tác các ác nghiệp.
Upeti gabbhañca parañca lokaṁ,
One who enters a womb and the world beyond,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người nhập thai và đến thế giới kia,
Saṁsāramāpajja paramparāya;
will transmigrate from one life to the next.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
luân hồi tái sinh tiếp nối dài.
Tassappapañño abhisaddahanto,
While someone of little wisdom, <j>placing faith in them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kẻ thiểu trí, tin chắc theo đấy,
Upeti gabbhañca parañca lokaṁ.
also enters a womb and the world beyond.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng nhập thai và đến thế giới kia.
Coro yathā sandhimukhe gahito,
As a bandit caught in a window
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như kẻ trộm bị bắt nơi ngách,
Sakammunā haññati pāpadhammo;
is punished for his own bad deeds;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ác tánh hại mình do tự nghiệp;
Evaṁ pajā pecca paramhi loke,
so after departing, in the world beyond,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chúng sinh cũng vậy, chết sang đời khác,
Sakammunā haññati pāpadhammo.
people are punished for their own bad deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ác tánh hại mình do tự nghiệp.
Kāmāhi citrā madhurā manoramā,
Sensual pleasures are diverse, sweet, delightful;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các dục nhiều màu, ngọt ngào khả ái,
Virūparūpena mathenti cittaṁ;
appearing in disguise they disturb the mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhiều hình thức quấy nhiễu tâm;
Ādīnavaṁ kāmaguṇesu disvā,
Seeing danger in sensual stimulations,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thấy nguy hại trong ngũ dục,
Tasmā ahaṁ pabbajitomhi rāja.
I went forth, O King.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nên ta xuất gia, thưa nhà vua.
Dumapphalāneva patanti māṇavā,
As fruit falls from a tree, so the sons of Manu fall,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như trái rơi từ cội cây, người trẻ già,
Daharā ca vuḍḍhā ca sarīrabhedā;
young and old, when the body breaks up.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đều rơi rụng khi thân hoại;
Etampi disvā pabbajitomhi rāja,
Seeing this, too, I went forth, O King;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thấy điều ấy, ta xuất gia, thưa nhà vua,
Apaṇṇakaṁ sāmaññameva seyyo”ti.
it’s a sure bet that the ascetic life is better.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hạnh sa-môn khẳng định là tối thượng.”
Raṭṭhapālasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Raṭṭhapāla, bài thứ hai, kết thúc.