← Kinh Trung Bộ

MN57 · Majjhima Nikāya

Kinh Hạnh Con Chó

Kukkuravatikasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Hạnh Con Chó do Đức Phật thuyết giữa dân Koliya tại thị trấn Haliddavasana. Puṇṇa thực hành hạnh con bò và Seniya, khổ hạnh lõa thể thực hành hạnh con chó, đến gặp Ngài; Seniya cuộn mình ngồi như chó. Puṇṇa hỏi Seniya thực hành hạnh con chó lâu dài, sau khi chết sẽ tái sinh ở đâu? Đức Phật hai lần chặn câu hỏi, đến lần thứ ba mới trả lời.

Người phát triển trọn vẹn, không gián đoạn hạnh, giới, tâm, cách cư xử của chó sẽ tái sinh cùng loài chó; nếu cho rằng nhờ giới hạnh ấy sẽ thành một vị trời, đó là tà kiến, dẫn đến địa ngục hoặc loài vật. Vậy hạnh con chó thành tựu dẫn đến loài chó, không thành tựu thì địa ngục. Seniya bật khóc vì đã thực hành lâu dài, rồi hỏi về hạnh con bò của Puṇṇa. Đức Phật chặn hai lần, đến lần hỏi thứ ba mới trả lời theo công thức ấy: hạnh con bò thành tựu dẫn đến loài bò, không thì địa ngục. Puṇṇa cũng bật khóc.

Puṇṇa xin được giảng Pháp để hai người từ bỏ hạnh ấy. Đức Phật nêu bốn loại nghiệp Ngài tuyên thuyết sau khi tự mình chứng ngộ: nghiệp đen với quả đen: thân, khẩu, ý hành gây tổn hại, tái sinh vào thế giới tổn hại, cảm thọ hoàn toàn đau khổ như chúng sinh địa ngục; nghiệp trắng với quả trắng: các hành không tổn hại, tái sinh vào thế giới không tổn hại, cảm thọ an lạc như chư thiên Subhakiṇha; nghiệp vừa đen vừa trắng với quả tương ứng, lạc khổ xen lẫn như loài người, một số chư thiên, một số chúng sinh cảnh giới thấp; và nghiệp không đen không trắng, dẫn đến chấm dứt nghiệp.

Với cả ba loại đầu, kinh lặp lại: hữu tình sinh khởi từ hữu tình, người làm gì thì tái sinh theo đó, khi đã tái sinh thì các xúc chạm đến; vì vậy chúng sinh là người thừa hưởng nghiệp của mình. Loại thứ tư là ý định từ bỏ nghiệp đen, nghiệp trắng, và nghiệp vừa đen vừa trắng.

Puṇṇa xin quy y làm cư sĩ trọn đời. Seniya xin xuất gia và thọ đại giới; Đức Phật cho biết người từ giáo phái khác phải sống bốn tháng thử thách; Seniya xin bốn năm và được xuất gia. Không lâu sau, sống không phóng dật, nhiệt tâm, quyết chí, Seniya chứng ngộ mục đích tối thượng của đời phạm hạnh và trở thành A-la-hán. Bài kinh cho thấy tái sinh đi theo hành vi và ý định, còn hạnh mô phỏng loài vật dẫn đến thân loài ấy hay địa ngục.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 460 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 8b0fb60d-c552-471d-82bf-6630bf3ed947 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4bfd5f50013d5f08b444e2bad6b52264b148499b0991d19a0f5e6fb157805ddd

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 460 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 0aff6fa6-6035-47ae-bfee-7ac2a80d12c2 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4bfd5f50013d5f08b444e2bad6b52264b148499b0991d19a0f5e6fb157805ddd

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 454 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 5c674bb9-49ac-471b-82a8-1e959c67e3ba · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: aef27feffe37d3452b5ba2069f127208b908109b305d7fa177ea448e71df52b9

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 114 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 1e82c6c9-f443-45f7-af2d-9ba8659c44a6 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 306a883e25f8716870b15f0e58bdf565d9d81ffaadea1dc57c8fcd258d2b8ffd

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 114 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 01c90b83-0792-4590-ab2d-b32e936b0bc6 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 306a883e25f8716870b15f0e58bdf565d9d81ffaadea1dc57c8fcd258d2b8ffd

2026-09-11 · Scorecard lịch sử · 9.76/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.9
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.7
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.7
Tiếng Việt sáng rõ9.7
Hán–Việt & súc tích9.7
Bất định & trung thực9.7
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

114/114 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

111/114 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

114/114 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 57
Middle Discourses 57
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 57
Kukkuravatikasutta
The Ascetic Who Behaved Like a Dog
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Hạnh Con Chó
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā koliyesu viharati haliddavasanaṁ nāma koliyānaṁ nigamo.
At one time the Buddha was staying in the land of the Koliyans, where they have a town named Haliddavasana.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở giữa dân Koliya, tại thị trấn Haliddavasana của người Koliya.
Atha kho puṇṇo ca koliyaputto govatiko acelo ca seniyo kukkuravatiko yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavatā saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā kukkurova palikujjitvā ekamantaṁ nisīdi.
Then Puṇṇa the Koliyan, a cow votary, and the naked ascetic Seniya, a dog votary, went to the Buddha. Puṇṇa bowed to the Buddha and sat down to one side, while Seniya exchanged greetings and polite conversation with him before sitting down to one side curled up like a dog.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy Puṇṇa, người Koliya thực hành hạnh con bò, và Seniya, vị khổ hạnh lõa thể thực hành hạnh con chó, đến gặp Đức Phật. Puṇṇa đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Còn Seniya trao đổi lời chào hỏi thân thiện với Ngài rồi cuộn mình ngồi sang một bên như con chó.
Ekamantaṁ nisinno kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
Puṇṇa said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngồi một bên, Puṇṇa thưa với Đức Phật:
“ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati.
“Sir, this naked ascetic Seniya the dog votary does a hard thing: he eats food placed on the ground.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, Seniya, vị khổ hạnh lõa thể thực hành hạnh con chó này, đang làm một việc rất khó: ông ấy ăn thức ăn được đặt xuống đất.
Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
For a long time he has undertaken that observance to behave like a dog.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông ấy đã thực hành đầy đủ hạnh con chó ấy trong một thời gian dài.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Where will he be reborn in his next life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi chết, ông ấy sẽ đi về đâu, tái sinh ở đâu?”
“Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Enough, Puṇṇa, let it be. Don’t ask me that.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thôi, Puṇṇa, hãy để chuyện ấy lại; đừng hỏi Ta điều đó.”
Dutiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko …pe…
For a second time …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, Puṇṇa lại hỏi như vậy.
tatiyampi kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
and a third time, Puṇṇa said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, Puṇṇa thưa với Đức Phật:
“ayaṁ, bhante, acelo seniyo kukkuravatiko dukkarakārako chamānikkhittaṁ bhojanaṁ bhuñjati.
“Sir, this naked ascetic Seniya does a hard thing: he eats food placed on the ground.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, Seniya, vị khổ hạnh lõa thể thực hành hạnh con chó này, đang làm một việc rất khó: ông ấy ăn thức ăn được đặt xuống đất.
Tassa taṁ kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
For a long time he has undertaken that observance to behave like a dog.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông ấy đã thực hành đầy đủ hạnh con chó ấy trong một thời gian dài.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Where will he be reborn in his next life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi chết, ông ấy sẽ đi về đâu, tái sinh ở đâu?”
“Addhā kho te ahaṁ, puṇṇa, na labhāmi.
“Clearly, Puṇṇa, I’m not getting through to you when I say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Puṇṇa, rõ ràng Ta không thể ngăn ông khi đã nói:
Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti;
‘Enough, Puṇṇa, let it be. Don’t ask me that.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thôi, Puṇṇa, hãy để chuyện ấy lại; đừng hỏi Ta điều đó.’
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Nevertheless, I will answer you.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Dù vậy, Ta sẽ trả lời ông.
Idha, puṇṇa, ekacco kukkuravataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ.
Take someone who develops the dog observance fully and uninterruptedly. They develop a dog’s ethics, a dog’s mentality, and a dog’s behavior fully and uninterruptedly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, Puṇṇa, có người phát triển trọn vẹn và không gián đoạn hạnh con chó, giới hạnh của chó, tâm của chó và cách cư xử của chó.
So kukkuravataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurasīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkuracittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, kukkurākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā kukkurānaṁ sahabyataṁ upapajjati.
When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of dogs.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi phát triển trọn vẹn và không gián đoạn hạnh, giới, tâm và cách cư xử của chó như vậy, khi thân hoại mạng chung người ấy tái sinh cùng loài chó.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
But if they have such a view: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This is their wrong view.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng nếu người ấy có quan điểm: ‘Nhờ giới này, hạnh này, khổ hạnh này hay đời sống phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một hạng trời nào đó,’ thì đó là tà kiến.
Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, puṇṇa, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa, đối với người có tà kiến, Ta nói có một trong hai nơi tái sinh: địa ngục hoặc loài vật.
Iti kho, puṇṇa, sampajjamānaṁ kukkuravataṁ kukkurānaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
So if the dog observance succeeds it leads to rebirth in the company of dogs, but if it fails it leads to hell.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, Puṇṇa, nếu hạnh con chó thành tựu thì dẫn đến tái sinh cùng loài chó; nếu không thành tựu thì dẫn đến địa ngục.”
Evaṁ vutte, acelo seniyo kukkuravatiko parodi, assūni pavattesi.
When he said this, Seniya cried and burst out in tears.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe vậy, Seniya, vị khổ hạnh lõa thể thực hành hạnh con chó, bật khóc và nước mắt tuôn rơi.
Atha kho bhagavā puṇṇaṁ koliyaputtaṁ govatikaṁ etadavoca:
The Buddha said to Puṇṇa,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói với Puṇṇa:
“etaṁ kho te ahaṁ, puṇṇa, nālatthaṁ.
“This is what I didn’t get through to you when I said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Puṇṇa, đó chính là điều Ta đã muốn tránh khi nói:
Alaṁ, puṇṇa, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
‘Enough, Puṇṇa, let it be. Don’t ask me that.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thôi, Puṇṇa, hãy để chuyện ấy lại; đừng hỏi Ta điều đó.’”
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
Seniya said, “Sir, I’m not crying because of what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Seniya thưa: “Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì lời Thế Tôn vừa nói,
api ca me idaṁ, bhante, kukkuravataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
But, sir, for a long time I have undertaken this observance to behave like a dog.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mà vì con đã thực hành đầy đủ hạnh con chó này trong một thời gian dài.
Ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko.
Sir, this Puṇṇa is a cow votary.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, Puṇṇa người Koliya này thực hành hạnh con bò.
Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
For a long time he has undertaken that observance to behave like a cow.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông ấy đã thực hành đầy đủ hạnh con bò ấy trong một thời gian dài.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Where will he be reborn in his next life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi chết, ông ấy sẽ đi về đâu, tái sinh ở đâu?”
“Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
“Enough, Seniya, let it be. Don’t ask me that.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thôi, Seniya, hãy để chuyện ấy lại; đừng hỏi Ta điều đó.”
Dutiyampi kho acelo seniyo …pe…
For a second time …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ hai, Seniya lại hỏi như vậy.
tatiyampi kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca:
and a third time Seniya said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lần thứ ba, Seniya thưa với Đức Phật:
“ayaṁ, bhante, puṇṇo koliyaputto govatiko.
“Sir, this Puṇṇa is a cow votary.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, Puṇṇa người Koliya này thực hành hạnh con bò.
Tassa taṁ govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
For a long time he has undertaken that observance to behave like a cow.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ông ấy đã thực hành đầy đủ hạnh con bò ấy trong một thời gian dài.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Where will he be reborn in his next life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi chết, ông ấy sẽ đi về đâu, tái sinh ở đâu?”
“Addhā kho te ahaṁ, seniya, na labhāmi.
“Clearly, Seniya, I’m not getting through to you when I say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Seniya, rõ ràng Ta không thể ngăn ông khi đã nói:
Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchīti;
‘Enough, Seniya, let it be. Don’t ask me that.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thôi, Seniya, hãy để chuyện ấy lại; đừng hỏi Ta điều đó.’
api ca tyāhaṁ byākarissāmi.
Nevertheless, I will answer you.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Dù vậy, Ta sẽ trả lời ông.
Idha, seniya, ekacco govataṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāveti paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ.
Take someone who develops the cow observance fully and uninterruptedly. They develop a cow’s ethics, a cow’s mentality, and a cow’s behavior fully and uninterruptedly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, Seniya, có người phát triển trọn vẹn và không gián đoạn hạnh con bò, giới hạnh của bò, tâm của bò và cách cư xử của bò.
So govataṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gosīlaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gocittaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ, gavākappaṁ bhāvetvā paripuṇṇaṁ abbokiṇṇaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā gunnaṁ sahabyataṁ upapajjati.
When their body breaks up, after death, they’re reborn in the company of cows.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi phát triển trọn vẹn và không gián đoạn hạnh, giới, tâm và cách cư xử của bò như vậy, khi thân hoại mạng chung người ấy tái sinh cùng loài bò.
Sace kho panassa evaṁdiṭṭhi hoti: ‘imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā devo vā bhavissāmi devaññataro vā’ti, sāssa hoti micchādiṭṭhi.
But if they have such a view: ‘By this precept or observance or fervent austerity or spiritual practice, may I become one of the gods!’ This is their wrong view.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng nếu người ấy có quan điểm: ‘Nhờ giới này, hạnh này, khổ hạnh này hay đời sống phạm hạnh này, ta sẽ trở thành một vị trời hay một hạng trời nào đó,’ thì đó là tà kiến.
Micchādiṭṭhissa kho ahaṁ, seniya, dvinnaṁ gatīnaṁ aññataraṁ gatiṁ vadāmi—nirayaṁ vā tiracchānayoniṁ vā.
An individual with wrong view is reborn in one of two places, I say: hell or the animal realm.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Seniya, đối với người có tà kiến, Ta nói có một trong hai nơi tái sinh: địa ngục hoặc loài vật.
Iti kho, seniya, sampajjamānaṁ govataṁ gunnaṁ sahabyataṁ upaneti, vipajjamānaṁ nirayan”ti.
So if the cow observance succeeds it leads to rebirth in the company of cows, but if it fails it leads to hell.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, Seniya, nếu hạnh con bò thành tựu thì dẫn đến tái sinh cùng loài bò; nếu không thành tựu thì dẫn đến địa ngục.”
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko parodi, assūni pavattesi.
When he said this, Puṇṇa cried and burst out in tears.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe vậy, Puṇṇa, người Koliya thực hành hạnh con bò, bật khóc và nước mắt tuôn rơi.
Atha kho bhagavā acelaṁ seniyaṁ kukkuravatikaṁ etadavoca:
The Buddha said to Seniya,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói với Seniya:
“etaṁ kho te ahaṁ, seniya, nālatthaṁ.
“This is what I didn’t get through to you when I said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Seniya, đó chính là điều Ta đã muốn tránh khi nói:
Alaṁ, seniya, tiṭṭhatetaṁ; mā maṁ etaṁ pucchī”ti.
‘Enough, Seniya, let it be. Don’t ask me that.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thôi, Seniya, hãy để chuyện ấy lại; đừng hỏi Ta điều đó.’”
“Nāhaṁ, bhante, etaṁ rodāmi yaṁ maṁ bhagavā evamāha;
Puṇṇa said, “Sir, I’m not crying because of what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa thưa: “Bạch Thế Tôn, con khóc không phải vì lời Thế Tôn vừa nói,
api ca me idaṁ, bhante, govataṁ dīgharattaṁ samattaṁ samādinnaṁ.
But, sir, for a long time I have undertaken this observance to behave like a cow.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mà vì con đã thực hành đầy đủ hạnh con bò này trong một thời gian dài.
Evaṁ pasanno ahaṁ, bhante, bhagavati;
I am quite confident that the Buddha
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, con có niềm tin nơi Thế Tôn;
pahoti bhagavā tathā dhammaṁ desetuṁ yathā ahaṁ cevimaṁ govataṁ pajaheyyaṁ, ayañceva acelo seniyo kukkuravatiko taṁ kukkuravataṁ pajaheyyā”ti.
is capable of teaching me so that I can give up this cow observance, and the naked ascetic Seniya can give up that dog observance.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế Tôn có thể giảng Pháp để con từ bỏ hạnh con bò này và Seniya, vị khổ hạnh lõa thể, từ bỏ hạnh con chó ấy.”
“Tena hi, puṇṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Well then, Puṇṇa, listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy, Puṇṇa, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ. Ta sẽ nói.”
“Evaṁ, bhante”ti kho puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” he replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn,” Puṇṇa đáp.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“Cattārimāni, puṇṇa, kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditāni.
“Puṇṇa, I declare these four kinds of deeds, having realized them with my own insight.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Puṇṇa, có bốn loại nghiệp mà Ta tuyên thuyết sau khi tự mình trực tiếp biết và chứng ngộ.
Katamāni cattāri?
What four?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn loại nào?
Atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ;
There are dark deeds with dark results;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có nghiệp đen với quả đen;
atthi, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ;
bright deeds with bright results;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
có nghiệp trắng với quả trắng;
atthi, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ;
dark and bright deeds with dark and bright results; and
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
có nghiệp vừa đen vừa trắng với quả vừa đen vừa trắng;
atthi, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati.
neither dark nor bright deeds with neither dark nor bright results, which lead to the ending of deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và có nghiệp không đen không trắng, với quả không đen không trắng, dẫn đến chấm dứt nghiệp.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ?
And what are dark deeds with dark results?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa, thế nào là nghiệp đen với quả đen?
Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
It’s when someone makes hurtful choices by way of body, speech, and mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, có người tạo tác thân hành gây tổn hại, khẩu hành gây tổn hại và ý hành gây tổn hại.
So sabyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati.
Having made these choices, they’re reborn in a hurtful world,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi tạo tác các thân, khẩu và ý hành gây tổn hại như vậy, người ấy tái sinh vào một thế giới có tổn hại.
Tamenaṁ sabyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhā phassā phusanti.
where hurtful contacts strike them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đã tái sinh vào thế giới có tổn hại ấy, người ấy tiếp xúc với những xúc gây tổn hại.
So sabyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantadukkhaṁ, seyyathāpi sattā nerayikā.
Touched by hurtful contacts, they experience hurtful feelings that are absolutely painful—like the beings in hell.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bị những xúc gây tổn hại chạm đến, người ấy cảm nhận những cảm thọ gây tổn hại, hoàn toàn đau khổ, như các chúng sinh trong địa ngục.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
This is how a being is born from a being.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, Puṇṇa, một hữu tình sinh khởi từ một hữu tình;
yaṁ karoti tena upapajjati,
For your deeds determine your rebirth,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy làm gì thì tái sinh theo đó,
upapannamenaṁ phassā phusanti.
and when you’re reborn contacts strike you.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và khi đã tái sinh, các xúc chạm đến người ấy.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế, Puṇṇa, Ta nói: “Chúng sinh là những người thừa hưởng nghiệp của mình.”
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ.
These are called dark deeds with dark results.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là nghiệp đen với quả đen.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ?
And what are bright deeds with bright results?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa, thế nào là nghiệp trắng với quả trắng?
Idha, puṇṇa, ekacco abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
It’s when someone makes pleasing choices by way of body, speech, and mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, có người tạo tác thân hành không gây tổn hại, khẩu hành không gây tổn hại và ý hành không gây tổn hại.
So abyābajjhaṁ kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, abyābajjhaṁ manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā abyābajjhaṁ lokaṁ upapajjati.
Having made these choices, they are reborn in a pleasing world,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi tạo tác các thân, khẩu và ý hành không gây tổn hại như vậy, người ấy tái sinh vào một thế giới không có tổn hại.
Tamenaṁ abyābajjhaṁ lokaṁ upapannaṁ samānaṁ abyābajjhā phassā phusanti.
where pleasing contacts strike them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đã tái sinh vào thế giới không có tổn hại ấy, người ấy tiếp xúc với những xúc không gây tổn hại.
So abyābajjhehi phassehi phuṭṭho samāno abyābajjhaṁ vedanaṁ vedeti ekantasukhaṁ, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
Touched by pleasing contacts, they experience pleasing feelings of absolute happiness—like the gods of universal beauty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bị những xúc không gây tổn hại chạm đến, người ấy cảm nhận những cảm thọ không gây tổn hại, hoàn toàn an lạc, như chư thiên Subhakiṇha, Biến Tịnh Thiên.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
This is how a being is born from a being.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, Puṇṇa, một hữu tình sinh khởi từ một hữu tình;
yaṁ karoti tena upapajjati,
For your deeds determine your rebirth,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy làm gì thì tái sinh theo đó,
upapannamenaṁ phassā phusanti.
and when you’re reborn contacts strike you.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và khi đã tái sinh, các xúc chạm đến người ấy.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế, Puṇṇa, Ta nói: “Chúng sinh là những người thừa hưởng nghiệp của mình.”
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ.
These are called bright deeds with bright results.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là nghiệp trắng với quả trắng.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ?
And what are dark and bright deeds with dark and bright results?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa, thế nào là nghiệp vừa đen vừa trắng với quả vừa đen vừa trắng?
Idha, puṇṇa, ekacco sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharoti.
It’s when someone makes both hurtful and pleasing choices by way of body, speech, and mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, có người tạo tác thân hành vừa gây tổn hại vừa không gây tổn hại, khẩu hành vừa gây tổn hại vừa không gây tổn hại và ý hành vừa gây tổn hại vừa không gây tổn hại.
So sabyābajjhampi abyābajjhampi kāyasaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi vacīsaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā, sabyābajjhampi abyābajjhampi manosaṅkhāraṁ abhisaṅkharitvā sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapajjati.
Having made these choices, they are reborn in a world that is both hurtful and pleasing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi tạo tác các thân, khẩu và ý hành vừa gây tổn hại vừa không gây tổn hại như vậy, người ấy tái sinh vào một thế giới vừa có tổn hại vừa không có tổn hại.
Tamenaṁ sabyābajjhampi abyābajjhampi lokaṁ upapannaṁ samānaṁ sabyābajjhāpi abyābajjhāpi phassā phusanti.
where hurtful and pleasing contacts strike them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đã tái sinh vào thế giới ấy, người ấy tiếp xúc với cả những xúc gây tổn hại lẫn những xúc không gây tổn hại.
So sabyābajjhehipi abyābajjhehipi phassehi phuṭṭho samāno sabyābajjhampi abyābajjhampi vedanaṁ vedeti vokiṇṇasukhadukkhaṁ, seyyathāpi manussā ekacce ca devā ekacce ca vinipātikā.
Touched by both hurtful and pleasing contacts, they experience both hurtful and pleasing feelings that are a mixture of pleasure and pain—like humans, some gods, and some beings in the underworld.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bị cả hai loại xúc ấy chạm đến, người ấy cảm nhận cả cảm thọ gây tổn hại lẫn không gây tổn hại, với lạc và khổ xen lẫn, như loài người, một số chư thiên và một số chúng sinh ở cảnh giới thấp.
Iti kho, puṇṇa, bhūtā bhūtassa upapatti hoti;
This is how a being is born from a being.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, Puṇṇa, một hữu tình sinh khởi từ một hữu tình;
yaṁ karoti tena upapajjati.
For what you do brings about your rebirth,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người ấy làm gì thì tái sinh theo đó.
Upapannamenaṁ phassā phusanti.
and when you’re reborn contacts strike you.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đã tái sinh, các xúc chạm đến người ấy.
Evampāhaṁ, puṇṇa, ‘kammadāyādā sattā’ti vadāmi.
This is why I say that sentient beings are heirs to their deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế, Puṇṇa, Ta nói: “Chúng sinh là những người thừa hưởng nghiệp của mình.”
Idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ.
These are called dark and bright deeds with dark and bright results.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là nghiệp vừa đen vừa trắng với quả vừa đen vừa trắng.
Katamañca, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattati?
And what are neither dark nor bright deeds with neither dark nor bright results, which lead to the ending of deeds?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa, thế nào là nghiệp không đen không trắng, với quả không đen không trắng, dẫn đến chấm dứt nghiệp?
Tatra, puṇṇa, yamidaṁ kammaṁ kaṇhaṁ kaṇhavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ sukkaṁ sukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā, yamidaṁ kammaṁ kaṇhasukkaṁ kaṇhasukkavipākaṁ tassa pahānāya yā cetanā—
It’s the intention to give up dark deeds with dark results, bright deeds with bright results, and both dark and bright deeds with both dark and bright results.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là ý định từ bỏ nghiệp đen với quả đen, ý định từ bỏ nghiệp trắng với quả trắng, và ý định từ bỏ nghiệp vừa đen vừa trắng với quả vừa đen vừa trắng.
idaṁ vuccati, puṇṇa, kammaṁ akaṇhaṁ asukkaṁ akaṇhaasukkavipākaṁ, kammakkhayāya saṁvattatīti.
These are called neither dark nor bright deeds with neither dark nor bright results, which lead to the ending of deeds.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là nghiệp không đen không trắng, với quả không đen không trắng, dẫn đến chấm dứt nghiệp.
Imāni kho, puṇṇa, cattāri kammāni mayā sayaṁ abhiññā sacchikatvā paveditānī”ti.
These are the four kinds of deeds that I declare, having realized them with my own insight.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa, đó là bốn loại nghiệp mà Ta tuyên thuyết sau khi tự mình trực tiếp biết và chứng ngộ.”
Evaṁ vutte, puṇṇo koliyaputto govatiko bhagavantaṁ etadavoca:
When he had spoken, Puṇṇa the Koliyan said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe vậy, Puṇṇa người Koliya thưa với Đức Phật:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
“Excellent, sir! Excellent! …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời!
Seyyathāpi, bhante …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như người dựng lại vật bị đổ, mở ra điều bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay mang đèn vào bóng tối để người có mắt thấy được các vật, cũng vậy Thế Tôn đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách.
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từ hôm nay cho đến trọn đời, xin Thế Tôn ghi nhận con là một nam cư sĩ đã quy y.”
Acelo pana seniyo kukkuravatiko bhagavantaṁ etadavoca:
And Seniya the naked ascetic said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn Seniya, vị khổ hạnh lõa thể thực hành hạnh con chó, thưa với Đức Phật:
“abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante.
“Excellent, sir! Excellent! …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật tuyệt vời, bạch Thế Tôn! Thật tuyệt vời!
Seyyathāpi, bhante …pe… pakāsito.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như người dựng lại vật bị đổ, mở ra điều bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, hay mang đèn vào bóng tối để người có mắt thấy được các vật, cũng vậy Thế Tôn đã làm sáng tỏ Giáo Pháp bằng nhiều cách.
Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng chúng tỳ-kheo.
Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike pabbajjaṁ, labheyyaṁ upasampadan”ti.
Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, xin cho con được xuất gia và thọ đại giới trong sự hướng dẫn của Thế Tôn.”
“Yo kho, seniya, aññatitthiyapubbo imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhati pabbajjaṁ, ākaṅkhati upasampadaṁ so cattāro māse parivasati. Catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti, upasampādenti bhikkhubhāvāya.
“Seniya, if someone formerly ordained in another sect wishes to take the going forth, the ordination in this teaching and training, they must spend four months on probation. When four months have passed, if the mendicants are satisfied, they’ll give the going forth, the ordination into monkhood.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Seniya, người trước đây thuộc một giáo phái khác, nếu muốn xuất gia và thọ đại giới trong Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng thử thách. Sau bốn tháng, nếu các tỳ-kheo hài lòng, họ sẽ cho người ấy xuất gia và thọ đại giới để trở thành tỳ-kheo.
Api ca mettha puggalavemattatā viditā”ti.
However, I recognize individual differences in this matter.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tuy vậy, Ta biết rằng trong việc này có sự khác biệt giữa từng người.”
“Sace, bhante, aññatitthiyapubbā imasmiṁ dhammavinaye ākaṅkhantā pabbajjaṁ ākaṅkhantā upasampadaṁ te cattāro māse parivasanti catunnaṁ māsānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājenti upasampādenti bhikkhubhāvāya, ahaṁ cattāri vassāni parivasissāmi catunnaṁ vassānaṁ accayena āraddhacittā bhikkhū pabbājentu, upasampādentu bhikkhubhāvāyā”ti.
“Sir, if four months probation are required in such a case, I’ll spend four years on probation. When four years have passed, if the mendicants are satisfied, let them give me the going forth, the ordination into monkhood.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, nếu người từng thuộc giáo phái khác phải sống bốn tháng thử thách trước khi được xuất gia và thọ đại giới, thì con sẽ sống bốn năm. Sau bốn năm, nếu các tỳ-kheo hài lòng, xin các vị cho con xuất gia và thọ đại giới để trở thành tỳ-kheo.”
Alattha kho acelo seniyo kukkuravatiko bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
And the naked ascetic Seniya received the going forth, the ordination in the Buddha’s presence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Seniya, vị khổ hạnh lõa thể thực hành hạnh con chó, đã được xuất gia và thọ đại giới trong sự hướng dẫn của Đức Phật.
Acirūpasampanno kho panāyasmā seniyo eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva—yassatthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti, Tadanuttaraṁ—brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja vihāsi.
Not long after his ordination, Venerable Seniya, living alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute, soon realized the supreme culmination of the spiritual path in this very life. He lived having achieved with his own insight the goal for which gentlemen rightly go forth from the lay life to homelessness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không lâu sau khi thọ đại giới, Tôn giả Seniya sống một mình, tách biệt, không phóng dật, nhiệt tâm và quyết chí. Chẳng bao lâu, ngay trong đời này, vị ấy tự mình trực tiếp biết, chứng ngộ và an trú trong mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà những người con nhà lành chân chính rời gia đình sống không gia đình để hướng đến.
“Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti abbhaññāsi.
He understood: “Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: “Sinh đã tận, đời phạm hạnh đã hoàn thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.”
Aññataro kho panāyasmā seniyo arahataṁ ahosīti.
And Venerable Seniya became one of the perfected.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và Tôn giả Seniya trở thành một vị A-la-hán.
Kukkuravatikasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Hạnh Con Chó kết thúc, bài thứ bảy.