← Kinh Trung Bộ

MN37 · Majjhima Nikāya

Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái

Cūḷataṇhāsaṅkhayasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Tại Đông Viên ở Sāvatthī, Sakka, vua chư thiên, đến hỏi Đức Phật một câu ngắn gọn: đến mức nào một vị tỳ-kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt cứu cánh tối hậu, an ổn tối hậu khỏi mọi trói buộc, và là bậc cao quý nhất giữa chư thiên và loài người. Đây là Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái.

Đức Phật trả lời: tỳ-kheo đã nghe rằng tất cả các pháp đều không đáng để chấp thủ, trực tiếp biết và hiểu thấu tất cả các pháp; bất cứ cảm thọ nào vị ấy cảm nhận, dễ chịu, đau khổ hay không khổ không lạc, vị ấy an trú quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt và quán xả bỏ đối với các cảm thọ ấy. An trú quán như vậy, vị ấy không chấp thủ bất cứ điều gì trong đời; không chấp thủ thì không dao động, không dao động thì tự mình tịch diệt, và biết rằng sinh đã tận, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này. Sakka hoan hỷ, đảnh lễ và biến mất ngay tại chỗ.

Tôn giả Mahāmoggallāna ngồi gần đó tự hỏi vị thiên ấy có thật sự hiểu lời Phật rồi mới tán đồng không, rồi nhanh như co duỗi cánh tay, Tôn giả đến cõi Ba Mươi Ba, lúc ấy Sakka đang vui chơi trong vườn Một Hoa Sen với năm trăm nhạc khí trời. Tôn giả xin Sakka kể lại lời Đức Phật; Sakka nói mình có nhiều công việc, nhắc trận chiến vừa thắng a-tu-la, và mời Tôn giả xem cung điện Vejayanta mới xây với một trăm tháp, mỗi tháp có bảy trăm phòng; các nữ hầu thấy Tôn giả thì biết hổ thẹn, đi vào phòng riêng như người con dâu gặp cha chồng.

Thấy vị thiên đang sống quá phóng dật, Tôn giả dùng ngón chân cái làm cung điện rung chuyển dữ dội, khiến Sakka cùng chư thiên cõi Ba Mươi Ba kinh ngạc; rồi Tôn giả hỏi lại câu cũ. Sakka kể lại trọn lời Đức Phật dạy, y như câu trả lời ban đầu. Tôn giả biến mất về Đông Viên; các nữ hầu hỏi có phải đó là Đức Phật, Sakka đáp đó chỉ là vị đồng phạm hạnh, và bảo rằng Đức Phật hẳn còn phi thường hơn nữa.

Tôn giả trình lại với Đức Phật, và Đức Phật xác nhận đã trả lời Sakka như vậy. Câu trả lời được nhắc lại với cùng một chuỗi: tất cả các pháp không đáng để chấp thủ, quán các cảm thọ là vô thường, ly tham, đoạn diệt, xả bỏ, rồi không chấp thủ, không dao động và tự mình tịch diệt.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 462 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: a1a57136-fb0a-4556-991f-696d8ec6fdff · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4c18a71e75e73143493a9ad67f61ea19adba2f1069793e3f2cbc433ed7538cb9

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 462 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: ca05c536-105d-462a-bb9d-e654f703021e · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4c18a71e75e73143493a9ad67f61ea19adba2f1069793e3f2cbc433ed7538cb9

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 110 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 3a251d97-1c32-4735-a147-e608dc72ebef · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 1354c51fe5bcaa1d09811a6711c3aaf05414a3345138df2c0ec9515e73221c5e

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 110 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: ffb60d3b-c274-4766-a455-a6d58d726b48 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 1354c51fe5bcaa1d09811a6711c3aaf05414a3345138df2c0ec9515e73221c5e

2026-09-10 · Scorecard lịch sử · 9.72/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.7
Ngữ pháp & logic9.7
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.7
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

110/110 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

94/110 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

110/110 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 37
Middle Discourses 37
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 37
Cūḷataṇhāsaṅkhayasutta
The Shorter Discourse on the Ending of Craving
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại Đông Viên, trong lâu đài của mẹ Migāra.
Atha kho sakko devānamindo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho sakko devānamindo bhagavantaṁ etadavoca:
And then Sakka, lord of gods, went up to the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy, Sakka, vua chư thiên, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi đứng sang một bên và thưa:
“kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti?
“Sir, how do you briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, nói một cách ngắn gọn, đến mức nào một vị tỳ-kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt cứu cánh tối hậu, an ổn tối hậu khỏi mọi trói buộc, đời sống phạm hạnh tối hậu, mục tiêu tối hậu, và là bậc cao quý nhất giữa chư thiên và loài người?”
“Idha, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti:
“Lord of gods, take a mendicant who has heard:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thiên chủ, ở đây một vị tỳ-kheo đã được nghe rằng:
‘sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā’ti.
‘Nothing is worth insisting on.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tất cả các pháp đều không đáng để chấp thủ.’
Evañcetaṁ, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti:
When a mendicant has heard that
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi vị tỳ-kheo đã được nghe rằng
‘sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā’ti.
nothing is worth insisting on,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘tất cả các pháp đều không đáng để chấp thủ’,
So sabbaṁ dhammaṁ abhijānāti; sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya sabbaṁ dhammaṁ parijānāti; sabbaṁ dhammaṁ pariññāya yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti—
they directly know all things. Directly knowing all things, they completely understand all things. Completely understanding all things, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy trực tiếp biết tất cả các pháp; sau khi trực tiếp biết, vị ấy hiểu thấu tất cả các pháp. Khi đã hiểu thấu, bất cứ cảm thọ nào vị ấy cảm nhận—
sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā, so tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati.
they meditate observing impermanence, dispassion, cessation, and letting go in those feelings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dễ chịu, đau khổ hay không khổ không lạc—vị ấy an trú quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt và quán xả bỏ đối với các cảm thọ ấy.
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto, virāgānupassī viharanto, nirodhānupassī viharanto, paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati.
Meditating in this way, they don’t grasp at anything in the world.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi an trú quán như vậy đối với các cảm thọ, vị ấy không chấp thủ bất cứ điều gì trong đời.
Anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati:
Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không chấp thủ, vị ấy không dao động; không dao động, vị ấy tự mình tịch diệt.
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Sinh đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; việc cần làm đã làm; không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’
Ettāvatā kho, devānaminda, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan”ti.
That’s how I briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thiên chủ, nói một cách ngắn gọn, đến mức ấy một vị tỳ-kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt cứu cánh tối hậu, an ổn tối hậu khỏi mọi trói buộc, đời sống phạm hạnh tối hậu, mục tiêu tối hậu, và là bậc cao quý nhất giữa chư thiên và loài người.”
Atha kho sakko devānamindo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā tatthevantaradhāyi.
Then Sakka, lord of gods, having approved and agreed with what the Buddha said, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before vanishing right there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sakka hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật, đảnh lễ, đi nhiễu bên phải Ngài rồi biến mất ngay tại chỗ.
Tena kho pana samayena āyasmā mahāmoggallāno bhagavato avidūre nisinno hoti.
Now at that time Venerable Mahāmoggallāna was sitting not far from the Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna đang ngồi không xa Đức Phật.
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi:
He thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả nghĩ:
“kiṁ nu kho so yakkho bhagavato bhāsitaṁ abhisamecca anumodi udāhu no;
“Did that spirit comprehend what the Buddha said when he agreed with him, or not?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không biết vị thiên ấy thật sự hiểu lời Đức Phật rồi mới tán đồng, hay chưa hiểu?
yannūnāhaṁ taṁ yakkhaṁ jāneyyaṁ—
Why don’t I find out?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hay là ta tìm hiểu xem
yadi vā so yakkho bhagavato bhāsitaṁ abhisamecca anumodi yadi vā no”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy đã thật sự hiểu lời Đức Phật khi tán đồng hay chưa?”
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—pubbārāme migāramātupāsāde antarahito devesu tāvatiṁsesu pāturahosi.
And then Venerable Mahāmoggallāna, as easily as a strong person would extend or contract their arm, vanished from the Eastern Monastery and reappeared among the gods of the thirty-three.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi nhanh như một người khỏe co cánh tay đang duỗi hay duỗi cánh tay đang co, Tôn giả Mahāmoggallāna biến mất khỏi Đông Viên và xuất hiện giữa chư thiên cõi Ba Mươi Ba.
Tena kho pana samayena sakko devānamindo ekapuṇḍarīke uyyāne dibbehi pañcahi tūriyasatehi samappito samaṅgībhūto paricāreti.
Now at that time Sakka was amusing himself in the Single Lotus Park, supplied and provided with a heavenly orchestra.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc ấy Sakka đang vui chơi trong vườn Một Hoa Sen, được vây quanh bởi năm trăm nhạc khí trời.
Addasā kho sakko devānamindo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Seeing Mahāmoggallāna coming off in the distance,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sakka từ xa thấy Tôn giả Mahāmoggallāna đi đến.
Disvāna tāni dibbāni pañca tūriyasatāni paṭippaṇāmetvā yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ etadavoca:
he waved off the orchestra, approached Mahāmoggallāna, and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy vậy, ông cho dừng năm trăm nhạc khí trời, đến gặp Tôn giả và nói:
“ehi kho, mārisa moggallāna, svāgataṁ, mārisa moggallāna.
“Come, my good fellow Moggallāna! Welcome, my good fellow!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Mời Tôn giả Moggallāna đến! Hoan nghênh Tôn giả Moggallāna!
Cirassaṁ kho, mārisa moggallāna, imaṁ pariyāyaṁ akāsi yadidaṁ idhāgamanāya.
It’s been a long time since you took the opportunity to come here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã lâu lắm Tôn giả mới có dịp đến đây.
Nisīda, mārisa moggallāna, idamāsanaṁ paññattan”ti.
Sit, my good Moggallāna, here, a seat is ready.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin mời ngồi, chỗ ngồi đã được chuẩn bị.”
Nisīdi kho āyasmā mahāmoggallāno paññatte āsane.
Mahāmoggallāna sat down on the seat spread out,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Mahāmoggallāna ngồi xuống chỗ đã chuẩn bị.
Sakkopi kho devānamindo aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
while Sakka took a low seat and sat to one side.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sakka lấy một ghế thấp rồi ngồi sang một bên.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sakkaṁ devānamindaṁ āyasmā mahāmoggallāno etadavoca:
Mahāmoggallāna said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Mahāmoggallāna hỏi Sakka:
“yathā kathaṁ pana kho, kosiya, bhagavā saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ abhāsi?
“Kosiya, how did the Buddha briefly explain freedom through the ending of craving?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Kosiya, Đức Phật đã nói ngắn gọn thế nào về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái?
Sādhu mayampi etissā kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.
Please share this talk with me so that I can also get to hear it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin hãy kể lại để chúng tôi cũng được nghe.”
“Mayaṁ kho, mārisa moggallāna, bahukiccā bahukaraṇīyā—
“My good Moggallāna, I have many duties, and much to do,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôn giả Moggallāna, chúng tôi có nhiều công việc và trách nhiệm,
appeva sakena karaṇīyena, api ca devānaṁyeva tāvatiṁsānaṁ karaṇīyena.
not only for myself, but also for the gods of the thirty-three.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cả việc riêng lẫn việc của chư thiên cõi Ba Mươi Ba.
Api ca, mārisa moggallāna, sussutaṁyeva hoti suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ, yaṁ no khippameva antaradhāyati.
Still, what is properly heard, learned, attended, and memorized does not vanish all of a sudden.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng điều gì đã được nghe kỹ, nắm kỹ, chú tâm kỹ và ghi nhớ kỹ thì không dễ mất đi nhanh chóng.
Bhūtapubbaṁ, mārisa moggallāna, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Once upon a time, a battle was fought between the gods and the titans.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trước đây từng có một trận chiến giữa chư thiên và a-tu-la.
Tasmiṁ kho pana, mārisa moggallāna, saṅgāme devā jiniṁsu, asurā parājiniṁsu.
In that battle the gods won and the titans lost.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong trận ấy, chư thiên thắng và a-tu-la thua.
So kho ahaṁ, mārisa moggallāna, taṁ saṅgāmaṁ abhivijinitvā vijitasaṅgāmo tato paṭinivattitvā vejayantaṁ nāma pāsādaṁ māpesiṁ.
When I returned from that battle as a conqueror, I created the Palace of Victory.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi chiến thắng trở về, tôi cho xây cung điện Vejayanta.
Vejayantassa kho, mārisa moggallāna, pāsādassa ekasataṁ niyyūhaṁ.
The Palace of Victory has a hundred towers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cung điện Vejayanta có một trăm tháp.
Ekekasmiṁ niyyūhe satta satta kūṭāgārasatāni.
Each tower has seven hundred chambers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mỗi tháp có bảy trăm phòng.
Ekamekasmiṁ kūṭāgāre satta satta accharāyo.
Each chamber has seven nymphs.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mỗi phòng có bảy tiên nữ.
Ekamekissā accharāya satta satta paricārikāyo.
Each nymph has seven maids.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Mỗi tiên nữ có bảy người hầu.
Iccheyyāsi no tvaṁ, mārisa moggallāna, vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakaṁ daṭṭhun”ti?
Would you like to see the lovely Palace of Victory?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Moggallāna có muốn xem vẻ đẹp của cung điện Vejayanta không?”
Adhivāsesi kho āyasmā mahāmoggallāno tuṇhībhāvena.
Mahāmoggallāna consented with silence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Mahāmoggallāna im lặng nhận lời.
Atha kho sakko ca devānamindo vessavaṇo ca mahārājā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ purakkhatvā yena vejayanto pāsādo tenupasaṅkamiṁsu.
Then, putting Venerable Mahāmoggallāna in front, Sakka, lord of gods, and Vessavaṇa, the Great King, went to the Palace of Victory.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sakka và Đại vương Vessavaṇa mời Tôn giả Mahāmoggallāna đi trước rồi cùng đến cung điện Vejayanta.
Addasaṁsu kho sakkassa devānamindassa paricārikāyo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ dūratova āgacchantaṁ;
When they saw Moggallāna coming off in the distance, Sakka’s maids,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các nữ hầu của Sakka từ xa thấy Tôn giả Mahāmoggallāna đi đến;
disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṁ sakaṁ ovarakaṁ pavisiṁsu.
being discreet and prudent, each went to her own bedroom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vì biết hổ thẹn và dè dặt, họ đi vào phòng riêng của mình.
Seyyathāpi nāma suṇisā sasuraṁ disvā ottappati hirīyati;
They were just like a daughter-in-law who is discreet and prudent when they see their father-in-law.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như người con dâu thấy cha chồng thì biết hổ thẹn và dè dặt;
evameva sakkassa devānamindassa paricārikāyo āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ disvā ottappamānā hirīyamānā sakaṁ sakaṁ ovarakaṁ pavisiṁsu.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, các nữ hầu của Sakka thấy Tôn giả Mahāmoggallāna thì đi vào phòng riêng.
Atha kho sakko ca devānamindo vessavaṇo ca mahārājā āyasmantaṁ mahāmoggallānaṁ vejayante pāsāde anucaṅkamāpenti anuvicarāpenti:
Then Sakka and Vessavaṇa encouraged Moggallāna to wander and explore the palace, saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sakka và Đại vương Vessavaṇa dẫn Tôn giả đi xem khắp cung điện Vejayanta, nói:
“idampi, mārisa moggallāna, passa vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakaṁ;
“See, in the palace, my good Moggallāna, this lovely thing!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôn giả Moggallāna, hãy xem vẻ đẹp này của cung điện Vejayanta;
idampi, mārisa moggallāna, passa vejayantassa pāsādassa rāmaṇeyyakan”ti.
And that lovely thing!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và hãy xem vẻ đẹp kia nữa.”
“Sobhati idaṁ āyasmato kosiyassa, yathā taṁ pubbe katapuññassa.
“That looks beautiful for the venerable Kosiya, as befits one who has made merit in the past.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Cung điện của Tôn giả Kosiya thật đẹp, xứng với người đã tạo nhiều phước trong quá khứ.
Manussāpi kiñcideva rāmaṇeyyakaṁ disvā evamāhaṁsu:
Humans, when they see something lovely, also say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người đời khi thấy một thứ gì đẹp cũng thường nói:
‘sobhati vata bho yathā devānaṁ tāvatiṁsānan’ti.
‘It looks beautiful enough for the gods of the thirty-three!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đẹp như cảnh của chư thiên cõi Ba Mươi Ba!’
Tayidaṁ āyasmato kosiyassa sobhati, yathā taṁ pubbe katapuññassā”ti.
That looks beautiful for the venerable Kosiya, as befits one who has made merit in the past.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cung điện của Tôn giả Kosiya thật đẹp, xứng với phước đã làm trong quá khứ.”
Atha kho āyasmato mahāmoggallānassa etadahosi:
Then Moggallāna thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Mahāmoggallāna nghĩ:
“atibāḷhaṁ kho ayaṁ yakkho pamatto viharati.
“This spirit lives much too negligently.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vị thiên này đang sống quá phóng dật.
Yannūnāhaṁ imaṁ yakkhaṁ saṁvejeyyan”ti.
Why don’t I stir up a sense of urgency in him?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hay là ta làm cho ông ấy khởi cảm giác cấp bách?”
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi yathā vejayantaṁ pāsādaṁ pādaṅguṭṭhakena saṅkampesi sampakampesi sampavedhesi.
Then Moggallāna used his psychic power to make the Palace of Victory shake and rock and tremble with his big toe.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna vận dụng thần lực, dùng ngón chân cái làm cung điện Vejayanta rung chuyển dữ dội.
Atha kho sakko ca devānamindo, vessavaṇo ca mahārājā, devā ca tāvatiṁsā acchariyabbhutacittajātā ahesuṁ:
Then Sakka, Vessavaṇa, and the gods of the thirty-three, their minds full of wonder and amazement, thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sakka, Đại vương Vessavaṇa và chư thiên cõi Ba Mươi Ba đều kinh ngạc, sửng sốt:
“acchariyaṁ vata, bho, abbhutaṁ vata, bho.
“Oh lord, how incredible, how amazing!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật kỳ diệu! Thật phi thường!
Samaṇassa mahiddhikatā mahānubhāvatā, yatra hi nāma dibbabhavanaṁ pādaṅguṭṭhakena saṅkampessati sampakampessati sampavedhessatī”ti.
The ascetic has such power and might that he makes the god’s home shake and rock and tremble with his big toe!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị sa-môn này có thần lực và uy lực lớn đến mức chỉ bằng ngón chân cái đã làm thiên cung rung chuyển dữ dội!”
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sakkaṁ devānamindaṁ saṁviggaṁ lomahaṭṭhajātaṁ viditvā sakkaṁ devānamindaṁ etadavoca:
Knowing that Sakka was shocked and awestruck, Moggallāna said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Biết Sakka đã chấn động và dựng tóc gáy, Tôn giả Mahāmoggallāna hỏi:
“yathā kathaṁ pana kho, kosiya, bhagavā saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ abhāsi?
“Kosiya, how did the Buddha briefly explain freedom through the ending of craving?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Kosiya, Đức Phật đã nói ngắn gọn thế nào về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái?
Sādhu mayampi etissā kathāya bhāgino assāma savanāyā”ti.
Please share this talk with me so that I can also get to hear it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin hãy kể lại để chúng tôi cũng được nghe.”
“Idhāhaṁ, mārisa moggallāna, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsiṁ. Ekamantaṁ ṭhito kho ahaṁ, mārisa moggallāna, bhagavantaṁ etadavocaṁ:
“My good fellow Moggallāna, I approached the Buddha, bowed, stood to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tôn giả Moggallāna, tôi đã đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên và thưa:
‘kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti?
‘Sir, how do you briefly define a mendicant who is freed with the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, nói một cách ngắn gọn, đến mức nào một vị tỳ-kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt cứu cánh tối hậu, an ổn tối hậu khỏi mọi trói buộc, đời sống phạm hạnh tối hậu, mục tiêu tối hậu, và là bậc cao quý nhất giữa chư thiên và loài người?’
Evaṁ vutte, mārisa moggallāna, bhagavā maṁ etadavoca:
When I had spoken the Buddha said to me:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi tôi hỏi như vậy, Đức Phật nói:
‘idha, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti:
‘Lord of gods, it’s when a mendicant has heard:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thiên chủ, ở đây một vị tỳ-kheo đã được nghe rằng:
“sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti.
“Nothing is worth insisting on.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tất cả các pháp đều không đáng để chấp thủ.”
Evañcetaṁ, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti
When a mendicant has heard that
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi vị ấy đã được nghe rằng
“sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti.
nothing is worth insisting on,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“tất cả các pháp đều không đáng để chấp thủ”,
So sabbaṁ dhammaṁ abhijānāti, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya sabbaṁ dhammaṁ parijānāti, sabbaṁ dhammaṁ pariññāya yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
they directly know all things. Directly knowing all things, they completely understand all things. Having completely understood all things, when they experience any kind of feeling—pleasant, unpleasant, or neutral—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy trực tiếp biết tất cả các pháp, hiểu thấu tất cả các pháp; khi đã hiểu thấu, bất cứ cảm thọ nào vị ấy cảm nhận—dễ chịu, đau khổ hay không khổ không lạc—
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati.
they meditate observing impermanence, dispassion, cessation, and letting go in those feelings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy an trú quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt và quán xả bỏ đối với các cảm thọ ấy.
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto, virāgānupassī viharanto, nirodhānupassī viharanto, paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati,
Meditating in this way, they don’t grasp at anything in the world.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi an trú quán như vậy, vị ấy không chấp thủ bất cứ điều gì trong đời.
anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati:
Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không chấp thủ, vị ấy không dao động; không dao động, vị ấy tự mình tịch diệt:
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāti.
They understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Sinh đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; việc cần làm đã làm; không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.”
Ettāvatā kho, devānaminda, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti.
That’s how I briefly define a mendicant who is freed through the ending of craving, who has reached the ultimate end, the ultimate sanctuary from the yoke, the ultimate spiritual life, the ultimate goal, and is best among gods and humans.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thiên chủ, nói một cách ngắn gọn, đến mức ấy một vị tỳ-kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt cứu cánh tối hậu, an ổn tối hậu khỏi mọi trói buộc, đời sống phạm hạnh tối hậu, mục tiêu tối hậu, và là bậc cao quý nhất giữa chư thiên và loài người.’
Evaṁ kho me, mārisa moggallāna, bhagavā saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ abhāsī”ti.
That’s how the Buddha briefly explained freedom through the ending of craving to me.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Moggallāna, Đức Phật đã nói ngắn gọn về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái với tôi như vậy.”
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno sakkassa devānamindassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā—seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya; evameva—devesu tāvatiṁsesu antarahito pubbārāme migāramātupāsāde pāturahosi.
Moggallāna approved and agreed with what Sakka said. As easily as a strong person would extend or contract their arm, he vanished from among the gods of the thirty-three and reappeared in the Eastern Monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Mahāmoggallāna hoan hỷ và tán đồng lời Sakka; rồi nhanh như một người khỏe co hay duỗi cánh tay, Tôn giả biến mất khỏi cõi Ba Mươi Ba và xuất hiện lại ở Đông Viên.
Atha kho sakkassa devānamindassa paricārikāyo acirapakkante āyasmante mahāmoggallāne sakkaṁ devānamindaṁ etadavocuṁ:
Soon after Moggallāna left, Sakka’s maids said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không lâu sau khi Tôn giả Mahāmoggallāna đi, các nữ hầu của Sakka hỏi:
“eso nu te, mārisa, so bhagavā satthā”ti?
“Good fellow, was that the Blessed One, your Teacher?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa ngài, vị ấy có phải chính là Đức Phật, bậc Đạo sư của ngài không?”
“Na kho me, mārisa, so bhagavā satthā.
“No, it was not.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không, đó không phải Đức Phật, bậc Đạo sư của ta.
Sabrahmacārī me eso āyasmā mahāmoggallāno”ti.
That was my spiritual companion Venerable Mahāmoggallāna.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là Tôn giả Mahāmoggallāna, một vị đồng phạm hạnh với ta.”
“Lābhā te, mārisa, suladdhaṁ te, mārisa
“You’re fortunate, good fellow, so very fortunate,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật lợi ích cho ngài, thật may mắn cho ngài,
yassa te sabrahmacārī evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo.
to have a spiritual companion of such power and might!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
khi một vị đồng phạm hạnh đã có thần lực và uy lực lớn đến thế.
Aho nūna te so bhagavā satthā”ti.
We can’t believe that’s not the Blessed One, your Teacher!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hẳn Đức Phật, bậc Đạo sư của ngài, còn phi thường hơn nữa!”
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā mahāmoggallāno bhagavantaṁ etadavoca:
Then Mahāmoggallāna went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Mahāmoggallāna đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa:
“abhijānāti no, bhante, bhagavā ahu ñātaññatarassa mahesakkhassa yakkhassa saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ bhāsitā”ti?
“Sir, do you recall briefly explaining freedom through the ending of craving to a certain well-known and illustrious spirit?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, Ngài có nhớ từng nói ngắn gọn về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái với một vị thiên có uy lực lớn không?”
“Abhijānāmahaṁ, moggallāna, idha sakko devānamindo yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṁ abhivādetvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho, moggallāna, sakko devānamindo maṁ etadavoca:
“I do, Moggallāna.” And the Buddha retold all that happened when Sakka came to visit him, adding:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ta nhớ, Moggallāna. Sakka, vua chư thiên, đã đến gặp Ta, đảnh lễ, đứng sang một bên và thưa:
‘kittāvatā nu kho, bhante, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch Thế Tôn, nói một cách ngắn gọn, đến mức nào một vị tỳ-kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt cứu cánh tối hậu, an ổn tối hậu khỏi mọi trói buộc, đời sống phạm hạnh tối hậu, mục tiêu tối hậu, và là bậc cao quý nhất giữa chư thiên và loài người?’
Evaṁ vutte, ahaṁ, moggallāna, sakkaṁ devānamindaṁ etadavocaṁ
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được hỏi như vậy, Ta nói với Sakka:
‘idha devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thiên chủ, ở đây một vị tỳ-kheo đã được nghe rằng:
“sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tất cả các pháp đều không đáng để chấp thủ.”
Evaṁ cetaṁ, devānaminda, bhikkhuno sutaṁ hoti
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi vị ấy đã được nghe rằng
“sabbe dhammā nālaṁ abhinivesāyā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“tất cả các pháp đều không đáng để chấp thủ”,
So sabbaṁ dhammaṁ abhijānāti, sabbaṁ dhammaṁ abhiññāya sabbaṁ dhammaṁ parijānāti, sabbaṁ dhammaṁ pariññāya yaṁ kiñci vedanaṁ vedeti sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy trực tiếp biết tất cả các pháp, hiểu thấu tất cả các pháp; khi đã hiểu thấu, bất cứ cảm thọ nào vị ấy cảm nhận—dễ chịu, đau khổ hay không khổ không lạc—
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharati, virāgānupassī viharati, nirodhānupassī viharati, paṭinissaggānupassī viharati.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy an trú quán vô thường, quán ly tham, quán đoạn diệt và quán xả bỏ đối với các cảm thọ ấy.
So tāsu vedanāsu aniccānupassī viharanto, virāgānupassī viharanto, nirodhānupassī viharanto,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi an trú quán vô thường, quán ly tham và quán đoạn diệt đối với các cảm thọ ấy,
paṭinissaggānupassī viharanto na kiñci loke upādiyati,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và quán xả bỏ, vị ấy không chấp thủ bất cứ điều gì trong đời.
anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không chấp thủ, vị ấy không dao động; không dao động, vị ấy tự mình tịch diệt:
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā”ti pajānāti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Sinh đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; việc cần làm đã làm; không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.”
Ettāvatā kho, devānaminda, bhikkhu saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimutto hoti accantaniṭṭho accantayogakkhemī accantabrahmacārī accantapariyosāno seṭṭho devamanussānan’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thiên chủ, nói một cách ngắn gọn, đến mức ấy một vị tỳ-kheo được giải thoát nhờ đoạn tận ái, đạt cứu cánh tối hậu, an ổn tối hậu khỏi mọi trói buộc, đời sống phạm hạnh tối hậu, mục tiêu tối hậu, và là bậc cao quý nhất giữa chư thiên và loài người.’
Evaṁ kho ahaṁ, moggallāna, abhijānāmi sakkassa devānamindassa saṅkhittena taṇhāsaṅkhayavimuttiṁ bhāsitā”ti.
“That’s how I recall briefly explaining freedom through the ending of craving to Sakka, lord of gods.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Moggallāna, Ta nhớ mình đã nói ngắn gọn về sự giải thoát nhờ đoạn tận ái với Sakka như vậy.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamano āyasmā mahāmoggallāno bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Mahāmoggallāna approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Mahāmoggallāna hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Cūḷataṇhāsaṅkhayasuttaṁ niṭṭhitaṁ sattamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tiểu Kinh Đoạn Tận Ái kết thúc, bài thứ bảy.