← Kinh Trung Bộ

MN67 · Majjhima Nikāya

Kinh Cātuma

Cātumasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Bài kinh kể lại khi Đức Phật trú ở Cātumā, tại vườn loa kè, khi năm trăm tỳ-kheo do Sāriputta và Moggallāna dẫn đầu đến yết kiến. Những tỳ-kheo khách du ấy khi chào hỏi, khi dọn chỗ trú, khi cất bát y đã làm ồn ào lớn tiếng, nghe như đám ngư dân đang vớ cá. Qua lời Ānanda, Đức Phật biết sự việc, cho gọi đại chúng đến và trục xuất, tuyên bố họ không được sống trong gần gũi của Ngài.

Các tỳ-kheo gặp người Sakyā ở Cātumā. Người Sakyā đến thỉnh Đức Phật hoan hỷ và chấp nhận đại chúng như thuở trước, vì có những tỳ-kheo mới xuất gia, chưa lâu đến với Pháp và Luật, nếu không được thấy Đức Phật sẽ có thể thay đổi, biến chuyển, như mầm non không được nước, như con bê non không thấy mẹ. Phạm thiên Sahampati hiện ra nhắc lại cùng lời thỉnh cầu; nhờ vậy Đức Phật được thuyết phục, và Moggallāna bảo các tỳ-kheo trở lại.

Khi đại chúng trở về, Đức Phật hỏi Sāriputta đã nghĩ gì. Sāriputta đáp mình nghĩ Đức Phật và chúng con sẽ sống không khởi cầu mong, an trú hiện tại lạc trú; Đức Phật bảo khoan, đừng nghĩ rằng sống hiện tại lạc trú. Moggallāna thì nghĩ mình và Sāriputta sẽ trông coi đại chúng; Đức Phật khen điều ấy: hoặc Ta, hoặc Sāriputta và Moggallāna, phải trông coi đại chúng tỳ-kheo.

Cuối cùng, Đức Phật dạy: như người xuống nước cần dự đoán trước bốn nỗi sợ là sóng, cá sấu, xoáy nước, cá mập, người xuất gia sống không nhà trong Pháp và Luật này cũng cần dự đoán trước bốn nỗi sợ ấy. Nỗi sợ sóng là tên gọi cho giận dữ và bực bội: vị xuất gia vì lòng tin thấy đồng phạm hạnh khuyên dạy oai nghi đi lại, nhìn, mang y bát, liền uất ức, từ bỏ đạo học. Nỗi sợ cá sấu là tên gọi cho sự phàm ăn: vị ấy không chịu nổi các giới hạn về thức ăn uống hợp pháp và về giờ khắc. Nỗi sợ xoáy nước là tên gọi cho năm dục trưởng dưỡng: vị ấy khất thực không phòng hộ các căn, thấy gia chủ đang hưởng dục liền nhớ hồi của cải rồi trở về. Nỗi sợ cá mập là tên gọi cho phụ nữ: vị ấy thấy phụ nữ hở hang, tham dục ô nhiễm tâm rồi từ bỏ đạo học; cả bốn hạng đều quay về cuộc sống thấp kém.

Bài kinh khép lại ở tương phản ấy: bốn nỗi sợ dưới nước chỉ là tên gọi cho bốn nguy hiểm khiến người xuất gia từ bỏ đạo học, cần dự đoán trước khi bước vào đời sống không nhà.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 469 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: dd529208-2f81-42f6-be00-59589e4354bb · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 3e432003cb037b56d462fbfabb836749a59640771c31d318066d35b16fa110c4

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 469 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: bc3545ea-ddd2-4c4f-a176-093d35a37745 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 3e432003cb037b56d462fbfabb836749a59640771c31d318066d35b16fa110c4

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Đánh giá đầy đủ · 9.60/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Publish: khắc phục blocker cắt ngắm — mn15/mn16/mn28/mn65/mn67 là dấu `…` tiếp nối sau khi nội dung đã dịch đủ (bỏ dấu); dn10:2.18.6 khôi phục công thức tứ thiền bị lược ("không khổ không lạc, với niệm thanh tịnh nhờ xả") theo đúng văn phong 2.18.1; mn6/mn13 re-score theo quy trình Codex. Đối chiếu nguồn đã pin.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.5
Ngữ pháp & logic9.5
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.4
Đối chiếu nguồn9.5
Tiếng Việt sáng rõ9.5
Hán–Việt & súc tích9.4
Bất định & trung thực9.4
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: aca1e5fd-efe3-437d-9646-718e0374317a · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: c4ed166fc57a886172db0b6e530fddbc948b668ae0114e172dc645b9680f2222

2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 129 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: f03ae022-095d-4b47-a7bc-efc82ea1fa83 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: da6f3ae1fbf17567e34228ceac7bd65aa3a8d15ca05b38c4086398cf44485770

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 129 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 58dd29aa-4549-4d5b-ab0e-7d4fea778d17 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: da6f3ae1fbf17567e34228ceac7bd65aa3a8d15ca05b38c4086398cf44485770

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.60/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.5
Ngữ pháp & logic9.5
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.4
Đối chiếu nguồn9.5
Tiếng Việt sáng rõ9.5
Hán–Việt & súc tích9.4
Bất định & trung thực9.4
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

129/129 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

128/129 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

129/129 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 67
Middle Discourses 67
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 67
Cātumasutta
At Cātumā
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Cātuma
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā cātumāyaṁ viharati āmalakīvane.
At one time the Buddha was staying near Cātumā in a myrobalan grove.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Cātumā, tại vườn loa kè.
Tena kho pana samayena sāriputtamoggallānappamukhāni pañcamattāni bhikkhusatāni cātumaṁ anuppattāni honti bhagavantaṁ dassanāya.
Now at that time five hundred mendicants headed by Sāriputta and Moggallāna arrived at Cātumā to see the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc ấy, năm trăm tỳ-kheo với Sāriputta và Moggallāna đứng đầu đã đến Cātumā để yết kiến Đức Phật.
Te ca āgantukā bhikkhū nevāsikehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodamānā senāsanāni paññāpayamānā pattacīvarāni paṭisāmayamānā uccāsaddā mahāsaddā ahesuṁ.
And the visiting mendicants, while exchanging pleasantries with the resident mendicants, preparing their lodgings, and putting away their bowls and robes, made a colossal racket.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những tỳ-kheo khách du này khi chào hỏi các tỳ-kheo trú tại, khi dọn các chỗ trú, khi cất bát y đã làm ồn ào lớn tiếng.
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
Then the Buddha said to Venerable Ānanda,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật gọi Tôn giả Ānanda:
“ke panete, ānanda, uccāsaddā mahāsaddā, kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Ānanda, who’s making that colossal racket? You’d think it was fishermen hauling in a catch!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, tiếng ồn ào lớn tiếng ấy là của ai? Nghe như đám ngư dân đang vớ cá vậy.”
“Etāni, bhante, sāriputtamoggallānappamukhāni pañcamattāni bhikkhusatāni cātumaṁ anuppattāni bhagavantaṁ dassanāya.
And Ānanda told him what had happened.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, đó là năm trăm tỳ-kheo với Sāriputta và Moggallāna đứng đầu vừa đến Cātumā để yết kiến Thế Tôn.
Te āgantukā bhikkhū nevāsikehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodamānā senāsanāni paññāpayamānā pattacīvarāni paṭisāmayamānā uccāsaddā mahāsaddā”ti.
And the visiting mendicants, while exchanging pleasantries with the resident mendicants, preparing their lodgings, and putting away their bowls and robes, made a colossal racket.”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những tỳ-kheo khách du ấy khi chào hỏi các tỳ-kheo trú tại, khi dọn các chỗ trú, khi cất bát y đã làm ồn ào lớn tiếng.”
“Tenahānanda, mama vacanena te bhikkhū āmantehi:
“Well then, Ānanda, in my name tell those mendicants that
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy này Ānanda, nhân lời Ta hãy gọi các tỳ-kheo ấy:
‘satthā āyasmante āmantetī’”ti.
the Teacher summons them.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đạo sư gọi các Tôn giả.’”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paṭissutvā yena te bhikkhū tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavoca:
“Yes, sir,” Ānanda replied. He went to those mendicants and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ vâng, bạch Thế Tôn,” Tôn giả Ānanda đáp lời Đức Phật rồi đến chỗ các tỳ-kheo ấy; đến nơi, nói với các tỳ-kheo:
“satthā āyasmante āmantetī”ti.
“Venerables, the Teacher summons you.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Các Tôn giả ơi, Đạo sư gọi các Tôn giả.”
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
“Yes, reverend,” replied those mendicants. Then they rose from their seats and went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ, các hiền giả,” các tỳ-kheo ấy đáp lời Tôn giả Ānanda rồi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với các tỳ-kheo đang ngồi một bên:
“kiṁ nu tumhe, bhikkhave, uccāsaddā mahāsaddā, kevaṭṭā maññe macchavilope”ti?
“Mendicants, what’s with that colossal racket? You’d think it was fishermen hauling in a catch!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, tiếng ồn ào lớn tiếng ấy là của các thầy sao? Nghe như đám ngư dân đang vớ cá vậy.”
“Imāni, bhante, sāriputtamoggallānappamukhāni pañcamattāni bhikkhusatāni cātumaṁ anuppattāni bhagavantaṁ dassanāya.
And they told him what had happened.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, đó là năm trăm tỳ-kheo với Sāriputta và Moggallāna đứng đầu vừa đến Cātumā để yết kiến Thế Tôn.
Teme āgantukā bhikkhū nevāsikehi bhikkhūhi saddhiṁ paṭisammodamānā senāsanāni paññāpayamānā pattacīvarāni paṭisāmayamānā uccāsaddā mahāsaddā”ti.
And the visiting mendicants, while exchanging pleasantries with the resident mendicants, preparing their lodgings, and putting away their bowls and robes, made a colossal racket.”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những tỳ-kheo khách du này khi chào hỏi các tỳ-kheo trú tại, khi dọn các chỗ trú, khi cất bát y đã làm ồn ào lớn tiếng.”
“Gacchatha, bhikkhave, paṇāmemi vo, na vo mama santike vatthabban”ti.
“Go away, mendicants, I dismiss you. You are not to stay in my presence.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, hãy đi đi, Ta trục xuất các thầy. Các thầy không được sống trong gần gũi của Ta.”
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paṭissutvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya pakkamiṁsu.
“Yes, sir,” replied those mendicants. They got up from their seats, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on their right. They set their lodgings in order and left, taking their bowls and robes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ vâng, bạch Thế Tôn,” các tỳ-kheo ấy đáp lời Đức Phật, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Phật, quay bên phải, thu dọn chỗ trú, cầm bát y rồi ra đi.
Tena kho pana samayena cātumeyyakā sakyā santhāgāre sannipatitā honti kenacideva karaṇīyena.
Now at that time the Sakyans of Cātumā were sitting together at the town hall on some business.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc ấy, các người Sakyā ở Cātumā đang tụ tập tại nhà hội để bàn một công việc nào đó.
Addasaṁsu kho cātumeyyakā sakyā te bhikkhū dūratova āgacchante;
Seeing those mendicants coming off in the distance,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các người Sakyā ở Cātumā thấy các tỳ-kheo ấy từ xa đi đến;
disvāna yena te bhikkhū tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā te bhikkhū etadavocuṁ:
they went up to them and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thấy xong, đi đến chỗ các tỳ-kheo; đến nơi, nói với các tỳ-kheo:
“handa kahaṁ pana tumhe āyasmanto gacchathā”ti?
“Hello venerables, where are you going?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Kìa, các Tôn giả đi đâu vậy?”
“Bhagavatā kho, āvuso, bhikkhusaṅgho paṇāmito”ti.
“Reverends, the mendicant Saṅgha has been dismissed by the Buddha.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các hiền giả, đại chúng tỳ-kheo đã bị Đức Phật trục xuất.”
“Tenahāyasmanto muhuttaṁ nisīdatha, appeva nāma mayaṁ sakkuṇeyyāma bhagavantaṁ pasādetun”ti.
“Well then, venerables, sit here for an hour. Hopefully we’ll be able to restore the Buddha’s confidence.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy các Tôn giả hãy ngồi lại một lúc, biết đâu chúng tôi có thể làm Đức Phật hài lòng.”
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū cātumeyyakānaṁ sakyānaṁ paccassosuṁ.
“Yes, respectable sirs,” replied the mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ, các hiền giả,” các tỳ-kheo ấy đáp lời các người Sakyā ở Cātumā.
Atha kho cātumeyyakā sakyā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho cātumeyyakā sakyā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then the Sakyans of Cātumā went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các người Sakyā ở Cātumā đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các người Sakyā ở Cātumā bạch Đức Phật:
“abhinandatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ;
“May the Buddha be happy with the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hoan hỷ với đại chúng tỳ-kheo;
abhivadatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ.
May the Buddha welcome the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bạch Thế Tôn, xin Đức Phật chấp nhận đại chúng tỳ-kheo.
Seyyathāpi, bhante, bhagavatā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito; evameva bhagavā etarahi anuggaṇhātu bhikkhusaṅghaṁ.
May the Buddha support the mendicant Saṅgha now as he did in the past!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, như thuở trước Đức Phật đã che chở đại chúng tỳ-kheo, bây giờ xin Đức Phật cũng che chở đại chúng tỳ-kheo như vậy.
Santettha, bhante, bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ.
There are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, bạch Thế Tôn, có những tỳ-kheo mới xuất gia, xuất gia chưa lâu, mới đến với Pháp và Luật này.
Tesaṁ bhagavantaṁ dassanāya alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo.
If they don’t get to see the Buddha they may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu không được thấy Đức Phật, họ có thể thay đổi, có thể biến chuyển.
Seyyathāpi, bhante, bījānaṁ taruṇānaṁ udakaṁ alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ siyā vipariṇāmo;
If young seedlings don’t get water they may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, ví như những mầm non non tơ không được nước sẽ thay đổi, sẽ biến chuyển;
evameva kho, bhante, santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ, tesaṁ bhagavantaṁ dassanāya alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo.
In the same way, there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. If they don’t get to see the Buddha they may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ-kheo mới xuất gia, xuất gia chưa lâu, mới đến với Pháp và Luật này; nếu không được thấy Đức Phật, họ có thể thay đổi, có thể biến chuyển.
Seyyathāpi, bhante, vacchassa taruṇassa mātaraṁ apassantassa siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo;
If a young calf doesn’t see its mother it may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, ví như con bê non không được thấy mẹ sẽ thay đổi, sẽ biến chuyển;
evameva kho, bhante, santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ, tesaṁ bhagavantaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo.
In the same way, there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. If they don’t get to see the Buddha they may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ-kheo mới xuất gia, xuất gia chưa lâu, mới đến với Pháp và Luật này; nếu không được thấy Đức Phật, họ có thể thay đổi, có thể biến chuyển.
Abhinandatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ;
May the Buddha be happy with the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hoan hỷ với đại chúng tỳ-kheo;
abhivadatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ.
May the Buddha welcome the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bạch Thế Tôn, xin Đức Phật chấp nhận đại chúng tỳ-kheo.
Seyyathāpi, bhante, bhagavatā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito; evameva bhagavā etarahi anuggaṇhātu bhikkhusaṅghan”ti.
May the Buddha support the mendicant Saṅgha now as he did in the past!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như thuở trước Đức Phật đã che chở đại chúng tỳ-kheo, bây giờ xin Đức Phật cũng che chở đại chúng tỳ-kheo như vậy.”
Atha kho brahmā sahampati bhagavato cetasā cetoparivitakkamaññāya—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—brahmaloke antarahito bhagavato purato pāturahosi.
Then the divinity Sahampati knew the Buddha’s train of thought. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from the realm of divinity and reappeared in front of the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bấy giờ, Phạm thiên Sahampati biết tâm nghĩ của Đức Phật; ví như người mạnh khỏe duỗi tay gập tay nhanh nhạy, Ngài biến mất khỏi cõi Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Phật.
Atha kho brahmā sahampati ekaṁsaṁ uttarāsaṅgaṁ karitvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
He arranged his robe over one shoulder, raised his cupped palms toward the Buddha, and said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Phạm thiên Sahampati xếp y trùm một vai, chắp tay hướng về Đức Phật và bạch:
“abhinandatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ;
“May the Buddha be happy with the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hoan hỷ với đại chúng tỳ-kheo;
abhivadatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ.
May the Buddha welcome the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bạch Thế Tôn, xin Đức Phật chấp nhận đại chúng tỳ-kheo.
Seyyathāpi, bhante, bhagavatā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito; evameva bhagavā etarahi anuggaṇhātu bhikkhusaṅghaṁ.
May the Buddha support the mendicant Saṅgha now as he did in the past!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như thuở trước Đức Phật đã che chở đại chúng tỳ-kheo, bây giờ xin Đức Phật cũng che chở đại chúng tỳ-kheo như vậy.
Santettha, bhante, bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ, tesaṁ bhagavantaṁ dassanāya alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo.
There are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. If they don’t get to see the Buddha they may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, bạch Thế Tôn, có những tỳ-kheo mới xuất gia, xuất gia chưa lâu, mới đến với Pháp và Luật này; nếu không được thấy Đức Phật, họ có thể thay đổi, có thể biến chuyển.
Seyyathāpi, bhante, bījānaṁ taruṇānaṁ udakaṁ alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo;
If young seedlings don’t get water they may change and fall apart. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, ví như những mầm non non tơ không được nước sẽ thay đổi, sẽ biến chuyển;
evameva kho, bhante, santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ, tesaṁ bhagavantaṁ dassanāya alabhantānaṁ siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo.
In the same way, there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. If they don’t get to see the Buddha they may change and fall apart.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ-kheo mới xuất gia, xuất gia chưa lâu, mới đến với Pháp và Luật này; nếu không được thấy Đức Phật, họ có thể thay đổi, có thể biến chuyển.
Seyyathāpi, bhante, vacchassa taruṇassa mātaraṁ apassantassa siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo;
If a young calf doesn’t see its mother it may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, ví như con bê non không được thấy mẹ sẽ thay đổi, sẽ biến chuyển.
evameva kho, bhante, santettha bhikkhū navā acirapabbajitā adhunāgatā imaṁ dhammavinayaṁ, tesaṁ bhagavantaṁ apassantānaṁ siyā aññathattaṁ, siyā vipariṇāmo.
In the same way, there are mendicants here who are junior, recently gone forth, newly come to this teaching and training. If they don’t get to see the Buddha they may change and fall apart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, bạch Thế Tôn, ở đây có những tỳ-kheo mới xuất gia, xuất gia chưa lâu, mới đến với Pháp và Luật này; nếu không được thấy Đức Phật, họ có thể thay đổi, có thể biến chuyển.
Abhinandatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ;
May the Buddha be happy with the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hoan hỷ với đại chúng tỳ-kheo;
abhivadatu, bhante, bhagavā bhikkhusaṅghaṁ.
May the Buddha welcome the mendicant Saṅgha!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bạch Thế Tôn, xin Đức Phật chấp nhận đại chúng tỳ-kheo.
Seyyathāpi, bhante, bhagavatā pubbe bhikkhusaṅgho anuggahito; evameva bhagavā etarahi anuggaṇhātu bhikkhusaṅghan”ti.
May the Buddha support the mendicant Saṅgha now as he did in the past!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như thuở trước Đức Phật đã che chở đại chúng tỳ-kheo, bây giờ xin Đức Phật cũng che chở đại chúng tỳ-kheo như vậy.”
Asakkhiṁsu kho cātumeyyakā ca sakyā brahmā ca sahampati bhagavantaṁ pasādetuṁ bījūpamena ca taruṇūpamena ca.
The Sakyans of Cātumā and the divinity Sahampati were able to restore the Buddha’s confidence with the similes of the seedlings and the calf.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhờ những ví dụ mầm non và bê non, các người Sakyā ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati đã thuyết phục được Đức Phật.
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno bhikkhū āmantesi:
Then Venerable Mahāmoggallāna addressed the mendicants,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna gọi các tỳ-kheo:
“uṭṭhethāvuso, gaṇhatha pattacīvaraṁ.
“Get up, reverends, and pick up your bowls and robes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các hiền giả, hãy đứng dậy, cầm lấy bát y.
Pasādito bhagavā cātumeyyakehi ca sakyehi brahmunā ca sahampatinā bījūpamena ca taruṇūpamena cā”ti.
The Buddha’s confidence has been restored by the Sakyans of Cātumā and the divinity Sahampati with the similes of the seedlings and the calf.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã được thuyết phục rồi, nhờ các người Sakyā ở Cātumā và Phạm thiên Sahampati với những ví dụ mầm non và bê non.”
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato mahāmoggallānassa paṭissutvā uṭṭhāyāsanā pattacīvaramādāya yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ sāriputtaṁ bhagavā etadavoca:
“Yes, reverend,” replied those mendicants. Then they rose from their seats and, taking their bowls and robes, went to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to Venerable Sāriputta,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Dạ, các hiền giả,” các tỳ-kheo ấy đáp lời Tôn giả Mahāmoggallāna, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cầm bát y rồi đến nơi Đức Phật; đến nơi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Tôn giả Sāriputta đang ngồi một bên:
“kinti te, sāriputta, ahosi mayā bhikkhusaṅghe paṇāmite”ti?
“Sāriputta, what did you think when the mendicant Saṅgha was dismissed by me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Sāriputta, khi Ta trục xuất đại chúng tỳ-kheo, ông nghĩ thế nào?”
“Evaṁ kho me, bhante, ahosi:
“Sir, I thought this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau:
‘bhagavatā bhikkhusaṅgho paṇāmito.
‘The Buddha has dismissed the mendicant Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đức Phật đã trục xuất đại chúng tỳ-kheo.
Appossukko dāni bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharissati, mayampi dāni appossukkā diṭṭhadhammasukhavihāramanuyuttā viharissāmā’”ti.
Now he will remain passive, dwelling in blissful meditation in this life, and so will we.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giờ đây Đức Phật sẽ sống không khởi cầu mong, an trú trong hiện tại lạc trú; chúng con cũng sẽ sống không khởi cầu mong, an trú trong hiện tại lạc trú.’”
“Āgamehi tvaṁ, sāriputta, āgamehi tvaṁ, sāriputta, diṭṭhadhammasukhavihāran”ti.
“Hold on, Sāriputta, hold on! Don’t you ever think such a thing again!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Sāriputta, hãy khoan hãy khoan, đừng nghĩ rằng sống hiện tại lạc trú.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ āmantesi:
Then the Buddha addressed Venerable Mahāmoggallāna,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật gọi Tôn giả Mahāmoggallāna:
“kinti te, moggallāna, ahosi mayā bhikkhusaṅghe paṇāmite”ti?
“Moggallāna, what did you think when the mendicant Saṅgha was dismissed by me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Moggallāna, khi Ta trục xuất đại chúng tỳ-kheo, ông nghĩ thế nào?”
“Evaṁ kho me, bhante, ahosi:
“Sir, I thought this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau:
‘bhagavatā bhikkhusaṅgho paṇāmito.
‘The Buddha has dismissed the mendicant Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đức Phật đã trục xuất đại chúng tỳ-kheo.
Appossukko dāni bhagavā diṭṭhadhammasukhavihāraṁ anuyutto viharissati, ahañca dāni āyasmā ca sāriputto bhikkhusaṅghaṁ pariharissāmā’”ti.
Now he will remain passive, dwelling in blissful meditation in this life. Meanwhile, Venerable Sāriputta and I shall lead the mendicant Saṅgha.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giờ đây Đức Phật sẽ sống không khởi cầu mong, an trú trong hiện tại lạc trú; còn bây giờ, con và Tôn giả Sāriputta sẽ trông coi đại chúng tỳ-kheo.’”
“Sādhu sādhu, moggallāna.
“Good, good, Moggallāna!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tốt lắm, tốt lắm, này Moggallāna!
Ahaṁ vā hi, moggallāna, bhikkhusaṅghaṁ parihareyyaṁ sāriputtamoggallānā vā”ti.
For either I should lead the mendicant Saṅgha, or else Sāriputta and Moggallāna.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoặc Ta, hoặc Sāriputta và Moggallāna, phải trông coi đại chúng tỳ-kheo.”
Atha kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
Then the Buddha said to the mendicants:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật gọi các tỳ-kheo:
“cattārimāni, bhikkhave, bhayāni udakorohante pāṭikaṅkhitabbāni.
“Mendicants, when you go into the water you should anticipate four dangers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, khi xuống nước cần dự đoán trước bốn nỗi sợ.
Katamāni cattāri?
What four?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn nỗi sợ nào?
Ūmibhayaṁ, kumbhīlabhayaṁ, āvaṭṭabhayaṁ, susukābhayaṁ—
The dangers of waves, gharials, whirlpools, and sharks.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nỗi sợ sóng, nỗi sợ cá sấu, nỗi sợ xoáy nước và nỗi sợ cá mập —
imāni, bhikkhave, cattāri bhayāni udakorohante pāṭikaṅkhitabbāni.
These are the four dangers that you should anticipate when you go into the water.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, bốn nỗi sợ này cần dự đoán trước khi xuống nước.
Evameva kho, bhikkhave, cattārimāni bhayāni idhekacce puggale imasmiṁ dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajite pāṭikaṅkhitabbāni.
In the same way, an individual gone forth from the lay life to homelessness in this teaching and training should anticipate four dangers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, một hạng người xuất gia từ bỏ gia đình sống không nhà trong Pháp và Luật này cần dự đoán trước bốn nỗi sợ.
Katamāni cattāri?
What four?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn nỗi sợ nào?
Ūmibhayaṁ, kumbhīlabhayaṁ, āvaṭṭabhayaṁ, susukābhayaṁ.
The dangers of waves, gharials, whirlpools, and sharks.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nỗi sợ sóng, nỗi sợ cá sấu, nỗi sợ xoáy nước và nỗi sợ cá mập.
Katamañca, bhikkhave, ūmibhayaṁ?
And what, mendicants, is the danger of waves?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, thế nào là nỗi sợ sóng?
Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, có một thiện nam tử vì lòng tin mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà, nghĩ rằng:
‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇo dukkhapareto;
‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta đang bị sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não vây phủ; đang bị khổ nhận chìm, bị khổ chi phối;
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mong sao ta có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ này.’
Tamenaṁ tathā pabbajitaṁ samānaṁ sabrahmacārī ovadanti, anusāsanti:
When they’ve gone forth, their spiritual companions advise and instruct them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi xuất gia như vậy, các đồng phạm hạnh khuyên dạy, huấn luyện vị ấy:
‘evaṁ te abhikkamitabbaṁ, evaṁ te paṭikkamitabbaṁ, evaṁ te ālokitabbaṁ, evaṁ te vilokitabbaṁ, evaṁ te samiñjitabbaṁ, evaṁ te pasāritabbaṁ, evaṁ te saṅghāṭipattacīvaraṁ dhāretabban’ti.
‘You should go out like this, and come back like that. You should look to the front like this, and to the side like that. You should contract your limbs like this, and extend them like that. This is how you should bear your outer robe, bowl, and robes.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ông hãy đi vào như thế này, hãy đi ra như thế này; hãy nhìn thẳng như thế này, hãy nhìn nghiêng như thế này; hãy gập tay chân như thế này, hãy duỗi tay chân như thế này; hãy mang y bát như thế này.’
Tassa evaṁ hoti:
They think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nghĩ:
‘mayaṁ kho pubbe agāriyabhūtā samānā aññe ovadāma, anusāsāma.
‘Formerly, as laypeople, we advised and instructed others.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trước kia, khi còn là người tại gia, ta khuyên dạy huấn luyện người khác.
Ime panamhākaṁ puttamattā maññe, nattamattā maññe, amhe ovaditabbaṁ anusāsitabbaṁ maññantī’ti.
And now these mendicants—who you’d think were our children or grandchildren—imagine they can advise and instruct us!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mà bây giờ những vị này — coi như con ta, cháu ta — lại tưởng ta phải được khuyên dạy huấn luyện!’
So sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
They resign the training and return to a lesser life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy từ bỏ đạo học và quay về cuộc sống thấp kém.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, ūmibhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto.
This is called a mendicant who resigns the training and returns to a lesser life for fear of the danger of waves.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy được gọi, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo vì sợ nỗi sợ sóng mà từ bỏ đạo học quay về cuộc sống thấp kém.
‘Ūmibhayan’ti kho, bhikkhave, kodhupāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Danger of waves’ is a term for anger and distress.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nỗi sợ sóng’, này các tỳ-kheo, là tên gọi cho giận dữ và bực bội.
Katamañca, bhikkhave, kumbhīlabhayaṁ?
And what, mendicants, is the danger of gharials?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, thế nào là nỗi sợ cá sấu?
Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, có một thiện nam tử vì lòng tin mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà, nghĩ rằng:
‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇo dukkhapareto;
‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta đang bị sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não vây phủ; đang bị khổ nhận chìm, bị khổ chi phối;
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mong sao ta có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ này.’
Tamenaṁ tathā pabbajitaṁ samānaṁ sabrahmacārī ovadanti anusāsanti:
When they’ve gone forth, their spiritual companions advise and instruct them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi xuất gia như vậy, các đồng phạm hạnh khuyên dạy, huấn luyện vị ấy:
‘idaṁ te khāditabbaṁ, idaṁ te na khāditabbaṁ; idaṁ te bhuñjitabbaṁ, idaṁ te na bhuñjitabbaṁ; idaṁ te sāyitabbaṁ, idaṁ te na sāyitabbaṁ; idaṁ te pātabbaṁ, idaṁ te na pātabbaṁ; kappiyaṁ te khāditabbaṁ, akappiyaṁ te na khāditabbaṁ; kappiyaṁ te bhuñjitabbaṁ, akappiyaṁ te na bhuñjitabbaṁ; kappiyaṁ te sāyitabbaṁ, akappiyaṁ te na sāyitabbaṁ; kappiyaṁ te pātabbaṁ, akappiyaṁ te na pātabbaṁ; kāle te khāditabbaṁ, vikāle te na khāditabbaṁ; kāle te bhuñjitabbaṁ, vikāle te na bhuñjitabbaṁ; kāle te sāyitabbaṁ, vikāle te na sāyitabbaṁ; kāle te pātabbaṁ, vikāle te na pātabban’ti.
‘You may eat, consume, taste, and drink these things, but not those. You may eat what’s allowable, but not what’s unallowable. You may eat at the right time, but not at the wrong time.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Điều này ông được ăn, điều này không được ăn; điều này ông được dùng, điều này không được dùng; điều này ông được nếm, điều này không được nếm; điều này ông được uống, điều này không được uống; thức hợp pháp thì được ăn, thức không hợp pháp thì không được ăn; thức hợp pháp thì được dùng, thức không hợp pháp thì không được dùng; thức hợp pháp thì được nếm, thức không hợp pháp thì không được nếm; thức hợp pháp thì được uống, thức không hợp pháp thì không được uống; đúng giờ thì được ăn, trái giờ thì không được ăn; đúng giờ thì được dùng, trái giờ thì không được dùng; đúng giờ thì được nếm, trái giờ thì không được nếm; đúng giờ thì được uống, trái giờ thì không được uống.’
Tassa evaṁ hoti: ‘mayaṁ kho pubbe agāriyabhūtā samānā yaṁ icchāma taṁ khādāma, yaṁ na icchāma na taṁ khādāma; yaṁ icchāma taṁ bhuñjāma, yaṁ na icchāma na taṁ bhuñjāma; yaṁ icchāma taṁ sāyāma, yaṁ na icchāma na taṁ sāyāma; yaṁ icchāma taṁ pivāma, yaṁ na icchāma na taṁ pivāma;
They think: ‘Formerly, as laypeople, we used to eat, consume, taste, and drink what we wanted, not what we didn’t want.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nghĩ: ‘Trước kia, khi còn là người tại gia, ta muốn ăn gì thì ăn nấy, không muốn thì không ăn; muốn dùng thì dùng nấy, không muốn thì không dùng; muốn nếm thì nếm nấy, không muốn thì không nếm; muốn uống thì uống nấy, không muốn thì không uống;
kappiyampi khādāma, akappiyampi khādāma; kappiyampi bhuñjāma, akappiyampi bhuñjāma; kappiyampi sāyāma, akappiyampi sāyāma; kappiyampi pivāma, akappiyampi pivāma; kālepi khādāma, vikālepi khādāma; kālepi bhuñjāma vikālepi bhuñjāma; kālepi sāyāma, vikālepi sāyāma; kālepi pivāma, vikālepi pivāma.
We ate and drank both allowable and unallowable things, at the right time and the wrong time.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hợp pháp ta ăn, không hợp pháp ta cũng ăn; hợp pháp ta dùng, không hợp pháp ta cũng dùng; hợp pháp ta nếm, không hợp pháp ta cũng nếm; hợp pháp ta uống, không hợp pháp ta cũng uống; đúng giờ ta ăn, trái giờ ta cũng ăn; đúng giờ ta dùng, trái giờ ta cũng dùng; đúng giờ ta nếm, trái giờ ta cũng nếm; đúng giờ ta uống, trái giờ ta cũng uống.
Yampi no saddhā gahapatikā divā vikāle paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ denti tatthapime mukhāvaraṇaṁ maññe karontī’ti.
And these faithful householders give us delicious fresh and cooked foods at the wrong time of day. But these guys imagine they can gag our mouths!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mà những phật tử có lòng tin lại dâng cho ta thức ngon thức lạ vào những giờ trái giờ — những người này tưởng rằng có thể bịt miệng chúng ta!’
So sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
They resign the training and return to a lesser life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy từ bỏ đạo học và quay về cuộc sống thấp kém.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, kumbhīlabhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto.
This is called one who resigns the training and returns to a lesser life because they’re afraid of the danger of gharials.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy được gọi, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo vì sợ nỗi sợ cá sấu mà từ bỏ đạo học quay về cuộc sống thấp kém.
‘Kumbhīlabhayan’ti kho, bhikkhave, odarikattassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Danger of gharials’ is a term for gluttony.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nỗi sợ cá sấu’, này các tỳ-kheo, là tên gọi cho sự phàm ăn.
Katamañca, bhikkhave, āvaṭṭabhayaṁ?
And what, mendicants, is the danger of whirlpools?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, thế nào là nỗi sợ xoáy nước?
Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, có một thiện nam tử vì lòng tin mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà, nghĩ rằng:
‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇo dukkhapareto;
‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta đang bị sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não vây phủ; đang bị khổ nhận chìm, bị khổ chi phối;
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mong sao ta có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ này.’
So evaṁ pabbajito samāno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati.
When they’ve gone forth, they robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xuất gia như vậy, buổi sáng vị ấy đắp y, cầm bát và y, vào làng hay thị trấn khất thực mà không phòng hộ thân, khẩu, ý, không thiết lập niệm, không phòng hộ các căn.
Arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi so tattha passati gahapatiṁ vā gahapatiputtaṁ vā pañcahi kāmaguṇehi samappitaṁ samaṅgībhūtaṁ paricārayamānaṁ.
There they see a householder or their child amusing themselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không phòng hộ thân, không phòng hộ khẩu, không thiết lập niệm, các căn không được chế ngự, vị ấy ở đó thấy một gia chủ hay con trai gia chủ đang được thỏa mãn, sung sướng với năm dục trưởng dưỡng và đang hưởng thụ.
Tassa evaṁ hoti:
They think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nghĩ:
‘mayaṁ kho pubbe agāriyabhūtā samānā pañcahi kāmaguṇehi samappitā samaṅgībhūtā paricārimhā.
‘Formerly, as laypeople, we amused ourselves, supplied and provided with the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trước kia, khi còn là người tại gia, ta cũng được thỏa mãn, sung sướng với năm dục trưởng dưỡng và hưởng thụ.
Saṁvijjanti kho pana me kule bhogā.
And it’s true that my family is wealthy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ hàng gia ta cũng có của cải.
Sakkā bhoge ca bhuñjituṁ puññāni ca kātun’ti.
I can both enjoy my wealth and make merit.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ta có thể vừa hưởng thụ của cải vừa làm phước.’
So sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
They resign the training and return to a lesser life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy từ bỏ đạo học và quay về cuộc sống thấp kém.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, āvaṭṭabhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto.
This is called one who resigns the training and returns to a lesser life for fear of the danger of whirlpools.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy được gọi, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo vì sợ nỗi sợ xoáy nước mà từ bỏ đạo học quay về cuộc sống thấp kém.
‘Āvaṭṭabhayan’ti kho, bhikkhave, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ.
‘Danger of whirlpools’ is a term for the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nỗi sợ xoáy nước’, này các tỳ-kheo, là tên gọi cho năm dục trưởng dưỡng.
Katamañca, bhikkhave, susukābhayaṁ?
And what, mendicants, is the danger of sharks?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, thế nào là nỗi sợ cá mập?
Idha, bhikkhave, ekacco kulaputto saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
It’s when a gentleman has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, có một thiện nam tử vì lòng tin mà xuất gia từ bỏ gia đình, sống không nhà, nghĩ rằng:
‘otiṇṇomhi jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi dukkhotiṇṇo dukkhapareto;
‘I’m swamped by rebirth, old age, and death; by sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. I’m swamped by suffering, mired in suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta đang bị sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não vây phủ; đang bị khổ nhận chìm, bị khổ chi phối;
appeva nāma imassa kevalassa dukkhakkhandhassa antakiriyā paññāyethā’ti.
Hopefully I can make an end to this entire mass of suffering.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mong sao ta có thể chấm dứt toàn bộ khối khổ này.’
So evaṁ pabbajito samāno pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya gāmaṁ vā nigamaṁ vā piṇḍāya pavisati.
When they’ve gone forth, they robe up in the morning and, taking their bowl and robe, enter a village or town for alms without guarding body, speech, and mind, without establishing mindfulness, and without restraining the sense faculties.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xuất gia như vậy, buổi sáng vị ấy đắp y, cầm bát và y, vào làng hay thị trấn khất thực mà không phòng hộ thân, khẩu, ý, không thiết lập niệm, không phòng hộ các căn.
Arakkhiteneva kāyena arakkhitāya vācāya anupaṭṭhitāya satiyā asaṁvutehi indriyehi so tattha passati mātugāmaṁ dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā.
There they see a lady scantily clad, with revealing clothes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không phòng hộ thân, không phòng hộ khẩu, không thiết lập niệm, các căn không được chế ngự, vị ấy ở đó thấy một phụ nữ ăn mặc hở hang, trùm y không kín đáo.
Tassa mātugāmaṁ disvā dunnivatthaṁ vā duppārutaṁ vā rāgo cittaṁ anuddhaṁseti.
Lust infects their mind,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy phụ nữ ăn mặc hở hang, trùm y không kín đáo, tham dục làm ô nhiễm tâm vị ấy;
So rāgānuddhaṁsena cittena sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvattati.
so they resign the training and return to a lesser life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
với tâm bị tham dục ô nhiễm, vị ấy từ bỏ đạo học và quay về cuộc sống thấp kém.
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, susukābhayassa bhīto sikkhaṁ paccakkhāya hīnāyāvatto.
This is called one who resigns the training and returns to a lesser life for fear of the danger of sharks.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy được gọi, này các tỳ-kheo, là tỳ-kheo vì sợ nỗi sợ cá mập mà từ bỏ đạo học quay về cuộc sống thấp kém.
‘Susukābhayan’ti kho, bhikkhave, mātugāmassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Danger of sharks’ is a term for ladies.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nỗi sợ cá mập’, này các tỳ-kheo, là tên gọi cho phụ nữ.
Imāni kho, bhikkhave, cattāri bhayāni, idhekacce puggale imasmiṁ dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajite pāṭikaṅkhitabbānī”ti.
These are the four dangers that an individual who gone forth from the lay life to homelessness in this teaching and training should anticipate.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn nỗi sợ này, này các tỳ-kheo, một hạng người xuất gia từ bỏ gia đình sống không nhà trong Pháp và Luật này cần dự đoán trước.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các vị tỳ-kheo hoan hỷ và tán thán lời Đức Phật dạy.
Cātumasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Cātuma, bài thứ bảy, kết thúc.