← Kinh Trung Bộ

MN43 · Majjhima Nikāya

Đại Kinh Phương Quảng

Mahāvedallasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Một thời Đức Phật ở gần Sāvatthī, tại rừng Jeta; cuối buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita đến gặp Tôn giả Sāriputta và lần lượt đặt câu hỏi, phần trả lời đều do Sāriputta đảm nhận. Người không có trí là người không hiểu bốn chân lý khổ, nguồn gốc, chấm dứt và con đường; người có trí là người hiểu bốn điều ấy. Thức được gọi vì nhận biết lạc, khổ và không khổ không lạc; trí tuệ và thức hòa lẫn không thể tách riêng, nhưng khác nhau ở chỗ trí tuệ cần được tu tập còn thức cần được hiểu thấu đáo. Thọ được gọi vì cảm nhận ba loại cảm thọ ấy, tưởng vì nhận ra màu xanh, vàng, đỏ, trắng; thọ, tưởng và thức cũng hòa lẫn không tách rời, vì điều được cảm nhận cũng được nhận ra, điều được nhận ra cũng được thức nhận biết.

Tiếp theo, ý thức trong sạch tách khỏi năm căn có thể biết ba xứ vô sắc; pháp có thể biết được hiểu bằng con mắt trí tuệ. Chánh kiến sinh từ hai duyên là nghe lời dạy từ người khác và chú tâm đúng cách; được năm yếu tố giới, học hỏi, thảo luận, an tịnh, minh sát hỗ trợ, chánh kiến đưa đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát. Kinh nêu ba loại hữu và cho biết đời sống mới hình thành khi vô minh che phủ, ái trói buộc, thích thú chỗ này chỗ kia, và không còn khi vô minh phai mất, minh sinh khởi, ái chấm dứt; sơ thiền được định nghĩa với năm yếu tố, đã từ bỏ năm triền cái.

Năm căn nương vào ý, và ý trải nghiệm đối tượng cùng phạm vi của chúng; chúng nương vào mạng sống, mạng sống nương vào hơi ấm và hơi ấm nương vào mạng sống. Mạng sống và hơi ấm không phải là các pháp được cảm nhận, nếu một thì vị nhập diệt thọ tưởng không thể xuất khỏi trạng thái ấy. Người đã chết và vị đang nhập diệt thọ tưởng đều có thân hành, khẩu hành, tâm hành dừng lắng, nhưng người chết thì mạng sống hết, hơi ấm tan, các căn hư hoại, còn vị nhập định thì các căn vẫn trong sáng.

Về vô tướng tâm giải thoát, kinh nêu hai duyên để nhập, ba duyên để duy trì, hai duyên để xuất khỏi. Bốn tâm giải thoát, vô lượng, vô sở hữu, qua tính không và vô tướng, có thể khác nhau cả ý nghĩa lẫn tên gọi, cũng có thể cùng một ý nghĩa chỉ khác tên gọi: tâm giải thoát bất động, trống không với tham, sân, si, được gọi là cao nhất trong từng loại.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 463 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: ef99cc9f-aea4-4bcc-ad95-7eb76771eb17 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 1ece27138b8dd251710a6829c9636fedbfce3b0b27fc03bf0597d7631b3ef2d8

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 463 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 8e9fead6-0952-48a8-910b-e5d6638a41f7 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 1ece27138b8dd251710a6829c9636fedbfce3b0b27fc03bf0597d7631b3ef2d8

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 463 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: fbffb5c2-5ca2-4975-a954-6aef80acac13 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 60a05649c92a4aad5056ec9bb2677670f71bb0a9d6679c12ddea1ddb9c6cb351

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 183 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 27c265be-f876-4e84-be07-b6ba5e7660d4 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 0785cbf201a240b88b6b060f45a36245ef1d3f9b0b77bdce6d5a4e1bf61f1e4c

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 183 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: a3908db7-32db-4435-b0fd-6cc4449e406e · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 0785cbf201a240b88b6b060f45a36245ef1d3f9b0b77bdce6d5a4e1bf61f1e4c

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 183 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 39a66e95-157c-44ca-80c7-cc96a3b1a187 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 9c3b19e32fac34caa40b4c5c27f3fced024e9d99368740eb4abb10e61243b893

2026-09-10 · Scorecard lịch sử · 9.76/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.9
Đúng nghĩa Pāli9.7
Ngữ pháp & logic9.7
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.7
Bất định & trung thực9.8
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

183/183 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

180/183 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

183/183 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 43
Middle Discourses 43
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 43
Mahāvedallasutta
The Great Elaboration
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại Kinh Phương Quảng
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Atha kho āyasmā mahākoṭṭhiko sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṁ sammodi.
Then in the late afternoon, Venerable Mahākoṭṭhita came out of retreat, went to Venerable Sāriputta, and exchanged greetings with him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vào cuối buổi chiều, Tôn giả Mahākoṭṭhita ra khỏi nơi tĩnh cư, đến gặp Tôn giả Sāriputta và trao đổi lời chào hỏi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to Sāriputta:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau những lời xã giao thân thiện, Tôn giả Mahākoṭṭhita ngồi xuống một bên và hỏi Tôn giả Sāriputta:
“‘Duppañño duppañño’ti, āvuso, vuccati.
“Reverend, they speak of ‘a witless person’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, người ta nói ‘người không có trí, người không có trí’.
Kittāvatā nu kho, āvuso, duppaññoti vuccatī”ti?
How is a witless person defined?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do đâu một người được gọi là không có trí?”
“‘Nappajānāti nappajānātī’ti kho, āvuso, tasmā duppaññoti vuccati.
“Reverend, they’re called witless because they don’t understand.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, vì không hiểu, không hiểu, nên được gọi là người không có trí.
Kiñca nappajānāti?
And what don’t they understand?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không hiểu điều gì?
‘Idaṁ dukkhan’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti nappajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti nappajānāti.
They don’t understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không hiểu đúng như thật: ‘Đây là khổ’; ‘đây là nguồn gốc của khổ’; ‘đây là sự chấm dứt khổ’; ‘đây là con đường thực hành đưa đến chấm dứt khổ.’
‘Nappajānāti nappajānātī’ti kho, āvuso, tasmā duppaññoti vuccatī”ti.
They’re called witless because they don’t understand.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì không hiểu, không hiểu, nên được gọi là người không có trí.”
“Sādhāvuso”ti kho āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ uttariṁ pañhaṁ apucchi:
Saying “Good, reverend,” Mahākoṭṭhita approved and agreed with what Sāriputta said. Then he asked another question:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, hiền giả,” Tôn giả Mahākoṭṭhita hoan hỷ và tán đồng lời Tôn giả Sāriputta, rồi hỏi tiếp:
“‘Paññavā paññavā’ti, āvuso, vuccati.
“They speak of ‘a wise person’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, người ta nói ‘người có trí, người có trí’.
Kittāvatā nu kho, āvuso, paññavāti vuccatī”ti?
How is a wise person defined?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do đâu một người được gọi là có trí?”
“‘Pajānāti pajānātī’ti kho, āvuso, tasmā paññavāti vuccati.
“They’re called wise because they understand.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, vì hiểu, hiểu, nên được gọi là người có trí.
Kiñca pajānāti?
And what do they understand?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hiểu điều gì?
‘Idaṁ dukkhan’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti pajānāti.
They understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hiểu đúng như thật: ‘Đây là khổ’; ‘đây là nguồn gốc của khổ’; ‘đây là sự chấm dứt khổ’; ‘đây là con đường thực hành đưa đến chấm dứt khổ.’
‘Pajānāti pajānātī’ti kho, āvuso, tasmā paññavāti vuccatī”ti.
They’re called wise because they understand.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì hiểu, hiểu, nên được gọi là người có trí.”
“‘Viññāṇaṁ viññāṇan’ti, āvuso, vuccati.
“They speak of ‘consciousness’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, người ta nói ‘thức, thức’.
Kittāvatā nu kho, āvuso, viññāṇanti vuccatī”ti?
How is consciousness defined?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do đâu được gọi là thức?”
“‘Vijānāti vijānātī’ti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccati.
“It’s called consciousness because it cognizes.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, vì nhận biết, nhận biết, nên được gọi là thức.
Kiñca vijānāti?
And what does it cognize?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thức nhận biết điều gì?
Sukhantipi vijānāti, dukkhantipi vijānāti, adukkhamasukhantipi vijānāti.
It cognizes ‘pleasure’ and ‘pain’ and ‘neutral’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nó nhận biết lạc, nhận biết khổ và nhận biết không khổ không lạc.
‘Vijānāti vijānātī’ti kho, āvuso, tasmā viññāṇanti vuccatī”ti.
It’s called consciousness because it cognizes.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì nhận biết, nhận biết, nên được gọi là thức.”
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
“Wisdom and consciousness—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, trí tuệ và thức,
ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā?
are these things mixed or separate?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hai pháp này hòa lẫn với nhau hay tách rời nhau?
Labbhā ca panimesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti?
And can we completely disentangle them so as to describe the difference between them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có thể tách riêng từng pháp để chỉ ra sự khác biệt giữa chúng không?”
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
“Wisdom and consciousness—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, trí tuệ và thức,
ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
these things are mixed, not separate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hai pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ.
And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không thể tách riêng chúng để chỉ ra sự khác biệt như hai hiện tượng hoàn toàn biệt lập.
Yaṁ hāvuso, pajānāti taṁ vijānāti, yaṁ vijānāti taṁ pajānāti.
For you understand what you cognize, and you cognize what you understand.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì điều gì người ta hiểu bằng trí tuệ thì cũng được thức nhận biết; điều gì thức nhận biết thì cũng được trí tuệ hiểu.
Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
That’s why these things are mixed, not separate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy hai pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời,
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và không thể tách riêng chúng để chỉ ra sự khác biệt như hai hiện tượng hoàn toàn biệt lập.”
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
“Wisdom and consciousness—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, trí tuệ và thức,
imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
what is the difference between these things that are mixed, not separate?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dù hòa lẫn và không tách rời, chúng khác nhau ở điểm nào?”
“Yā cāvuso, paññā yañca viññāṇaṁ—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, trí tuệ và thức,
imesaṁ dhammānaṁ saṁsaṭṭhānaṁ no visaṁsaṭṭhānaṁ paññā bhāvetabbā, viññāṇaṁ pariññeyyaṁ.
“The difference between these things is that wisdom should be developed, while consciousness should be completely understood.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dù hòa lẫn và không tách rời, khác nhau ở chỗ: trí tuệ cần được tu tập, còn thức cần được hiểu thấu đáo.
Idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là sự khác nhau giữa chúng.”
“‘Vedanā vedanā’ti, āvuso, vuccati.
“They speak of this thing called ‘feeling’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, người ta nói ‘thọ, thọ’.
Kittāvatā nu kho, āvuso, vedanāti vuccatī”ti?
How is feeling defined?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do đâu được gọi là thọ?”
“‘Vedeti vedetī’ti kho, āvuso, tasmā vedanāti vuccati.
“It’s called feeling because it feels.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, vì cảm nhận, cảm nhận, nên được gọi là thọ.
Kiñca vedeti?
And what does it feel?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thọ cảm nhận điều gì?
Sukhampi vedeti, dukkhampi vedeti, adukkhamasukhampi vedeti.
It feels pleasure, pain, and neutral.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cảm nhận lạc, cảm nhận khổ và cảm nhận không khổ không lạc.
‘Vedeti vedetī’ti kho, āvuso, tasmā vedanāti vuccatī”ti.
It’s called feeling because it feels.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì cảm nhận, cảm nhận, nên được gọi là thọ.”
“‘Saññā saññā’ti, āvuso, vuccati.
“They speak of this thing called ‘perception’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, người ta nói ‘tưởng, tưởng’.
Kittāvatā nu kho, āvuso, saññāti vuccatī”ti?
How is perception defined?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do đâu được gọi là tưởng?”
“‘Sañjānāti sañjānātī’ti kho, āvuso, tasmā saññāti vuccati.
“It’s called perception because it perceives.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, vì nhận ra, nhận ra, nên được gọi là tưởng.
Kiñca sañjānāti?
And what does it perceive?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tưởng nhận ra điều gì?
Nīlakampi sañjānāti, pītakampi sañjānāti, lohitakampi sañjānāti, odātampi sañjānāti.
It perceives blue, yellow, red, and white.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhận ra màu xanh, màu vàng, màu đỏ và màu trắng.
‘Sañjānāti sañjānātī’ti kho, āvuso, tasmā saññāti vuccatī”ti.
It’s called perception because it perceives.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì nhận ra, nhận ra, nên được gọi là tưởng.”
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—
“Feeling, perception, and consciousness—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, thọ, tưởng và thức,
ime dhammā saṁsaṭṭhā udāhu visaṁsaṭṭhā?
are these things mixed or separate?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ba pháp này hòa lẫn với nhau hay tách rời nhau?
Labbhā ca panimesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti?
And can we completely disentangle them so as to describe the difference between them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có thể tách riêng từng pháp để chỉ ra sự khác biệt giữa chúng không?”
“Yā cāvuso, vedanā yā ca saññā yañca viññāṇaṁ—
“Feeling, perception, and consciousness—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, thọ, tưởng và thức,
ime dhammā saṁsaṭṭhā, no visaṁsaṭṭhā.
these things are mixed, not separate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ba pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời.
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetuṁ.
And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không thể tách riêng chúng để chỉ ra sự khác biệt như ba hiện tượng hoàn toàn biệt lập.
Yaṁ hāvuso, vedeti taṁ sañjānāti, yaṁ sañjānāti taṁ vijānāti.
For you perceive what you feel, and you cognize what you perceive.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì điều gì được cảm nhận thì cũng được nhận ra; điều gì được nhận ra thì cũng được thức nhận biết.
Tasmā ime dhammā saṁsaṭṭhā no visaṁsaṭṭhā.
That’s why these things are mixed, not separate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy ba pháp này hòa lẫn với nhau, không tách rời,
Na ca labbhā imesaṁ dhammānaṁ vinibbhujitvā vinibbhujitvā nānākaraṇaṁ paññāpetun”ti.
And you can never completely disentangle them so as to describe the difference between them.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và không thể tách riêng chúng để chỉ ra sự khác biệt như ba hiện tượng hoàn toàn biệt lập.”
“Nissaṭṭhena hāvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena kiṁ neyyan”ti?
“What can be known by purified mind consciousness released from the five senses?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, khi ý thức đã trong sạch và tách khỏi năm căn, nó có thể biết điều gì?”
“Nissaṭṭhena, āvuso, pañcahi indriyehi parisuddhena manoviññāṇena ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ neyyaṁ, ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ neyyan”ti.
“Aware that ‘space is infinite’ it can know the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’ it can know the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’ it can know the dimension of nothingness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, ý thức trong sạch tách khỏi năm căn có thể biết Không Vô Biên Xứ qua nhận biết ‘không gian là vô biên’; biết Thức Vô Biên Xứ qua nhận biết ‘thức là vô biên’; và biết Vô Sở Hữu Xứ qua nhận biết ‘không có gì cả’.”
“Neyyaṁ panāvuso, dhammaṁ kena pajānātī”ti?
“How do you understand something that can be known?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, một pháp có thể được biết thì được hiểu bằng gì?”
“Neyyaṁ kho, āvuso, dhammaṁ paññācakkhunā pajānātī”ti.
“You understand something that can be known with the eye of wisdom.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, pháp có thể được biết được hiểu bằng con mắt trí tuệ.”
“Paññā panāvuso, kimatthiyā”ti?
“What is the goal of wisdom?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, trí tuệ có mục đích gì?”
“Paññā kho, āvuso, abhiññatthā pariññatthā pahānatthā”ti.
“The goal of wisdom is direct knowledge, complete understanding, and giving up.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, trí tuệ có mục đích trực tiếp biết, hiểu thấu đáo và từ bỏ.”
“Kati panāvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti?
“How many conditions are there for the arising of right view?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có bao nhiêu duyên làm chánh kiến sinh khởi?”
“Dve kho, āvuso, paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāya—
“There are two conditions for the arising of right view:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có hai duyên làm chánh kiến sinh khởi:
parato ca ghoso, yoniso ca manasikāro.
the voice of another and rational application of mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nghe lời dạy từ người khác và chú tâm đúng cách.
Ime kho, āvuso, dve paccayā sammādiṭṭhiyā uppādāyā”ti.
These are the two conditions for the arising of right view.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là hai duyên làm chánh kiến sinh khởi.”
“Katihi panāvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti?
“When right view is supported by how many factors does it have freedom of heart and freedom by wisdom as its fruit and benefit?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, khi được hỗ trợ bởi bao nhiêu yếu tố, chánh kiến đưa đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát như quả và lợi ích?”
“Pañcahi kho, āvuso, aṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā ca.
“When right view is supported by five factors it has freedom of heart and freedom by wisdom as its fruit and benefit.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, khi được hỗ trợ bởi năm yếu tố, chánh kiến đưa đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát như quả và lợi ích.
Idhāvuso, sammādiṭṭhi sīlānuggahitā ca hoti, sutānuggahitā ca hoti, sākacchānuggahitā ca hoti, samathānuggahitā ca hoti, vipassanānuggahitā ca hoti.
It’s when right view is supported by ethics, learning, discussion, serenity, and discernment.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chánh kiến được hỗ trợ bởi giới, học hỏi, thảo luận, an tịnh và minh sát.
Imehi kho, āvuso, pañcahaṅgehi anuggahitā sammādiṭṭhi cetovimuttiphalā ca hoti cetovimuttiphalānisaṁsā ca, paññāvimuttiphalā ca hoti paññāvimuttiphalānisaṁsā cā”ti.
When right view is supported by these five factors it has freedom of heart and freedom by wisdom as its fruit and benefit.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được hỗ trợ bởi năm yếu tố này, chánh kiến đưa đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát như quả và lợi ích.”
“Kati panāvuso, bhavā”ti?
“How many states of existence are there?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có bao nhiêu loại hữu?”
“Tayome, āvuso, bhavā—
“Reverend, there are these three states of existence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có ba loại hữu:
kāmabhavo, rūpabhavo, arūpabhavo”ti.
Existence in the sensual realm, the realm of luminous form, and the formless realm.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.”
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti?
“But how is there regeneration into a new state of existence in the future?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, sự hình thành một đời sống mới trong tương lai xảy ra thế nào?”
“Avijjānīvaraṇānaṁ kho, āvuso, sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ tatratatrābhinandanā—
“It’s because of sentient beings—shrouded by ignorance and fettered by craving—taking pleasure wherever they land.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, khi hữu tình bị vô minh che phủ, bị ái trói buộc và thích thú chỗ này chỗ kia,
evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti hotī”ti.
That’s how there is regeneration into a new state of existence in the future.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì sự hình thành một đời sống mới trong tương lai xảy ra như vậy.”
“Kathaṁ panāvuso, āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti?
“But how is there no regeneration into a new state of existence in the future?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, thế nào thì không còn sự hình thành một đời sống mới trong tương lai?”
“Avijjāvirāgā kho, āvuso, vijjuppādā taṇhānirodhā—
“It’s when ignorance fades away, knowledge arises, and craving ceases.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, khi vô minh phai mất, minh sinh khởi và ái chấm dứt,
evaṁ āyatiṁ punabbhavābhinibbatti na hotī”ti.
That’s how there is no regeneration into a new state of existence in the future.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì không còn sự hình thành một đời sống mới trong tương lai.”
“Katamaṁ panāvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti?
“But what, reverend, is the first absorption?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, sơ thiền là gì?”
“Idhāvuso, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati—
“Reverend, it’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, một vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, nhập và an trú sơ thiền, có tầm, có tứ, có hỷ lạc do ly dục sinh.
idaṁ vuccati, āvuso, paṭhamaṁ jhānan”ti.
This is called the first absorption.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó được gọi là sơ thiền.”
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ katiaṅgikan”ti?
“But how many factors does the first absorption have?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, sơ thiền có bao nhiêu yếu tố?”
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgikaṁ.
“The first absorption has five factors.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, sơ thiền có năm yếu tố.
Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca.
When a mendicant has entered the first absorption, placing the mind, keeping it connected, rapture, bliss, and unification of mind are present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi một vị tỳ-kheo nhập sơ thiền, có tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm.
Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgikan”ti.
That’s how the first absorption has five factors.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy sơ thiền có năm yếu tố.”
“Paṭhamaṁ panāvuso, jhānaṁ kataṅgavippahīnaṁ kataṅgasamannāgatan”ti?
“But how many factors has the first absorption given up and how many does it possess?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, sơ thiền đã từ bỏ bao nhiêu yếu tố và có đủ bao nhiêu yếu tố?”
“Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ, pañcaṅgasamannāgataṁ.
“The first absorption has given up five factors and possesses five factors.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, sơ thiền đã từ bỏ năm yếu tố và có đủ năm yếu tố.
Idhāvuso, paṭhamaṁ jhānaṁ samāpannassa bhikkhuno kāmacchando pahīno hoti, byāpādo pahīno hoti, thinamiddhaṁ pahīnaṁ hoti, uddhaccakukkuccaṁ pahīnaṁ hoti, vicikicchā pahīnā hoti;
When a mendicant has entered the first absorption, sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt are given up.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi một vị tỳ-kheo nhập sơ thiền, dục tham, sân, hôn trầm-thụy miên, trạo cử-hối hận và nghi đã được từ bỏ;
vitakko ca vattati, vicāro ca pīti ca sukhañca cittekaggatā ca.
Placing the mind, keeping it connected, rapture, bliss, and unification of mind are present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
còn tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm hiện diện.
Paṭhamaṁ kho, āvuso, jhānaṁ evaṁ pañcaṅgavippahīnaṁ pañcaṅgasamannāgatan”ti.
That’s how the first absorption has given up five factors and possesses five factors.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy sơ thiền đã từ bỏ năm yếu tố và có đủ năm yếu tố.”
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—
“Reverend, these five faculties have different domains and different ranges, and don’t experience each other’s domain and range. That is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, năm căn này có đối tượng và phạm vi khác nhau, không trải nghiệm đối tượng và phạm vi của nhau, đó là:
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
the faculties of the eye, ear, nose, tongue, and body.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, kiṁ paṭisaraṇaṁ, ko ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti?
What do these five faculties, with their different domains and ranges, have recourse to? What experiences their domains and ranges?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm căn có đối tượng và phạm vi khác nhau ấy nương vào đâu? Và cái gì trải nghiệm đối tượng cùng phạm vi của chúng?”
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti, seyyathidaṁ—
“Reverend, these five faculties have different domains and different ranges, and don’t experience each other’s domain and range. That is,bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, năm căn này có đối tượng và phạm vi khác nhau, không trải nghiệm đối tượng và phạm vi của nhau, đó là:
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
the faculties of the eye, ear, nose, tongue, and body.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Imesaṁ kho, āvuso, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ, mano paṭisaraṇaṁ, mano ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti.
“These five faculties, with their different domains and ranges, have recourse to the mind. And the mind experiences their domains and ranges.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm căn ấy nương vào ý; và ý trải nghiệm đối tượng cùng phạm vi của chúng.”
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—
“Reverend, these five faculties, that is,bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, năm căn này là:
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
the faculties of the eye, ear, nose, tongue, and body.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni kiṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti?
“These five faculties depend on what to continue?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm căn này nương vào gì để tồn tại?”
“Pañcimāni, āvuso, indriyāni, seyyathidaṁ—
“Reverend, these five faculties, that is,bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, năm căn này là:
cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
the faculties of the eye, ear, nose, tongue, and body.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Imāni kho, āvuso, pañcindriyāni āyuṁ paṭicca tiṭṭhantī”ti.
“These five faculties depend on vitality to continue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm căn này nương vào mạng sống để tồn tại.”
“Āyu panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“But what does vitality depend on to continue?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, mạng sống nương vào gì để tồn tại?”
“Āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Vitality depends on warmth to continue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Mạng sống nương vào hơi ấm để tồn tại.”
“Usmā panāvuso, kiṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti?
“But what does warmth depend on to continue?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Hơi ấm nương vào gì để tồn tại?”
“Usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
“Warmth depends on vitality to continue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Hơi ấm nương vào mạng sống để tồn tại.”
“Idāneva kho mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
“Just now I understood you to say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, vừa rồi chúng tôi hiểu lời Tôn giả Sāriputta rằng:
‘āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti.
‘Vitality depends on warmth to continue.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Mạng sống nương vào hơi ấm để tồn tại.’
Idāneva pana mayaṁ, āvuso, āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ evaṁ ājānāma:
But I also understood you to say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng ngay sau đó chúng tôi lại hiểu lời Tôn giả Sāriputta rằng:
‘usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī’ti.
‘Warmth depends on vitality to continue.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hơi ấm nương vào mạng sống để tồn tại.’
Yathā kathaṁ panāvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
How then should we see the meaning of this statement?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy phải hiểu ý nghĩa của lời này như thế nào?”
“Tena hāvuso, upamaṁ te karissāmi;
“Well then, reverend, I shall give you a simile.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, Ta sẽ cho một ví dụ;
upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vì nhờ ví dụ, một số người có trí hiểu được ý nghĩa điều được nói.
Seyyathāpi, āvuso, telappadīpassa jhāyato acciṁ paṭicca ābhā paññāyati, ābhaṁ paṭicca acci paññāyati;
Suppose there was an oil lamp burning. The luminosity appears dependent on the flame, and the flame appears dependent on the luminosity.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ví như một ngọn đèn dầu đang cháy: ánh sáng hiện ra nương vào ngọn lửa, và ngọn lửa hiện ra nương vào ánh sáng.
evameva kho, āvuso, āyu usmaṁ paṭicca tiṭṭhati, usmā āyuṁ paṭicca tiṭṭhatī”ti.
In the same way, vitality depends on warmth to continue, and warmth depends on vitality to continue.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, mạng sống nương vào hơi ấm để tồn tại, và hơi ấm nương vào mạng sống để tồn tại.”
“Teva nu kho, āvuso, āyusaṅkhārā, te vedaniyā dhammā udāhu aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā”ti?
“Are the vital forces and the phenomena that are felt one and the same? Or are the vital forces one thing, and the phenomena that are felt another?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, các yếu tố duy trì mạng sống và các pháp được cảm nhận là cùng một thứ, hay các yếu tố duy trì mạng sống là một thứ còn các pháp được cảm nhận là thứ khác?”
“Na kho, āvuso, teva āyusaṅkhārā te vedaniyā dhammā.
“The vital forces are not the same things as the phenomena that are felt.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, các yếu tố duy trì mạng sống không phải chính là các pháp được cảm nhận.
Te ca hāvuso, āyusaṅkhārā abhaviṁsu te vedaniyā dhammā, na yidaṁ saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyetha.
For if the vital forces and the phenomena that are felt were the same things, a mendicant who had attained the cessation of perception and feeling would not emerge from it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu chúng là một, thì một vị tỳ-kheo nhập diệt thọ tưởng sẽ không thể xuất khỏi trạng thái ấy.
Yasmā ca kho, āvuso, aññe āyusaṅkhārā aññe vedaniyā dhammā, tasmā saññāvedayitanirodhaṁ samāpannassa bhikkhuno vuṭṭhānaṁ paññāyatī”ti.
But because the vital forces and the phenomena that are felt are different things, a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling can emerge from it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính vì các yếu tố duy trì mạng sống là một thứ và các pháp được cảm nhận là thứ khác, nên một vị tỳ-kheo nhập diệt thọ tưởng có thể xuất khỏi trạng thái ấy.”
“Yadā nu kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ kati dhammā jahanti; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti?
“How many things must this body lose before it lies abandoned, tossed aside like an insentient log?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, khi bao nhiêu pháp rời khỏi thân này thì thân bị bỏ lại, nằm vô tri như khúc gỗ?”
“Yadā kho, āvuso, imaṁ kāyaṁ tayo dhammā jahanti—āyu usmā ca viññāṇaṁ; athāyaṁ kāyo ujjhito avakkhitto seti, yathā kaṭṭhaṁ acetanan”ti.
“This body must lose three things before it lies abandoned, tossed aside like an insentient log: vitality, warmth, and consciousness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, khi ba pháp rời khỏi thân này, mạng sống, hơi ấm và thức, thì thân bị bỏ lại, nằm vô tri như khúc gỗ.”
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—imesaṁ kiṁ nānākaraṇan”ti?
“What’s the difference between someone who has passed away and a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, người đã chết và một vị tỳ-kheo đang nhập diệt thọ tưởng khác nhau thế nào?”
“Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato tassa kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu parikkhīṇo, usmā vūpasantā, indriyāni paribhinnāni.
“When someone dies, their physical, verbal, and mental processes have ceased and stilled; their vitality is spent; their warmth is dissipated; and their faculties have disintegrated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ở người đã chết, thân hành đã dừng và lắng, khẩu hành đã dừng và lắng, tâm hành đã dừng và lắng; mạng sống đã hết, hơi ấm đã tan và các căn đã hư hoại.
Yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno tassapi kāyasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, vacīsaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, cittasaṅkhārā niruddhā paṭippassaddhā, āyu na parikkhīṇo, usmā avūpasantā, indriyāni vippasannāni.
When a mendicant has attained the cessation of perception and feeling, their physical, verbal, and mental processes have ceased and stilled. But their vitality is not spent; their warmth is not dissipated; and their faculties are very clear.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở vị tỳ-kheo đang nhập diệt thọ tưởng, thân hành cũng đã dừng và lắng, khẩu hành đã dừng và lắng, tâm hành đã dừng và lắng; nhưng mạng sống chưa hết, hơi ấm chưa tan và các căn vẫn trong sáng.
Yvāyaṁ, āvuso, mato kālaṅkato, yo cāyaṁ bhikkhu saññāvedayitanirodhaṁ samāpanno—idaṁ nesaṁ nānākaraṇan”ti.
That’s the difference between someone who has passed away and a mendicant who has attained the cessation of perception and feeling.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là sự khác nhau giữa người đã chết và vị tỳ-kheo đang nhập diệt thọ tưởng.”
“Kati panāvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“How many conditions are necessary to attain the neutral release of the heart?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để nhập tâm giải thoát không khổ không lạc?”
“Cattāro kho, āvuso, paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā.
“Four conditions are necessary to attain the neutral release of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có bốn duyên để nhập tâm giải thoát không khổ không lạc.
Idhāvuso, bhikkhu sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṁ atthaṅgamā adukkhamasukhaṁ upekkhāsatipārisuddhiṁ catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
With the giving up of pleasure and pain and the disappearance of former happiness and sadness, a mendicant enters and remains in the fourth absorption, without pleasure or pain, with pure equanimity and mindfulness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vị tỳ-kheo từ bỏ lạc và khổ; hỷ và ưu trước đó đã lắng xuống; vị ấy nhập và an trú tứ thiền, không khổ không lạc, có niệm thanh tịnh nhờ xả.
Ime kho, āvuso, cattāro paccayā adukkhamasukhāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
These four conditions are necessary to attain the neutral release of the heart.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là bốn duyên để nhập tâm giải thoát không khổ không lạc.”
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti?
“How many conditions are necessary to attain the signless release of the heart?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để nhập vô tướng tâm giải thoát?”
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā—
“Two conditions are necessary to attain the signless release of the heart:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có hai duyên để nhập vô tướng tâm giải thoát:
sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro.
not focusing on any signs, and focusing on the signless.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không chú tâm đến mọi tướng và chú tâm đến yếu tố vô tướng.
Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā samāpattiyā”ti.
These two conditions are necessary to attain the signless release of the heart.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là hai duyên để nhập vô tướng tâm giải thoát.”
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti?
“How many conditions are necessary to remain in the signless release of the heart?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để duy trì vô tướng tâm giải thoát?”
“Tayo kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā—
“Three conditions are necessary to remain in the signless release of the heart:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có ba duyên để duy trì vô tướng tâm giải thoát:
sabbanimittānañca amanasikāro, animittāya ca dhātuyā manasikāro, pubbe ca abhisaṅkhāro.
not focusing on any signs, focusing on the signless, and a previous determination.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không chú tâm đến mọi tướng, chú tâm đến yếu tố vô tướng, và đã có sự quyết định trước đó.
Ime kho, āvuso, tayo paccayā animittāya cetovimuttiyā ṭhitiyā”ti.
These three conditions are necessary to remain in the signless release of the heart.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là ba duyên để duy trì vô tướng tâm giải thoát.”
“Kati panāvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti?
“How many conditions are necessary to emerge from the signless release of the heart?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khỏi vô tướng tâm giải thoát?”
“Dve kho, āvuso, paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāya—
“Two conditions are necessary to emerge from the signless release of the heart:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có hai duyên để xuất khỏi vô tướng tâm giải thoát:
sabbanimittānañca manasikāro, animittāya ca dhātuyā amanasikāro.
focusing on all signs, and not focusing on the signless.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chú tâm đến mọi tướng và không chú tâm đến yếu tố vô tướng.
Ime kho, āvuso, dve paccayā animittāya cetovimuttiyā vuṭṭhānāyā”ti.
These two conditions are necessary to emerge from the signless release of the heart.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là hai duyên để xuất khỏi vô tướng tâm giải thoát.”
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
“The limitless release of the heart, and the release of the heart through nothingness, and the release of the heart through emptiness, and the signless release of the heart: do these things differ in both meaning and phrasing? Or do they mean the same thing, and differ only in the phrasing?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, tâm giải thoát qua tính không và vô tướng tâm giải thoát: các pháp này khác nhau cả về ý nghĩa lẫn tên gọi, hay cùng một ý nghĩa và chỉ khác tên gọi?”
“Yā cāyaṁ, āvuso, appamāṇā cetovimutti, yā ca ākiñcaññā cetovimutti, yā ca suññatā cetovimutti, yā ca animittā cetovimutti—atthi kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca;
“There is a way in which these things differ in both meaning and phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này hiền giả, có một cách nhìn theo đó các pháp này khác nhau cả về ý nghĩa lẫn tên gọi;
atthi ca kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā, byañjanameva nānaṁ.
But there’s also a way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và cũng có một cách nhìn theo đó chúng cùng một ý nghĩa, chỉ khác tên gọi.
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca?
And what’s the way in which these things differ in both meaning and phrasing?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là cách nhìn theo đó chúng khác nhau cả về ý nghĩa lẫn tên gọi?
Idhāvuso, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Firstly, a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, một vị tỳ-kheo an trú, tỏa tâm từ đến một phương, rồi phương thứ hai, thứ ba và thứ tư; cũng vậy phía trên, phía dưới, ngang khắp, mọi nơi, vị ấy tỏa tâm từ rộng lớn, cao cả, vô lượng, không hận, không sân đến toàn thế giới.
Karuṇāsahagatena cetasā …pe…
They meditate spreading a heart full of compassion …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tỏa tâm bi như vậy …
muditāsahagatena cetasā …
They meditate spreading a heart full of rejoicing …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tỏa tâm hỷ như vậy …
upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ upekkhāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
They meditate spreading a heart full of equanimity to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of equanimity to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
rồi tỏa tâm xả đến một phương, phương thứ hai, thứ ba và thứ tư; cũng vậy phía trên, phía dưới, ngang khắp, mọi nơi, vị ấy tỏa tâm xả rộng lớn, cao cả, vô lượng, không hận, không sân đến toàn thế giới.
Ayaṁ vuccatāvuso, appamāṇā cetovimutti.
This is called the limitless release of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là vô lượng tâm giải thoát.
Katamā cāvuso, ākiñcaññā cetovimutti?
And what is the release of the heart through nothingness?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát?
Idhāvuso, bhikkhu sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, enters and remains in the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vị tỳ-kheo vượt hoàn toàn Thức Vô Biên Xứ, nhận biết ‘không có gì cả’, rồi nhập và an trú Vô Sở Hữu Xứ.
Ayaṁ vuccatāvuso, ākiñcaññā cetovimutti.
This is called the heart’s release through nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là vô sở hữu tâm giải thoát.
Katamā cāvuso, suññatā cetovimutti?
And what is the release of the heart through emptiness?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là tâm giải thoát qua tính không?
Idhāvuso, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
It’s when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vị tỳ-kheo đi đến rừng, gốc cây hay một căn nhà trống và suy xét:
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
‘This is empty of a self or what belongs to a self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nơi này trống không đối với tự ngã hay cái thuộc về tự ngã.’
Ayaṁ vuccatāvuso, suññatā cetovimutti.
This is called the release of the heart through emptiness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là tâm giải thoát qua tính không.
Katamā cāvuso, animittā cetovimutti?
And what is the signless release of the heart?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là vô tướng tâm giải thoát?
Idhāvuso, bhikkhu sabbanimittānaṁ amanasikārā animittaṁ cetosamādhiṁ upasampajja viharati.
It’s when a mendicant, not focusing on any signs, enters and remains in the signless immersion of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, vị tỳ-kheo không chú tâm đến mọi tướng, nhập và an trú định tâm vô tướng.
Ayaṁ vuccatāvuso, animittā cetovimutti.
This is called the signless release of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi là vô tướng tâm giải thoát.
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā nānātthā ceva nānābyañjanā ca.
This is the way in which these things differ in both meaning and phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là cách nhìn theo đó các pháp này khác nhau cả về ý nghĩa lẫn tên gọi.
Katamo cāvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānaṁ?
And what’s the way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn thế nào là cách nhìn theo đó chúng cùng một ý nghĩa, chỉ khác tên gọi?
Rāgo kho, āvuso, pamāṇakaraṇo, doso pamāṇakaraṇo, moho pamāṇakaraṇo.
Greed, hate, and delusion are makers of limits.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này hiền giả, tham tạo ra giới hạn, sân tạo ra giới hạn, si tạo ra giới hạn.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở vị tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, chúng đã được từ bỏ, cắt tận gốc, làm như gốc cây cọ bị chặt ngọn, khiến không còn hiện hữu và không thể sinh lại trong tương lai.
Yāvatā kho, āvuso, appamāṇā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
The unshakable release of the heart is said to be the best kind of limitless release of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong tất cả các vô lượng tâm giải thoát, tâm giải thoát bất động được gọi là cao nhất.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm giải thoát bất động ấy trống không đối với tham, trống không đối với sân, trống không đối với si.
Rāgo kho, āvuso, kiñcano, doso kiñcano, moho kiñcano.
Greed is something, hate is something, and delusion is something.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này hiền giả, tham, sân và si là những sự vướng mắc (`kiñcana`).
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở vị tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, chúng đã được từ bỏ, cắt tận gốc, làm như gốc cây cọ bị chặt ngọn, khiến không còn hiện hữu và không thể sinh lại trong tương lai.
Yāvatā kho, āvuso, ākiñcaññā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
The unshakable release of the heart is said to be the best kind of release of the heart through nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong tất cả các vô sở hữu tâm giải thoát, tâm giải thoát bất động được gọi là cao nhất.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm giải thoát bất động ấy trống không đối với tham, trống không đối với sân, trống không đối với si.
Rāgo kho, āvuso, nimittakaraṇo, doso nimittakaraṇo, moho nimittakaraṇo.
Greed, hate, and delusion are makers of signs.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này hiền giả, tham tạo ra tướng, sân tạo ra tướng, si tạo ra tướng.
Te khīṇāsavassa bhikkhuno pahīnā ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
A mendicant who has ended the defilements has given these up, cut them off at the root, made them like a palm stump, and obliterated them, so they are unable to arise in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở vị tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, chúng đã được từ bỏ, cắt tận gốc, làm như gốc cây cọ bị chặt ngọn, khiến không còn hiện hữu và không thể sinh lại trong tương lai.
Yāvatā kho, āvuso, animittā cetovimuttiyo, akuppā tāsaṁ cetovimutti aggamakkhāyati.
The unshakable release of the heart is said to be the best kind of signless release of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong tất cả các vô tướng tâm giải thoát, tâm giải thoát bất động được gọi là cao nhất.
Sā kho panākuppā cetovimutti suññā rāgena, suññā dosena, suññā mohena.
That unshakable release of the heart is empty of greed, hate, and delusion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm giải thoát bất động ấy trống không đối với tham, trống không đối với sân, trống không đối với si.
Ayaṁ kho, āvuso, pariyāyo yaṁ pariyāyaṁ āgamma ime dhammā ekatthā byañjanameva nānan”ti.
This is the way in which they mean the same thing, and differ only in the phrasing.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là cách nhìn theo đó các pháp này cùng một ý nghĩa, chỉ khác tên gọi.”
Idamavocāyasmā sāriputto.
That is what Venerable Sāriputta said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Sāriputta đã nói như vậy.
Attamano āyasmā mahākoṭṭhiko āyasmato sāriputtassa bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Mahākoṭṭhita approved what Sāriputta said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Mahākoṭṭhita hoan hỷ và tán đồng lời Tôn giả Sāriputta.
Mahāvedallasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đại Kinh Phương Quảng kết thúc, bài thứ ba.