← Kinh Trung Bộ

MN59 · Majjhima Nikāya

Kinh Nhiều Loại Cảm Thọ

Bahuvedanīyasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Nhiều Loại Cảm Thọ diễn ra khi Đức Phật ở Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tại tinh xá Anāthapiṇḍika. Người thợ cả Pañcakaṅga hỏi Tôn giả Udāyī Đức Phật đã nói bao nhiêu loại cảm thọ. Udāyī trả lời là ba loại: dễ chịu, đau khổ và không khổ không lạc. Pañcakaṅga không đồng ý: Đức Phật nói hai loại, dễ chịu và đau khổ; còn không khổ không lạc được xếp vào loại lạc yên tĩnh và vi tế. Hai người lặp lại lập luận ba lần, không ai thuyết phục được ai.

Tôn giả Ānanda nghe được rồi thuật lại toàn bộ cho Đức Phật. Đức Phật cho cả hai đều đúng, mỗi người theo một cách phân loại: theo từng cách ấy, Ngài nói hai, ba, năm, sáu, mười tám, ba mươi sáu và một trăm lẻ tám loại cảm thọ. Nếu người ta không chịu công nhận điều người kia nói đúng và nói hay, có thể mong đợi tranh cãi, xung đột, bất hòa, dùng lời nói như giáo nhọn đâm chọc lẫn nhau; nếu biết công nhận như vậy, có thể mong đợi họ sống hòa hợp, hòa quyện như sữa với nước, nhìn nhau bằng ánh mắt thương mến.

Đức Phật mô tả năm loại đối tượng dục — sắc do mắt, âm thanh do tai, mùi do mũi, vị do lưỡi, xúc chạm do thân nhận biết, đều đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, khơi gợi ham muốn; niềm vui và lạc sinh khởi từ chúng được gọi là dục lạc. Rồi Ngài dựng một thang bậc: ai nói một mức lạc nào là mức cao nhất mà các hữu tình có thể cảm nhận, Ta không chấp nhận, vì còn lạc cao hơn và vi tế hơn.

Từng bậc: sơ thiền có tầm và tứ vượt dục lạc; nhị thiền, khi tầm và tứ lắng dịu, vượt sơ thiền; tam thiền, tứ thiền lần lượt cao hơn; kế đến bốn xứ vô sắc — Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ — mỗi xứ cao hơn xứ trước; vượt hết thảy là diệt tưởng và thọ. Công thức lặp lại cho từng bậc.

Ngài dự liệu du sĩ thuộc giáo phái khác sẽ thắc mắc sao diệt tưởng và thọ lại được xếp vào lạc, và dạy cách đáp: khi xếp một điều vào lạc, Đức Phật không chỉ nói đến cảm thọ dễ chịu; ở đâu và cách nào có lạc được tìm thấy, Như Lai đều gọi điều ấy là lạc. Bài kinh dừng ở đây: cùng một sự thật về cảm thọ có thể trình bày theo nhiều cách phân loại, và chữ lạc Đức Phật dùng rộng hơn cảm thọ dễ chịu.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 468 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 4ece299b-7f0b-45e0-9ad1-63dc71a6d4d5 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f8496c1b2bde8eaf34a7b60ddf707044a74d4ff70b2209eaabf1c827bb19af22

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 468 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 5844816a-2e4b-43b9-84fd-a34bd33abe52 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f8496c1b2bde8eaf34a7b60ddf707044a74d4ff70b2209eaabf1c827bb19af22

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 111 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: ac4ed9b4-79d7-4e4f-b257-d3f90ef5e56b · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: bd89f7db8ea88281c98b4a5b5dbb16cc48dcd73814a305a4470924ea53d65795

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 111 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2fd24bfa-93dc-4778-a8d5-de0b6db874a5 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: bd89f7db8ea88281c98b4a5b5dbb16cc48dcd73814a305a4470924ea53d65795

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.81/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.9
Đúng nghĩa Pāli9.7
Ngữ pháp & logic9.8
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.7
Đối chiếu nguồn9.7
Tiếng Việt sáng rõ9.8
Hán–Việt & súc tích9.7
Bất định & trung thực9.8
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

111/111 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

90/111 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

111/111 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 59
Middle Discourses 59
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 59
Bahuvedanīyasutta
The Many Kinds of Feeling
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Nhiều Loại Cảm Thọ
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, trong Kỳ Viên, tại tinh xá của ông Anāthapiṇḍika.
Atha kho pañcakaṅgo thapati yenāyasmā udāyī tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ udāyiṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
Then the chamberlain Pañcakaṅga went up to Venerable Udāyī, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy, người thợ cả Pañcakaṅga đến gặp Tôn giả Udāyī. Sau khi đến, ông đảnh lễ Tôn giả Udāyī rồi ngồi xuống một bên và hỏi:
“kati nu kho, bhante udāyi, vedanā vuttā bhagavatā”ti?
“Sir, how many feelings has the Buddha spoken of?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Tôn giả Udāyī, Đức Phật đã nói có bao nhiêu loại cảm thọ?”
“Tisso kho, thapati, vedanā vuttā bhagavatā.
“Chamberlain, the Buddha has spoken of three feelings:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này thợ cả, Đức Phật đã nói có ba loại cảm thọ:
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
pleasant, painful, and neutral.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cảm thọ dễ chịu, cảm thọ đau khổ và cảm thọ không khổ không lạc.
imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
The Buddha has spoken of these three feelings.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này thợ cả, Đức Phật đã nói có ba loại cảm thọ như vậy.”
Evaṁ vutte, pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
When he said this, Pañcakaṅga said to Udāyī,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe vậy, Pañcakaṅga nói với Tôn giả Udāyī:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā;
“Sir, Udāyī, the Buddha hasn’t spoken of three feelings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Tôn giả Udāyī, Đức Phật không nói có ba loại cảm thọ.
dve vedanā vuttā bhagavatā—
He’s spoken of two feelings:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nói có hai loại cảm thọ:
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
pleasant and painful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cảm thọ dễ chịu và cảm thọ đau khổ.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
The Buddha said that neutral feeling is included as a peaceful and subtle kind of pleasure.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn cảm thọ không khổ không lạc, Đức Phật xếp nó vào loại lạc yên tĩnh và vi tế.”
Dutiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
For a second time, Udāyī said to Pañcakaṅga,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, Tôn giả Udāyī nói với Pañcakaṅga:
“na kho, gahapati, dve vedanā vuttā bhagavatā;
“The Buddha hasn’t spoken of two feelings,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này thợ cả, Đức Phật không nói có hai loại cảm thọ;
tisso vedanā vuttā bhagavatā.
he’s spoken of three.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nói có ba loại:
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cảm thọ dễ chịu, cảm thọ đau khổ và cảm thọ không khổ không lạc.
imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói có ba loại cảm thọ như vậy.”
Dutiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
For a second time, Pañcakaṅga said to Udāyī,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, Pañcakaṅga nói với Tôn giả Udāyī:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā;
“The Buddha hasn’t spoken of three feelings,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Tôn giả Udāyī, Đức Phật không nói có ba loại cảm thọ;
dve vedanā vuttā bhagavatā—
he’s spoken of two.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nói có hai loại:
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cảm thọ dễ chịu và cảm thọ đau khổ.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn cảm thọ không khổ không lạc, Đức Phật xếp nó vào loại lạc yên tĩnh và vi tế.”
Tatiyampi kho āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ etadavoca:
And for a third time, Udāyī said to Pañcakaṅga,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, Tôn giả Udāyī nói với Pañcakaṅga:
“na kho, thapati, dve vedanā vuttā bhagavatā;
“The Buddha hasn’t spoken of two feelings,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này thợ cả, Đức Phật không nói có hai loại cảm thọ;
tisso vedanā vuttā bhagavatā.
he’s spoken of three.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nói có ba loại:
Sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cảm thọ dễ chịu, cảm thọ đau khổ và cảm thọ không khổ không lạc.
imā kho, thapati, tisso vedanā vuttā bhagavatā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói có ba loại cảm thọ như vậy.”
Tatiyampi kho pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ etadavoca:
And for a third time, Pañcakaṅga said to Udāyī,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, Pañcakaṅga nói với Tôn giả Udāyī:
“na kho, bhante udāyi, tisso vedanā vuttā bhagavatā,
“The Buddha hasn’t spoken of three feelings,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Tôn giả Udāyī, Đức Phật không nói có ba loại cảm thọ;
dve vedanā vuttā bhagavatā—
he’s spoken of two.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài nói có hai loại:
sukhā vedanā, dukkhā vedanā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cảm thọ dễ chịu và cảm thọ đau khổ.
Yāyaṁ, bhante, adukkhamasukhā vedanā santasmiṁ esā paṇīte sukhe vuttā bhagavatā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn cảm thọ không khổ không lạc, Đức Phật xếp nó vào loại lạc yên tĩnh và vi tế.”
Neva kho sakkhi āyasmā udāyī pañcakaṅgaṁ thapatiṁ saññāpetuṁ, na panāsakkhi pañcakaṅgo thapati āyasmantaṁ udāyiṁ saññāpetuṁ.
But neither was able to persuade the other.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng cả hai đều không thuyết phục được người kia.
Assosi kho āyasmā ānando āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ imaṁ kathāsallāpaṁ.
Venerable Ānanda heard this discussion between Udāyī and Pañcakaṅga.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda nghe được cuộc trao đổi này giữa Udāyī và Pañcakaṅga.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Then he went up to the Buddha, bowed, sat down to one side,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando yāvatako ahosi āyasmato udāyissa pañcakaṅgena thapatinā saddhiṁ kathāsallāpo taṁ sabbaṁ bhagavato ārocesi.
and informed the Buddha of all they had discussed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngồi một bên, Tôn giả Ānanda thuật lại toàn bộ cuộc trao đổi ấy cho Đức Phật.
Evaṁ vutte, bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
When he had spoken, the Buddha said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe vậy, Đức Phật nói với Tôn giả Ānanda:
“santaññeva kho, ānanda, pariyāyaṁ pañcakaṅgo thapati udāyissa nābbhanumodi, santaññeva ca pana pariyāyaṁ udāyī pañcakaṅgassa thapatissa nābbhanumodi.
“Ānanda, the explanation by the mendicant Udāyī, which the chamberlain Pañcakaṅga didn’t agree with, was quite correct. But the explanation by Pañcakaṅga, which Udāyī didn’t agree with, was also quite correct.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ānanda, cách giải thích của tỳ-kheo Udāyī mà Pañcakaṅga không đồng ý là đúng theo một cách phân loại; và cách giải thích của Pañcakaṅga mà Udāyī không đồng ý cũng đúng theo một cách phân loại khác.
Dvepānanda, vedanā vuttā mayā pariyāyena, tissopi vedanā vuttā mayā pariyāyena, pañcapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, chapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, aṭṭhārasapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, chattiṁsapi vedanā vuttā mayā pariyāyena, aṭṭhasatampi vedanā vuttā mayā pariyāyena.
In one explanation I’ve spoken of two feelings. In another explanation I’ve spoken of three feelings, or five, six, eighteen, thirty-six, or a hundred and eight feelings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, theo từng cách phân loại khác nhau, Ta đã nói có hai loại cảm thọ; cũng nói ba, năm, sáu, mười tám, ba mươi sáu và một trăm lẻ tám loại cảm thọ.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo.
I’ve explained the teaching in all these different ways.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, Pháp đã được Ta trình bày theo nhiều cách như vậy.
Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ na samanujānissanti na samanumaññissanti na samanumodissanti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ—bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharissanti.
This being so, you can expect that those who don’t concede, approve, or agree with what has been well spoken will fight, quarrel, and dispute, continually wounding each other with barbed words.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi Pháp được trình bày theo nhiều cách như vậy, nếu người ta không chịu công nhận, chấp nhận và tán đồng điều người kia nói đúng và nói hay, thì có thể mong đợi rằng họ sẽ sinh tranh cãi, xung đột, bất hòa, dùng lời nói như giáo nhọn đâm chọc lẫn nhau.
Evaṁ pariyāyadesito kho, ānanda, mayā dhammo.
I’ve explained the teaching in all these different ways.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, Pháp đã được Ta trình bày theo nhiều cách như vậy.
Evaṁ pariyāyadesite kho, ānanda, mayā dhamme ye aññamaññassa subhāsitaṁ sulapitaṁ samanujānissanti samanumaññissanti samanumodissanti tesametaṁ pāṭikaṅkhaṁ—samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharissanti.
This being so, you can expect that those who do concede, approve, or agree with what has been well spoken will live in harmony, appreciating each other, without quarreling, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi Pháp được trình bày theo nhiều cách như vậy, nếu người ta biết công nhận, chấp nhận và tán đồng điều người kia nói đúng và nói hay, thì có thể mong đợi rằng họ sẽ sống hòa hợp, vui vẻ với nhau, không tranh cãi, hòa quyện như sữa với nước và nhìn nhau bằng ánh mắt thương mến.
Pañca kho ime, ānanda, kāmaguṇā.
There are these five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, có năm loại đối tượng dục này.
Katame pañca?
What five?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm loại nào?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi gợi ham muốn;
sotaviññeyyā saddā …pe…
Sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các âm thanh do tai nhận biết …;
ghānaviññeyyā gandhā …pe…
Smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các mùi do mũi nhận biết …;
jivhāviññeyyā rasā …pe…
Tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các vị do lưỡi nhận biết …;
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—
Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các xúc chạm do thân nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi gợi ham muốn.
ime kho, ānanda, pañca kāmaguṇā.
These are the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đó là năm loại đối tượng dục.
Yaṁ kho, ānanda, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ.
The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Niềm vui và lạc sinh khởi do năm loại đối tượng dục này được gọi là dục lạc.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya: ‘etaparamaṁ sattā sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti, idamassa nānujānāmi.
There are those who might say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, nếu có người nói: ‘Đây là mức vui và lạc cao nhất mà các hữu tình có thể cảm nhận,’ Ta không chấp nhận lời ấy.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Because there is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì còn có một loại lạc khác cao hơn và vi tế hơn lạc ấy.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, một tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, … chứng và trú sơ thiền.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
This is a pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya: ‘etaparamaṁ sattā sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti, idamassa nānujānāmi.
There are those who would say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói: ‘Đây là mức vui và lạc cao nhất mà các hữu tình có thể cảm nhận,’ Ta không chấp nhận lời ấy.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Because there is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì còn có một loại lạc khác cao hơn và vi tế hơn lạc ấy.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
It’s when, as the placing of the mind and keeping it connected are stilled, a mendicant enters and remains in the second absorption, which has the rapture and bliss born of immersion, with internal clarity and mind at one, without placing the mind and keeping it connected. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, do tầm và tứ lắng dịu, một tỳ-kheo … chứng và trú nhị thiền.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói …
pe….
There is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
…
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu pītiyā ca virāgā …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
It’s when, with the fading away of rapture, a mendicant enters and remains in the third absorption, where they meditate with equanimity, mindful and aware, experiencing for themselves the bliss of which the noble ones declare, ‘Equanimous and mindful, one meditates in bliss.’ …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, khi hỷ phai nhạt, một tỳ-kheo … chứng và trú tam thiền.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói …
pe….
There is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
…
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
It’s when, with the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, do từ bỏ lạc … một tỳ-kheo chứng và trú tứ thiền.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói …
pe….
There is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
…
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā, paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā, nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite space. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vượt hoàn toàn các tưởng về sắc, khi các tưởng về va chạm đã chấm dứt và không chú tâm đến các tưởng sai biệt, một tỳ-kheo nhận biết ‘không gian là vô biên’, chứng và trú Không vô biên xứ.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói …
pe….
There is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
…
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, enters and remains in the dimension of infinite consciousness. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vượt hoàn toàn Không vô biên xứ, một tỳ-kheo nhận biết ‘thức là vô biên’, chứng và trú Thức vô biên xứ.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói …
pe….
There is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
…
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vượt hoàn toàn Thức vô biên xứ, một tỳ-kheo nhận biết ‘không có gì cả’, chứng và trú Vô sở hữu xứ.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya …
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói …
pe….
There is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
…
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of nothingness, enters and remains in the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vượt hoàn toàn Vô sở hữu xứ, một tỳ-kheo chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
This is a pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Yo kho, ānanda, evaṁ vadeyya: ‘etaparamaṁ sattā sukhaṁ somanassaṁ paṭisaṁvedentī’ti, idamassa nānujānāmi.
There are those who would say that this is the highest pleasure and happiness that sentient beings experience. But I don’t grant them that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu có người nói: ‘Đây là mức vui và lạc cao nhất mà các hữu tình có thể cảm nhận,’ Ta không chấp nhận lời ấy.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao?
Atthānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
Because there is another pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì còn có một loại lạc khác cao hơn và vi tế hơn lạc ấy.
Katamañcānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca?
And what is that pleasure?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Loại lạc nào cao hơn và vi tế hơn lạc ấy?
Idhānanda, bhikkhu sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, enters and remains in the cessation of perception and feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vượt hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, một tỳ-kheo chứng và trú trạng thái diệt tưởng và thọ.
Idaṁ kho, ānanda, etamhā sukhā aññaṁ sukhaṁ abhikkantatarañca paṇītatarañca.
This is a pleasure that is finer than that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đây là loại lạc cao hơn và vi tế hơn lạc trước.
Ṭhānaṁ kho panetaṁ, ānanda, vijjati yaṁ aññatitthiyā paribbājakā evaṁ vadeyyuṁ:
It’s possible that wanderers of other religions might say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, có thể các du sĩ thuộc giáo phái khác sẽ nói:
‘saññāvedayitanirodhaṁ samaṇo gotamo āha; tañca sukhasmiṁ paññapeti.
‘The ascetic Gotama spoke of the cessation of perception and feeling, and he includes it in happiness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sa-môn Gotama nói đến sự diệt tưởng và thọ, lại xếp điều ấy vào lạc.
Tayidaṁ kiṁsu, tayidaṁ kathaṁsū’ti?
What’s up with that?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều đó là thế nào? Làm sao có thể như vậy?’
Evaṁvādino, ānanda, aññatitthiyā paribbājakā evamassu vacanīyā:
When wanderers of other religions say this, you should say to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, nếu họ nói như vậy, các ông nên trả lời:
‘na kho, āvuso, bhagavā sukhaṁyeva vedanaṁ sandhāya sukhasmiṁ paññapeti;
‘Reverends, when the Buddha describes what’s included in happiness, he’s not just referring to pleasant feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này các hiền giả, khi xếp một điều vào lạc, Đức Phật không chỉ nói đến cảm thọ dễ chịu.
api ca, āvuso, yattha yattha sukhaṁ upalabbhati yahiṁ yahiṁ taṁ taṁ tathāgato sukhasmiṁ paññapetī’”ti.
The Realized One describes pleasure as included in happiness wherever it is found, and in whatever context.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đâu và theo cách nào có lạc được tìm thấy, Như Lai đều gọi điều ấy là lạc.’”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói như vậy.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Bahuvedanīyasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Nhiều Loại Cảm Thọ kết thúc, bài thứ chín.