← Kinh Trung Bộ

MN66 · Majjhima Nikāya

Kinh Ví Dụ Chim Cút

Laṭukikopamasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Ví Dụ Chim Cút diễn ra tại thị trấn Āpaṇa. Chiều hôm ấy, Tôn giả Udāyī kể với Đức Phật: trước kia họ ăn những giờ không đúng lúc ban ngày lẫn ban đêm; khi Đức Phật bảo bỏ, vị ấy thất vọng vì món ngon gia chủ dâng, nhưng vì lòng quý mến, kính trọng cùng lòng biết hổ thẹn và sợ điều sai trái, chúng con đã bỏ. Vị ấy nhớ cảnh khất thực trong đêm tối, kể chuyện một phụ nữ thấy vị ấy khi ánh chớp lóe, kêu "Đúng là ma quỷ!" rồi nguyền rủa, và kết luận Đức Phật đã giúp bỏ biết bao điều gây khổ, đem lại biết bao điều an lạc.

Người ngu si khi được bảo từ bỏ thì bảo việc nhỏ nhặt mà vị sa-môn cũng quá khắt khe, không từ bỏ, nuôi lòng bất mãn; với tỳ-kheo tha thiết tu học, điều ấy là dây trói mạnh — như con chim cút nhỏ bị buộc bằng sợi dây leo mục, với nó đó vẫn là dây trói mạnh. Người con nhà lành nói "từ bỏ điều nhỏ nhặt này thì có là gì", từ bỏ không bất mãn — với họ điều ấy chỉ là dây trói yếu ớt, như con voi của vua khẽ xoay mình bứt đứt dây da.

Đức Phật nêu bốn hạng người thực hành để từ bỏ các sanh y, tùy cách xử lý những hồi tưởng về sanh y khi chúng khởi lên: dung dưỡng, xua tan, hoặc niệm khởi chậm mà xua tan nhanh — ba hạng đầu được gọi là còn bị trói buộc; hạng thứ tư biết sanh y là gốc rễ của khổ, được giải thoát khi sanh y đoạn tận, gọi là đã thoát khỏi trói buộc; lý do mỗi lần nêu là Ta biết rõ sự khác biệt về các căn.

Ngài mô tả năm loại đối tượng của dục — hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị, xúc chạm do năm căn nhận biết, đáng ưa, khơi dậy tham đắm — và gọi sự vui thích phát sinh từ đó là dục lạc, thứ lạc ô uế, lạc của phàm phu: cần e ngại, không theo đuổi. Bốn thiền được gọi là niềm an lạc của xuất ly, viễn ly, an tịnh, giác ngộ: nên theo đuổi, tu tập, không sợ.

Về dao động, sơ thiền dao động vì tầm tứ chưa chấm dứt, nhị thiền vì hỷ lạc, tam thiền vì lạc đi cùng xả; tứ thiền không dao động. Mỗi trạng thái Ngài đều nói chưa đủ, hãy từ bỏ, hãy vượt qua, cho đến diệt tưởng và thọ vượt Phi tưởng phi phi tưởng xứ; Udāyī đáp không có trói buộc nào dù nhỏ hay lớn mà Ngài không dạy từ bỏ.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: d7be9f7e-134f-41fe-8e3c-4bdf1fbe2337 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: faa0f99845da9a34aab50a144261c875374e9287475c2f9f3f2134dfe21f8662

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 34c4542b-7cf3-4170-b803-1f5adb35fc5f · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: faa0f99845da9a34aab50a144261c875374e9287475c2f9f3f2134dfe21f8662

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 202 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 9a63ef8f-e9c6-4bbe-a2e5-cb4ebe5f3811 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 0cbb62e4b25564b0ad347d023ee2ece9e088998eef8b2be9bc86c9dfc0ff0387

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 202 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 27084b04-ac7f-4329-9dd9-beac4f0725d0 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 0cbb62e4b25564b0ad347d023ee2ece9e088998eef8b2be9bc86c9dfc0ff0387

2026-10-05 · Scorecard lịch sử · 9.37/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-6 Astra Pro.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.5
Đúng nghĩa Pāli8.8
Ngữ pháp & logic9.2
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.1
Đối chiếu nguồn9.3
Tiếng Việt sáng rõ9.2
Hán–Việt & súc tích9.2
Bất định & trung thực9.4
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

202/202 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

201/202 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

202/202 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 66
Middle Discourses 66
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 66
Laṭukikopamasutta
The Simile of the Quail
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Ví Dụ Chim Cút
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā aṅguttarāpesu viharati āpaṇaṁ nāma aṅguttarāpānaṁ nigamo.
At one time the Buddha was staying in the land of the Aṅguttarāpans, near the town of theirs named Āpaṇa.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở xứ Aṅguttarāpa, tại thị trấn tên Āpaṇa của người Aṅguttarāpa.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āpaṇaṁ piṇḍāya pāvisi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Āpaṇa for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sáng hôm ấy, Đức Phật đắp y, mang theo y bát, rồi vào Āpaṇa khất thực.
Āpaṇe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yenaññataro vanasaṇḍo tenupasaṅkami divāvihārāya.
He wandered for alms in Āpaṇa. After the meal, on his return from almsround, he went to a certain forest grove for the day’s meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi khất thực ở Āpaṇa, dùng bữa và trở về, Ngài đến một khu rừng để ở đó trong ngày.
Taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Having plunged deep into it, he sat at the root of a certain tree to meditate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đi sâu vào khu rừng, Ngài ngồi dưới một gốc cây để an trú ban ngày.
Āyasmāpi kho udāyī pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya āpaṇaṁ piṇḍāya pāvisi.
Venerable Udāyī also robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Āpaṇa for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sáng hôm ấy, Tôn giả Udāyī cũng đắp y, mang theo y bát, rồi vào Āpaṇa khất thực.
Āpaṇe piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena so vanasaṇḍo tenupasaṅkami divāvihārāya.
He wandered for alms in Āpaṇa. After the meal, on his return from almsround, he went to that forest grove for the day’s meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi khất thực ở Āpaṇa, dùng bữa và trở về, Tôn giả đến khu rừng ấy để ở đó trong ngày.
Taṁ vanasaṇḍaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Having plunged deep into it, he sat at the root of a certain tree to meditate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đi sâu vào khu rừng, Tôn giả ngồi dưới một gốc cây để an trú ban ngày.
Atha kho āyasmato udāyissa rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
Then as Venerable Udāyī was in private retreat this thought came to his mind:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ở một mình trong tĩnh lặng, Tôn giả Udāyī khởi lên ý nghĩ:
“bahūnaṁ vata no bhagavā dukkhadhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā sukhadhammānaṁ upahattā;
“The Buddha has rid us of so many things that bring suffering and gifted us so many things that bring happiness!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đức Phật đã giúp chúng ta bỏ được biết bao điều gây khổ, và đem lại biết bao điều an lạc!
bahūnaṁ vata no bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upahattā”ti.
He has rid us of so many unskillful things and gifted us so many skillful things!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đã giúp chúng ta bỏ được biết bao pháp bất thiện, và đem lại biết bao pháp thiện!”
Atha kho āyasmā udāyī sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā udāyī bhagavantaṁ etadavoca:
Then in the late afternoon, Udāyī came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and said to him:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chiều hôm ấy, Tôn giả Udāyī rời chỗ ở riêng, đến gặp Đức Phật. Sau khi đảnh lễ Ngài, Tôn giả ngồi xuống một bên và thưa:
“idha mayhaṁ, bhante, rahogatassa paṭisallīnassa evaṁ cetaso parivitakko udapādi:
“Just now, sir, as I was in private retreat this thought came to mind:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, khi ở một mình trong tĩnh lặng, con khởi lên ý nghĩ:
‘bahūnaṁ vata no bhagavā dukkhadhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā sukhadhammānaṁ upahattā;
‘The Buddha has rid us of so many things that bring suffering and gifted us so many things that bring happiness!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đức Phật đã giúp chúng ta bỏ được biết bao điều gây khổ, và đem lại biết bao điều an lạc!
bahūnaṁ vata no bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upahattā’ti.
He has rid us of so many unskillful things and gifted us so many skillful things!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đã giúp chúng ta bỏ được biết bao pháp bất thiện, và đem lại biết bao pháp thiện!’
Mayañhi, bhante, pubbe sāyañceva bhuñjāma pāto ca divā ca vikāle.
For we used to eat at dusk, at daybreak, and at the wrong time of day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, trước kia chúng con ăn vào chiều tối, sáng sớm và cả những giờ không thích hợp vào ban ngày.
Ahu kho so, bhante, samayo yaṁ bhagavā bhikkhū āmantesi:
But then there came a time when the Buddha addressed the mendicants, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi có lần, Thế Tôn gọi các tỳ-kheo và bảo:
‘iṅgha tumhe, bhikkhave, etaṁ divāvikālabhojanaṁ pajahathā’ti.
‘Please, mendicants, give up that meal at the wrong time of day.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này các tỳ-kheo, hãy bỏ bữa ăn không đúng giờ vào ban ngày ấy.’
Tassa mayhaṁ, bhante, ahudeva aññathattaṁ, ahudeva domanassaṁ:
At that, sir, we became sad and upset,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, khi ấy con cảm thấy thất vọng và buồn lòng, nghĩ rằng:
‘yampi no saddhā gahapatikā divā vikāle paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ denti tassapi no bhagavā pahānamāha, tassapi no sugato paṭinissaggamāhā’ti.
‘But these faithful householders give us delicious fresh and cooked foods at the wrong time of day. And the Blessed One tells us to give it up! The Holy One tells us to let it go!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các gia chủ có lòng tin cho chúng ta những món ăn cứng và mềm ngon lành vào những giờ không thích hợp ban ngày. Vậy mà Thế Tôn bảo chúng ta từ bỏ, bậc Thiện Thệ bảo chúng ta buông bỏ cả những món ấy!’
Te mayaṁ, bhante, bhagavati pemañca gāravañca hiriñca ottappañca sampassamānā evaṁ taṁ divāvikālabhojanaṁ pajahimhā.
But when we considered our fondness and respect for the Buddha, and our sense of conscience and prudence, we gave up that meal at the wrong time of day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng bạch Thế Tôn, vì nghĩ đến lòng quý mến và kính trọng Ngài, cùng lòng biết hổ thẹn và sợ điều sai trái, chúng con đã bỏ bữa ăn không đúng giờ vào ban ngày ấy.
Te mayaṁ, bhante, sāyañceva bhuñjāma pāto ca.
Then we ate at dusk and daybreak.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, từ đó chúng con ăn vào chiều tối và sáng sớm.
Ahu kho so, bhante, samayo yaṁ bhagavā bhikkhū āmantesi:
But then there came a time when the Buddha addressed the mendicants, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi lại có lần, Thế Tôn gọi các tỳ-kheo và bảo:
‘iṅgha tumhe, bhikkhave, etaṁ rattiṁvikālabhojanaṁ pajahathā’ti.
‘Please, mendicants, give up that meal at the wrong time of night.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này các tỳ-kheo, hãy bỏ bữa ăn không đúng giờ vào ban đêm ấy.’
Tassa mayhaṁ, bhante, ahudeva aññathattaṁ ahudeva domanassaṁ:
At that, sir, we became sad and upset,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, khi ấy con cảm thấy thất vọng và buồn lòng, nghĩ rằng:
‘yampi no imesaṁ dvinnaṁ bhattānaṁ paṇītasaṅkhātataraṁ tassapi no bhagavā pahānamāha, tassapi no sugato paṭinissaggamāhā’ti.
‘But that’s considered the more delicious of the two meals. And the Blessed One tells us to give it up! The Holy One tells us to let it go!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong hai bữa ăn của chúng ta, bữa này được xem là ngon hơn. Vậy mà Thế Tôn bảo chúng ta từ bỏ, bậc Thiện Thệ bảo chúng ta buông bỏ cả bữa ấy!’
Bhūtapubbaṁ, bhante, aññataro puriso divā sūpeyyaṁ labhitvā evamāha:
Once it so happened that a certain person got some soup during the day. He said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, trước kia có người kiếm được món canh vào ban ngày, liền bảo:
‘handa ca imaṁ nikkhipatha, sāyaṁ sabbeva samaggā bhuñjissāmā’ti.
‘Come, let’s set this aside; we’ll enjoy it together this evening.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy để món này lại, chiều tối tất cả chúng ta sẽ cùng ăn.’
Yā kāci, bhante, saṅkhatiyo sabbā tā rattiṁ, appā divā.
Nearly all meals are prepared at night, only a few in the day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, hầu hết việc nấu nướng đều làm vào ban đêm, ít khi vào ban ngày.
Te mayaṁ, bhante, bhagavati pemañca gāravañca hiriñca ottappañca sampassamānā evaṁ taṁ rattiṁvikālabhojanaṁ pajahimhā.
But when we considered our love and respect for the Buddha, and our sense of conscience and prudence, we gave up that meal at the wrong time of night.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng bạch Thế Tôn, vì nghĩ đến lòng quý mến và kính trọng Ngài, cùng lòng biết hổ thẹn và sợ điều sai trái, chúng con đã bỏ bữa ăn không đúng giờ vào ban đêm ấy.
Bhūtapubbaṁ, bhante, bhikkhū rattandhakāratimisāyaṁ piṇḍāya carantā candanikampi pavisanti, oligallepi papatanti, kaṇṭakāvāṭampi ārohanti, suttampi gāviṁ ārohanti, māṇavehipi samāgacchanti katakammehipi akatakammehipi, mātugāmopi te asaddhammena nimanteti.
In the past, mendicants went wandering for alms in the dark of the night. They walked into a swamp, or fell into a sewer, or collided with a thorn bush, or collided with a sleeping cow, or encountered youths escaping a crime or on their way to commit one, or were invited by a lady to commit a lewd act.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, trước kia, khi đi khất thực trong đêm tối mịt, các tỳ-kheo có khi bước vào vũng nước bẩn, rơi xuống cống, vướng vào hàng rào gai, vấp phải bò đang ngủ, gặp những thanh niên vừa phạm tội hoặc sắp đi phạm tội, hay bị phụ nữ mời mọc làm chuyện dâm dục.
Bhūtapubbāhaṁ, bhante, rattandhakāratimisāyaṁ piṇḍāya carāmi.
Once it so happened that I was wandering for alms in the dark of the night.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, có lần con đi khất thực trong đêm tối mịt.
Addasā kho maṁ, bhante, aññatarā itthī vijjantarikāya bhājanaṁ dhovantī.
A woman washing a pot saw me by a flash of lightning.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, một phụ nữ đang rửa chén bát chợt thấy con khi ánh chớp lóe lên.
Disvā maṁ bhītā vissaramakāsi:
Startled, she cried out,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy con, bà sợ hãi kêu lên:
‘abhumme pisāco vata man’ti.
‘Woe is me! It’s a damn goblin!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Khổ thân tôi! Đúng là ma quỷ!’
Evaṁ vutte, ahaṁ, bhante, taṁ itthiṁ etadavocaṁ:
When she said this, I said to her,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe bà nói vậy, bạch Thế Tôn, con bảo người phụ nữ ấy:
‘nāhaṁ, bhagini, pisāco;
‘Sister, I am no goblin.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này chị, tôi không phải ma quỷ;
bhikkhu piṇḍāya ṭhito’ti.
I’m a mendicant waiting for alms.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tôi là tỳ-kheo đang đứng chờ khất thực.’
‘Bhikkhussa ātumārī, bhikkhussa mātumārī.
‘Die, mendicant’s father! Die, mendicant’s mother!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Cha của ông tỳ-kheo này chết đi! Mẹ của ông tỳ-kheo này chết đi!
Varaṁ te, bhikkhu, tiṇhena govikantanena kucchi parikanto, na tveva varaṁ yaṁ rattandhakāratimisāyaṁ kucchihetu piṇḍāya carasī’ti.
Better to have your belly sliced open with a sharp meat cleaver than to wander for alms in the dark of night for the sake of your belly!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này tỳ-kheo, thà ông bị con dao sắc của người đồ tể rạch bụng còn hơn vì cái bụng mà đi khất thực trong đêm tối mịt!’
Tassa mayhaṁ, bhante, tadanussarato evaṁ hoti:
Recollecting that, I thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, khi nhớ lại việc ấy, con nghĩ:
‘bahūnaṁ vata no bhagavā dukkhadhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā sukhadhammānaṁ upahattā;
‘The Buddha has rid us of so many things that bring suffering and gifted us so many things that bring happiness!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đức Phật đã giúp chúng ta bỏ được biết bao điều gây khổ, và đem lại biết bao điều an lạc!
bahūnaṁ vata no bhagavā akusalānaṁ dhammānaṁ apahattā, bahūnaṁ vata no bhagavā kusalānaṁ dhammānaṁ upahattā’”ti.
He has rid us of so many unskillful things and gifted us so many skillful things!’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đã giúp chúng ta bỏ được biết bao pháp bất thiện, và đem lại biết bao pháp thiện!’”
“Evameva panudāyi, idhekacce moghapurisā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu:
“This is exactly what happens when some futile people are told by me to give something up. They say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này Udāyī, có những người ngu si, khi được Ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này’, thì nói:
‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti.
‘What, such a trivial, trifling thing as this? This ascetic is much too strict!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chỉ một việc nhỏ nhặt, tầm thường thế này mà vị sa-môn ấy cũng quá khắt khe!’
Te tañceva nappajahanti, mayi ca appaccayaṁ upaṭṭhāpenti.
They don’t give it up, and they nurse bitterness toward me;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ không từ bỏ điều ấy, lại nuôi lòng bất mãn đối với Ta.
Ye ca bhikkhū sikkhākāmā tesaṁ taṁ, udāyi, hoti balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro—
and for the mendicants eager to train, that becomes a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Udāyī, đối với những tỳ-kheo tha thiết tu học, điều ấy là dây trói mạnh mẽ, chắc chắn, bền chặt, không mục nát, là một khúc gỗ lớn.
seyyathāpi, udāyi, laṭukikā sakuṇikā pūtilatāya bandhanena baddhā tattheva vadhaṁ vā bandhaṁ vā maraṇaṁ vā āgameti.
Suppose a quail was tied with a vine, and was waiting there to be injured, caged, or killed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ví như, này Udāyī, một con chim cút nhỏ bị buộc bằng sợi dây leo mục, phải chờ ở đó để bị làm hại, bắt nhốt hoặc giết chết.
Yo nu kho, udāyi, evaṁ vadeyya:
Would it be right to say that,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, nếu có người nói:
‘yena sā laṭukikā sakuṇikā pūtilatāya bandhanena baddhā tattheva vadhaṁ vā bandhaṁ vā maraṇaṁ vā āgameti, tañhi tassā abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanan’ti;
for that quail, that vine is weak, feeble, rotten, and insubstantial?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con chim cút nhỏ bị buộc bằng sợi dây leo mục, phải chờ ở đó để bị làm hại, bắt nhốt hoặc giết chết. Với nó, sợi dây ấy chỉ là dây trói yếu ớt, mong manh, mục nát, không vững chắc’,
sammā nu kho so, udāyi, vadamāno vadeyyā”ti?
Would he be speaking rightly?”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì này Udāyī, người ấy nói có đúng không?”
“No hetaṁ, bhante.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa không, bạch Thế Tôn.
Yena sā, bhante, laṭukikā sakuṇikā pūtilatāya bandhanena baddhā tattheva vadhaṁ vā bandhaṁ vā maraṇaṁ vā āgameti, tañhi tassā balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro”ti.
For that quail, that vine is a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, con chim cút nhỏ bị buộc bằng sợi dây leo mục, phải chờ ở đó để bị làm hại, bắt nhốt hoặc giết chết. Với nó, sợi dây ấy là dây trói mạnh mẽ, chắc chắn, bền chặt, không mục nát, là một khúc gỗ lớn.”
“Evameva kho, udāyi, idhekacce moghapurisā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu:
“In the same way, when some futile people are told by me to give something up, they say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này Udāyī, có những người ngu si, khi được Ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này’, thì nói:
‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti?
‘What, such a trivial, trifling thing as this? This ascetic is much too strict!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chỉ một việc nhỏ nhặt, tầm thường thế này mà vị sa-môn ấy cũng quá khắt khe!’
Te tañceva nappajahanti, mayi ca appaccayaṁ upaṭṭhāpenti.
They don’t give it up, and they nurse bitterness toward me;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ không từ bỏ điều ấy, lại nuôi lòng bất mãn đối với Ta.
Ye ca bhikkhū sikkhākāmā tesaṁ taṁ, udāyi, hoti balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro.
and for the mendicants eager to train, that becomes a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Udāyī, đối với những tỳ-kheo tha thiết tu học, điều ấy là dây trói mạnh mẽ, chắc chắn, bền chặt, không mục nát, là một khúc gỗ lớn.
Idha panudāyi, ekacce kulaputtā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu:
But when some gentlemen are told by me to give something up, they say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng này Udāyī, có những người con nhà lành, khi được Ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này’, thì nói:
‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa pahātabbassa yassa no bhagavā pahānamāha, yassa no sugato paṭinissaggamāhā’ti?
‘What, we just have to give up such a trivial, trifling thing as this, when the Blessed One tells us to give it up, the Holy One tells us to let it go?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Từ bỏ điều nhỏ nhặt, tầm thường này thì có là gì, khi Thế Tôn bảo chúng ta từ bỏ, bậc Thiện Thệ bảo chúng ta buông bỏ?’
Te tañceva pajahanti, mayi ca na appaccayaṁ upaṭṭhāpenti.
They give it up, and they don’t nurse bitterness toward me;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ từ bỏ điều ấy, không nuôi lòng bất mãn đối với Ta.
Ye ca bhikkhū sikkhākāmā te taṁ pahāya appossukkā pannalomā paradattavuttā migabhūtena cetasā viharanti.
and when the mendicants eager to train have given that up, they live relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn những tỳ-kheo tha thiết tu học, sau khi từ bỏ điều ấy, sống thảnh thơi, bình thản, nương vào những gì người khác cho, với tâm như nai rừng.
Tesaṁ taṁ, udāyi, hoti abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanaṁ—
For them, that bond is weak, feeble, rotten, and insubstantial.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với họ, điều đó chỉ là dây trói yếu ớt, mong manh, mục nát, không vững chắc.
seyyathāpi, udāyi, rañño nāgo īsādanto urūḷhavā abhijāto saṅgāmāvacaro daḷhehi varattehi bandhanehi baddho īsakaṁyeva kāyaṁ sannāmetvā tāni bandhanāni saṁchinditvā sampadāletvā yena kāmaṁ pakkamati.
Suppose there was a royal bull elephant with tusks like draft-poles, able to draw a heavy load, pedigree and battle-hardened. And it was bound with a strong harness. But just by twisting its body a little, it would break apart its bonds and go wherever it wants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ví như, này Udāyī, một con voi của vua, có ngà dài như cán cày, to khỏe, thuộc giống tốt, quen trận mạc, bị buộc bằng những dây da chắc chắn. Nó chỉ khẽ xoay mình, đã bứt đứt, xé tan những dây trói ấy, rồi đi đến nơi mình muốn.
Yo nu kho, udāyi, evaṁ vadeyya:
Would it be right to say that,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, nếu có người nói:
‘yehi so rañño nāgo īsādanto urūḷhavā abhijāto saṅgāmāvacaro daḷhehi varattehi bandhanehi baddho īsakaṁyeva kāyaṁ sannāmetvā tāni bandhanāni saṁchinditvā sampadāletvā yena kāmaṁ pakkamati, tañhi tassa balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro’ti;
for that bull elephant, that strong harness is a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con voi của vua, có ngà dài như cán cày, to khỏe, thuộc giống tốt, quen trận mạc, bị buộc bằng những dây da chắc chắn. Nó chỉ khẽ xoay mình, đã bứt đứt, xé tan những dây trói ấy, rồi đi đến nơi mình muốn. Với nó, những dây ấy là dây trói mạnh mẽ, chắc chắn, bền chặt, không mục nát, là một khúc gỗ lớn’,
sammā nu kho so, udāyi, vadamāno vadeyyā”ti?
Would he be speaking rightly?”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì này Udāyī, người ấy nói có đúng không?”
“No hetaṁ, bhante.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa không, bạch Thế Tôn.
Yehi so, bhante, rañño nāgo īsādanto urūḷhavā abhijāto saṅgāmāvacaro daḷhehi varattehi bandhanehi baddho īsakaṁyeva kāyaṁ sannāmetvā tāni bandhanāni saṁchinditvā sampadāletvā yena kāmaṁ pakkamati, tañhi tassa abalaṁ bandhanaṁ …pe… asārakaṁ bandhanan”ti.
For that bull elephant, that strong harness is weak, feeble, rotten, and insubstantial.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, con voi của vua, có ngà dài như cán cày, to khỏe, thuộc giống tốt, quen trận mạc, bị buộc bằng những dây da chắc chắn. Nó chỉ khẽ xoay mình, đã bứt đứt, xé tan những dây trói ấy, rồi đi đến nơi mình muốn. Với nó, những dây ấy chỉ là dây trói yếu ớt, … không vững chắc.”
“Evameva kho, udāyi, idhekacce kulaputtā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu:
“In the same way, when some gentlemen are told by me to give something up, they say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này Udāyī, có những người con nhà lành, khi được Ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này’, thì nói:
‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa pahātabbassa yassa no bhagavā pahānamāha, yassa no sugato paṭinissaggamāhā’ti?
‘What, we just have to give up such a trivial, trifling thing as this, when the Blessed One tells us to give it up, the Holy One tells us to let it go?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Từ bỏ điều nhỏ nhặt, tầm thường này thì có là gì, khi Thế Tôn bảo chúng ta từ bỏ, bậc Thiện Thệ bảo chúng ta buông bỏ?’
Te tañceva pajahanti, mayi ca na appaccayaṁ upaṭṭhāpenti.
They give it up, and they don’t nurse bitterness toward me;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ từ bỏ điều ấy, không nuôi lòng bất mãn đối với Ta.
Ye ca bhikkhū sikkhākāmā te taṁ pahāya appossukkā pannalomā paradattavuttā migabhūtena cetasā viharanti.
and when the mendicants eager to train have given that up, they live relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn những tỳ-kheo tha thiết tu học, sau khi từ bỏ điều ấy, sống thảnh thơi, bình thản, nương vào những gì người khác cho, với tâm như nai rừng.
Tesaṁ taṁ, udāyi, hoti abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanaṁ.
For them, that bond is weak, feeble, rotten, and insubstantial.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với họ, điều đó chỉ là dây trói yếu ớt, mong manh, mục nát, không vững chắc.
Seyyathāpi, udāyi, puriso daliddo assako anāḷhiyo;
Suppose there was a poor man, with few possessions and little wealth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ví như, này Udāyī, một người nghèo khó, chẳng có của cải, sống túng thiếu.
tassassa ekaṁ agārakaṁ oluggaviluggaṁ kākātidāyiṁ naparamarūpaṁ, ekā khaṭopikā oluggaviluggā naparamarūpā, ekissā kumbhiyā dhaññasamavāpakaṁ naparamarūpaṁ, ekā jāyikā naparamarūpā.
He had a single broken-down hovel open to the crows, not the best sort; a single broken-down couch, not the best sort; a single pot for storing grain, not the best sort; and a single wifey, not the best sort.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy chỉ có một túp lều xiêu vẹo, dột nát, quạ có thể bay vào, chẳng đẹp đẽ gì; một chiếc giường xiêu vẹo, hư nát, chẳng đẹp đẽ gì; một chum ngũ cốc cũng chẳng tốt; và một người vợ cũng chẳng có gì nổi bật.
So ārāmagataṁ bhikkhuṁ passeyya sudhotahatthapādaṁ manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāviṁ sītāya chāyāya nisinnaṁ adhicitte yuttaṁ.
He’d see a mendicant sitting in meditation in the cool shade, their hands and feet well washed after eating a satisfying meal.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có thể thấy một tỳ-kheo trong vườn, tay chân đã rửa sạch, vừa dùng một bữa ăn ngon, đang ngồi dưới bóng mát, chuyên tâm thiền định.
Tassa evamassa:
He’d think,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có thể nghĩ:
‘sukhaṁ vata bho sāmaññaṁ, ārogyaṁ vata bho sāmaññaṁ.
‘The ascetic life is so very pleasant! The ascetic life is so very healthy!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đời sống sa-môn thật an lạc! Đời sống sa-môn thật khỏe khoắn!
So vatassaṁ yohaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
If only I could shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ước gì ta có thể cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà.’
So na sakkuṇeyya ekaṁ agārakaṁ oluggaviluggaṁ kākātidāyiṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ khaṭopikaṁ oluggaviluggaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekissā kumbhiyā dhaññasamavāpakaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ jāyikaṁ naparamarūpaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ.
But he’s not able to give up his broken-down hovel, his broken-down couch, his pot for storing grain, or his wifey—none of which are the best sort—in order to go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng người ấy không thể từ bỏ túp lều xiêu vẹo, dột nát, quạ có thể bay vào, chẳng đẹp đẽ gì; từ bỏ chiếc giường xiêu vẹo, hư nát, chẳng đẹp đẽ gì; từ bỏ chum ngũ cốc chẳng tốt; từ bỏ người vợ chẳng có gì nổi bật, để cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà.
Yo nu kho, udāyi, evaṁ vadeyya:
Would it be right to say that,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, nếu có người nói:
‘yehi so puriso bandhanehi baddho na sakkoti ekaṁ agārakaṁ oluggaviluggaṁ kākātidāyiṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ khaṭopikaṁ oluggaviluggaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekissā kumbhiyā dhaññasamavāpakaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ jāyikaṁ naparamarūpaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ;
for that man,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người ấy bị ràng buộc nên không thể từ bỏ túp lều xiêu vẹo, dột nát, quạ có thể bay vào, chẳng đẹp đẽ gì; từ bỏ chiếc giường xiêu vẹo, hư nát, chẳng đẹp đẽ gì; từ bỏ chum ngũ cốc chẳng tốt; từ bỏ người vợ chẳng có gì nổi bật, để cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà.
tañhi tassa abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanan’ti;
those bonds are weak, feeble, rotten, and insubstantial?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với người ấy, đó chỉ là dây trói yếu ớt, mong manh, mục nát, không vững chắc’,
sammā nu kho so, udāyi, vadamāno vadeyyā”ti?
Would he be speaking rightly?”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì này Udāyī, người ấy nói có đúng không?”
“No hetaṁ, bhante.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa không, bạch Thế Tôn.
Yehi so, bhante, puriso bandhanehi baddho, na sakkoti ekaṁ agārakaṁ oluggaviluggaṁ kākātidāyiṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ khaṭopikaṁ oluggaviluggaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekissā kumbhiyā dhaññasamavāpakaṁ naparamarūpaṁ pahāya, ekaṁ jāyikaṁ naparamarūpaṁ pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ;
For that man,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, người ấy bị ràng buộc nên không thể từ bỏ túp lều xiêu vẹo, dột nát, quạ có thể bay vào, chẳng đẹp đẽ gì; từ bỏ chiếc giường xiêu vẹo, hư nát, chẳng đẹp đẽ gì; từ bỏ chum ngũ cốc chẳng tốt; từ bỏ người vợ chẳng có gì nổi bật, để cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà.
tañhi tassa balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro”ti.
they are a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với người ấy, đó là dây trói mạnh mẽ, chắc chắn, bền chặt, không mục nát, là một khúc gỗ lớn.”
“Evameva kho, udāyi, idhekacce moghapurisā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu:
“In the same way, when some futile people are told by me to give something up, they say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này Udāyī, có những người ngu si, khi được Ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này’, thì nói:
‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa adhisallikhatevāyaṁ samaṇo’ti?
‘What, such a trivial, trifling thing as this? This ascetic is much too strict!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chỉ một việc nhỏ nhặt, tầm thường thế này mà vị sa-môn ấy cũng quá khắt khe!’
Te tañceva nappajahanti, mayi ca appaccayaṁ upaṭṭhāpenti.
They don’t give it up, and they nurse bitterness toward me;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ không từ bỏ điều ấy, lại nuôi lòng bất mãn đối với Ta.
Ye ca bhikkhū sikkhākāmā tesaṁ taṁ, udāyi, hoti balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro.
and for the mendicants eager to train, that becomes a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Udāyī, đối với những tỳ-kheo tha thiết tu học, điều ấy là dây trói mạnh mẽ, chắc chắn, bền chặt, không mục nát, là một khúc gỗ lớn.
Seyyathāpi, udāyi, gahapati vā gahapatiputto vā aḍḍho mahaddhano mahābhogo, nekānaṁ nikkhagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ dhaññagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ khettagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ vatthugaṇānaṁ cayo, nekānaṁ bhariyagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ dāsagaṇānaṁ cayo, nekānaṁ dāsigaṇānaṁ cayo;
Suppose there was a rich householder or householder’s child, affluent, and wealthy. He had a vast amount of gold ingots, grain, fields, lands, wives, and male and female bondservants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ví như, này Udāyī, một gia chủ hoặc con trai gia chủ giàu có, nhiều tiền của, tài sản dồi dào, tích lũy nhiều vàng, nhiều ngũ cốc, nhiều ruộng, nhiều đất, nhiều vợ, nhiều nô bộc nam và nhiều nô tỳ.
so ārāmagataṁ bhikkhuṁ passeyya sudhotahatthapādaṁ manuññaṁ bhojanaṁ bhuttāviṁ sītāya chāyāya nisinnaṁ adhicitte yuttaṁ.
He’d see a mendicant sitting in meditation in the cool shade, their hands and feet well washed after eating a satisfying meal.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có thể thấy một tỳ-kheo trong vườn, tay chân đã rửa sạch, vừa dùng một bữa ăn ngon, đang ngồi dưới bóng mát, chuyên tâm thiền định.
Tassa evamassa:
He’d think,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có thể nghĩ:
‘sukhaṁ vata bho sāmaññaṁ, ārogyaṁ vata bho sāmaññaṁ.
‘The ascetic life is so very pleasant! The ascetic life is so very healthy!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đời sống sa-môn thật an lạc! Đời sống sa-môn thật khỏe khoắn!
So vatassaṁ yohaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
If only I could shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ước gì ta có thể cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà.’
So sakkuṇeyya nekāni nikkhagaṇāni pahāya, nekāni dhaññagaṇāni pahāya, nekāni khettagaṇāni pahāya, nekāni vatthugaṇāni pahāya, nekāni bhariyagaṇāni pahāya, nekāni dāsagaṇāni pahāya, nekāni dāsigaṇāni pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ.
And he is able to give up his vast amount of gold ingots, grain, fields, lands, wives, and male and female bondservants in order to go forth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy có thể từ bỏ nhiều vàng, từ bỏ nhiều ngũ cốc, từ bỏ nhiều ruộng, từ bỏ nhiều đất, từ bỏ nhiều vợ, từ bỏ nhiều nô bộc nam, từ bỏ nhiều nô tỳ, để cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà.
Yo nu kho, udāyi, evaṁ vadeyya:
Would it be right to say that,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, nếu có người nói:
‘yehi so gahapati vā gahapatiputto vā bandhanehi baddho, sakkoti nekāni nikkhagaṇāni pahāya, nekāni dhaññagaṇāni pahāya, nekāni khettagaṇāni pahāya, nekāni vatthugaṇāni pahāya, nekāni bhariyagaṇāni pahāya, nekāni dāsagaṇāni pahāya, nekāni dāsigaṇāni pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ, tañhi tassa balavaṁ bandhanaṁ, daḷhaṁ bandhanaṁ, thiraṁ bandhanaṁ, apūtikaṁ bandhanaṁ, thūlo, kaliṅgaro’ti;
for that householder, they are a strong, firm, stout bond, a tie that has not rotted, and a heavy yoke?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người gia chủ hoặc con trai gia chủ ấy tuy bị ràng buộc, vẫn có thể từ bỏ nhiều vàng, từ bỏ nhiều ngũ cốc, từ bỏ nhiều ruộng, từ bỏ nhiều đất, từ bỏ nhiều vợ, từ bỏ nhiều nô bộc nam, từ bỏ nhiều nô tỳ, để cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà. Với người ấy, đó là dây trói mạnh mẽ, chắc chắn, bền chặt, không mục nát, là một khúc gỗ lớn’,
sammā nu kho so, udāyi, vadamāno vadeyyā”ti?
Would he be speaking rightly?”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì này Udāyī, người ấy nói có đúng không?”
“No hetaṁ, bhante.
“No, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa không, bạch Thế Tôn.
Yehi so, bhante, gahapati vā gahapatiputto vā bandhanehi baddho, sakkoti nekāni nikkhagaṇāni pahāya, nekāni dhaññagaṇāni pahāya, nekāni khettagaṇāni pahāya, nekāni vatthugaṇāni pahāya, nekāni bhariyagaṇāni pahāya, nekāni dāsagaṇāni pahāya, nekāni dāsigaṇāni pahāya kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajituṁ;
For that householder,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, người gia chủ hoặc con trai gia chủ ấy tuy bị ràng buộc, vẫn có thể từ bỏ nhiều vàng, từ bỏ nhiều ngũ cốc, từ bỏ nhiều ruộng, từ bỏ nhiều đất, từ bỏ nhiều vợ, từ bỏ nhiều nô bộc nam, từ bỏ nhiều nô tỳ, để cạo bỏ râu tóc, khoác y cà-sa, rời đời sống gia đình mà xuất gia, sống không nhà.
tañhi tassa abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanan”ti.
those bonds are weak, feeble, rotten, and insubstantial.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với người ấy, đó chỉ là dây trói yếu ớt, mong manh, mục nát, không vững chắc.”
“Evameva kho, udāyi, idhekacce kulaputtā ‘idaṁ pajahathā’ti mayā vuccamānā te evamāhaṁsu:
“In the same way, when some gentlemen are told by me to give something up, they say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cũng vậy, này Udāyī, có những người con nhà lành, khi được Ta bảo: ‘Hãy từ bỏ điều này’, thì nói:
‘kiṁ panimassa appamattakassa oramattakassa pahātabbassa yassa no bhagavā pahānamāha, yassa no sugato paṭinissaggamāhā’ti?
‘What, we just have to give up such a trivial, trifling thing as this, when the Blessed One tells us to give it up, the Holy One tells us to let it go?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Từ bỏ điều nhỏ nhặt, tầm thường này thì có là gì, khi Thế Tôn bảo chúng ta từ bỏ, bậc Thiện Thệ bảo chúng ta buông bỏ?’
Te tañceva pajahanti, mayi ca na appaccayaṁ upaṭṭhāpenti.
They give it up, and they don’t nurse bitterness toward me;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họ từ bỏ điều ấy, không nuôi lòng bất mãn đối với Ta.
Ye ca bhikkhū sikkhākāmā te taṁ pahāya appossukkā pannalomā paradattavuttā migabhūtena cetasā viharanti.
and when the mendicants eager to train have given that up, they live relaxed, unruffled, surviving on charity, their hearts free as a wild deer.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn những tỳ-kheo tha thiết tu học, sau khi từ bỏ điều ấy, sống thảnh thơi, bình thản, nương vào những gì người khác cho, với tâm như nai rừng.
Tesaṁ taṁ, udāyi, hoti abalaṁ bandhanaṁ, dubbalaṁ bandhanaṁ, pūtikaṁ bandhanaṁ, asārakaṁ bandhanaṁ.
For them, that bond is weak, feeble, rotten, and insubstantial.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với họ, điều đó chỉ là dây trói yếu ớt, mong manh, mục nát, không vững chắc.
Cattārome, udāyi, puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Udāyī, these four individuals are found in the world.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, có bốn hạng người hiện hữu trên đời.
Katame cattāro?
What four?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn hạng nào?
Idhudāyi, ekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya.
Take a certain individual practicing to give up and let go of attachments.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, có người thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y.
Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti.
As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi người ấy thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y, những hồi tưởng và suy nghĩ liên quan đến sanh y khởi lên.
So te adhivāseti, nappajahati, na vinodeti, na byantīkaroti, na anabhāvaṁ gameti.
They tolerate them and don’t give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy dung dưỡng chúng, không từ bỏ, không xua tan, không chấm dứt, không khiến chúng mất hẳn.
Imaṁ kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘saṁyutto’ti vadāmi no ‘visaṁyutto’.
I call this individual ‘fettered’, not ‘detached’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta gọi người ấy là ‘còn bị trói buộc’, không phải ‘đã thoát khỏi trói buộc’.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā.
Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này Udāyī, Ta biết rõ sự khác biệt về các căn nơi người ấy.
Idha panudāyi, ekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya.
Take another individual practicing to give up and let go of attachments.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Udāyī, có người thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y.
Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti.
As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi người ấy thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y, những hồi tưởng và suy nghĩ liên quan đến sanh y khởi lên.
So te nādhivāseti, pajahati, vinodeti, byantīkaroti, anabhāvaṁ gameti.
They don’t tolerate them, but give them up, dispel them, eliminate them, and obliterate them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy không dung dưỡng chúng, mà từ bỏ, xua tan, chấm dứt, khiến chúng mất hẳn.
Imampi kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘saṁyutto’ti vadāmi no ‘visaṁyutto’.
I also call this individual ‘fettered’, not ‘detached’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta cũng gọi người ấy là ‘còn bị trói buộc’, không phải ‘đã thoát khỏi trói buộc’.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā.
Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này Udāyī, Ta biết rõ sự khác biệt về các căn nơi người ấy.
Idha panudāyi, ekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya.
Take another individual practicing to give up and let go of attachments.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Udāyī, có người thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y.
Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya kadāci karahaci satisammosā upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti;
As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them every so often, due to the loss of mindfulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi người ấy thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y, thỉnh thoảng, do thất niệm, những hồi tưởng và suy nghĩ liên quan đến sanh y khởi lên.
dandho, udāyi, satuppādo.
Slowly mindfulness arises,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, niệm khởi lại chậm,
Atha kho naṁ khippameva pajahati, vinodeti, byantīkaroti, anabhāvaṁ gameti.
then they quickly give up, dispel, eliminate, and obliterate those thoughts.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng rồi người ấy nhanh chóng từ bỏ, xua tan, chấm dứt, khiến những hồi tưởng và suy nghĩ ấy mất hẳn.
Seyyathāpi, udāyi, puriso divasaṁsantatte ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā udakaphusitāni nipāteyya;
Suppose there was an iron cauldron that had been heated all day, and a person let two or three drops of water fall onto it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ví như, này Udāyī, có người nhỏ hai hay ba giọt nước lên một chảo sắt đã nung nóng suốt ngày.
dandho, udāyi, udakaphusitānaṁ nipāto. Atha kho naṁ khippameva parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya.
Slowly the drops fall, but then they quickly dry up and evaporate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, những giọt nước rơi xuống chậm, nhưng rồi chúng nhanh chóng khô cạn, biến mất.
Evameva kho, udāyi, idhekacco puggalo upadhipahānāya paṭipanno hoti upadhipaṭinissaggāya.
In the same way, take an individual practicing to give up and let go of attachments.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này Udāyī, có người thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y.
Tamenaṁ upadhipahānāya paṭipannaṁ upadhipaṭinissaggāya kadāci karahaci satisammosā upadhipaṭisaṁyuttā sarasaṅkappā samudācaranti;
As they do so, memories and thoughts connected with attachments beset them every so often, due to the loss of mindfulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi người ấy thực hành để từ bỏ và buông xả các sanh y, thỉnh thoảng, do thất niệm, những hồi tưởng và suy nghĩ liên quan đến sanh y khởi lên.
dandho, udāyi, satuppādo.
Slowly mindfulness arises,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, niệm khởi lại chậm,
Atha kho naṁ khippameva pajahati, vinodeti, byantīkaroti, anabhāvaṁ gameti.
but then they quickly give up, dispel, eliminate, and obliterate those thoughts.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng rồi người ấy nhanh chóng từ bỏ, xua tan, chấm dứt, khiến những hồi tưởng và suy nghĩ ấy mất hẳn.
Imampi kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘saṁyutto’ti vadāmi no ‘visaṁyutto’.
I also call this individual ‘fettered’, not ‘detached’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta cũng gọi người ấy là ‘còn bị trói buộc’, không phải ‘đã thoát khỏi trói buộc’.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā.
Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này Udāyī, Ta biết rõ sự khác biệt về các căn nơi người ấy.
Idha panudāyi, ekacco puggalo ‘upadhi dukkhassa mūlan’ti—
Take another individual who, understanding that attachment is the root of suffering,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Udāyī, có người biết rằng: ‘Sanh y là gốc rễ của khổ.’
iti viditvā nirupadhi hoti, upadhisaṅkhaye vimutto.
is freed with the ending of attachments.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Biết như vậy, người ấy không còn sanh y, được giải thoát khi sanh y đoạn tận.
Imaṁ kho ahaṁ, udāyi, puggalaṁ ‘visaṁyutto’ti vadāmi no ‘saṁyutto’ti.
I call this individual ‘detached’, not ‘fettered’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta gọi người ấy là ‘đã thoát khỏi trói buộc’, không phải ‘còn bị trói buộc’.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Indriyavemattatā hi me, udāyi, imasmiṁ puggale viditā.
Because I understand the disparity of faculties as it applies to this individual.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này Udāyī, Ta biết rõ sự khác biệt về các căn nơi người ấy.
Ime kho, udāyi, cattāro puggalā santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
These are the four individuals found in the world.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, đó là bốn hạng người hiện hữu trên đời.
Pañca kho ime, udāyi, kāmaguṇā.
Udāyī, these are the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, có năm loại đối tượng của dục.
Katame pañca?
What five?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là những gì?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các hình sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, vừa ý, dễ mến, gắn với dục và khơi dậy tham đắm;
sotaviññeyyā saddā …pe…
Sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các âm thanh do tai nhận biết …;
ghānaviññeyyā gandhā …
Smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các mùi hương do mũi nhận biết, đáng ưa, đáng thích, vừa ý, dễ mến, gắn với dục và khơi dậy tham đắm;
jivhāviññeyyā rasā …
Tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các vị do lưỡi nhận biết, đáng ưa, đáng thích, vừa ý, dễ mến, gắn với dục và khơi dậy tham đắm;
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các đối tượng xúc chạm do thân nhận biết, đáng ưa, đáng thích, vừa ý, dễ mến, gắn với dục và khơi dậy tham đắm.
Ime kho, udāyi, pañca kāmaguṇā.
These are the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, đó là năm loại đối tượng của dục.
Yaṁ kho, udāyi, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ miḷhasukhaṁ puthujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ, na sevitabbaṁ, na bhāvetabbaṁ, na bahulīkātabbaṁ; ‘bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti vadāmi.
The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure—a filthy, ordinary, ignoble pleasure. Such pleasure should not be cultivated or developed, but should be feared, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, sự dễ chịu và vui thích phát sinh dựa vào năm loại đối tượng của dục ấy được gọi là dục lạc, thứ lạc ô uế, lạc của phàm phu, lạc không thuộc bậc Thánh. Không nên theo đuổi, không nên tu tập, không nên làm cho tăng trưởng thứ lạc ấy. Ta nói rằng cần phải e ngại thứ lạc ấy.
Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo hoàn toàn lìa dục, … chứng và an trú sơ thiền.
vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati,
second absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy lắng dịu tầm và tứ, … chứng và an trú nhị thiền.
pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati,
third absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy lìa hỷ, … chứng và an trú tam thiền.
sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
fourth absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy từ bỏ lạc, … chứng và an trú tứ thiền.
Idaṁ vuccati nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhasukhaṁ, āsevitabbaṁ, bhāvetabbaṁ, bahulīkātabbaṁ; ‘na bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti vadāmi.
This is called the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening. Such pleasure should be cultivated and developed, and should not be feared, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, đây được gọi là niềm an lạc của xuất ly, của viễn ly, của an tịnh, của giác ngộ. Niềm an lạc ấy nên được theo đuổi, tu tập và làm cho tăng trưởng. Ta nói rằng không nên sợ niềm an lạc ấy.
Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo hoàn toàn lìa dục, … chứng và an trú sơ thiền.
idaṁ kho ahaṁ, udāyi, iñjitasmiṁ vadāmi.
This belongs to the perturbable, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta nói trạng thái này vẫn còn dao động.
Kiñca tattha iñjitasmiṁ?
And what there belongs to the perturbable?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều gì ở đó vẫn còn dao động?
Yadeva tattha vitakkavicārā aniruddhā honti idaṁ tattha iñjitasmiṁ.
Whatever placing of the mind and keeping it connected has not ceased there is what belongs to the perturbable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính tầm và tứ chưa chấm dứt là điều còn dao động ở đó.
Idhudāyi, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
Take a mendicant who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo lắng dịu tầm và tứ, … chứng và an trú nhị thiền. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, iñjitasmiṁ vadāmi.
This belongs to the perturbable, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta nói trạng thái này cũng vẫn còn dao động.
Kiñca tattha iñjitasmiṁ?
And what there belongs to the perturbable?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều gì ở đó vẫn còn dao động?
Yadeva tattha pītisukhaṁ aniruddhaṁ hoti idaṁ tattha iñjitasmiṁ.
Whatever rapture and bliss has not ceased there is what belongs to the perturbable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính hỷ và lạc chưa chấm dứt là điều còn dao động ở đó.
Idhudāyi, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
Take a mendicant who, with the fading away of rapture, enters and remains in the third absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo lìa hỷ, … chứng và an trú tam thiền. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, iñjitasmiṁ vadāmi.
This belongs to the perturbable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta nói trạng thái này cũng vẫn còn dao động.
Kiñca tattha iñjitasmiṁ?
And what there belongs to the perturbable?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều gì ở đó vẫn còn dao động?
Yadeva tattha upekkhāsukhaṁ aniruddhaṁ hoti idaṁ tattha iñjitasmiṁ.
Whatever bliss with equanimity has not ceased there is what belongs to the perturbable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính lạc đi cùng xả chưa chấm dứt là điều còn dao động ở đó.
Idhudāyi, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
Take a mendicant who, giving up pleasure and pain, enters and remains in the fourth absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo từ bỏ lạc, … chứng và an trú tứ thiền. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idaṁ kho ahaṁ, udāyi, aniñjitasmiṁ vadāmi.
This belongs to the imperturbable, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta nói trạng thái này không dao động.
Idhudāyi, bhikkhu vivicceva kāmehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati;
Take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo hoàn toàn lìa dục, … chứng và an trú sơ thiền.
idaṁ kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, Ta nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, enters and remains in the second absorption. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo lắng dịu tầm và tứ, … chứng và an trú nhị thiền. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với trạng thái này, Ta cũng nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, with the fading away of rapture, enters and remains in the third absorption. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo lìa hỷ, … chứng và an trú tam thiền. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với trạng thái này, Ta cũng nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, giving up pleasure and pain, enters and remains in the fourth absorption. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo từ bỏ lạc, … chứng và an trú tứ thiền. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với trạng thái này, Ta cũng nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo vượt hoàn toàn các tưởng về sắc, chấm dứt các tưởng về sự xúc chạm, không chú ý đến các tưởng sai biệt, nhận biết: ‘Không gian là vô biên’, rồi chứng và an trú Không vô biên xứ. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với trạng thái này, Ta cũng nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo vượt hoàn toàn Không vô biên xứ, nhận biết: ‘Thức là vô biên’, rồi chứng và an trú Thức vô biên xứ. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với trạng thái này, Ta cũng nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo vượt hoàn toàn Thức vô biên xứ, nhận biết: ‘Không có gì cả’, rồi chứng và an trú Vô sở hữu xứ. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với trạng thái này, Ta cũng nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo vượt hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
idampi kho ahaṁ, udāyi, ‘analan’ti vadāmi, ‘pajahathā’ti vadāmi, ‘samatikkamathā’ti vadāmi.
But this too is not enough, I say: give it up, go beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, với trạng thái này, Ta cũng nói: ‘Chưa đủ.’ Ta nói: ‘Hãy từ bỏ.’ Ta nói: ‘Hãy vượt qua.’
Ko ca tassa samatikkamo?
And what goes beyond it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy vượt qua trạng thái ấy bằng cách nào?
Idhudāyi, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati, ayaṁ tassa samatikkamo;
Take a mendicant who, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling. That goes beyond it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, một tỳ-kheo vượt hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và an trú trạng thái diệt tưởng và thọ. Đó là cách vượt qua trạng thái trước.
iti kho ahaṁ, udāyi, nevasaññānāsaññāyatanassapi pahānaṁ vadāmi.
So, Udāyī, I even recommend giving up the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Udāyī, Ta dạy từ bỏ cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Passasi no tvaṁ, udāyi, taṁ saṁyojanaṁ aṇuṁ vā thūlaṁ vā yassāhaṁ no pahānaṁ vadāmī”ti?
Do you see any fetter, large or small, that I don’t recommend giving up?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Udāyī, ông có thấy sự trói buộc nào, dù nhỏ hay lớn, mà Ta không dạy từ bỏ không?”
“No hetaṁ, bhante”ti.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamano āyasmā udāyī bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Udāyī approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Udāyī hoan hỷ và tán thán lời Đức Phật dạy.
Laṭukikopamasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Ví Dụ Chim Cút, bài thứ sáu, kết thúc.