← Kinh Trung Bộ

MN23 · Majjhima Nikāya

Kinh Gò Mối

Vammikasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Tại rừng Andha, đêm khuya, một vị trời hào quang rực rỡ đến gặp Tôn giả Kumāra Kassapa và đưa ra một câu đố: gò mối này ban đêm bốc khói, ban ngày cháy sáng; vị bà-la-môn bảo người có trí cầm gươm mà đào. Đào lên lần lượt thấy then cửa, con nhái, con đường hai ngã, cái rây lọc, con rùa, dao phay cùng thớt, miếng thịt — bảy thứ đều được bảo lấy ra rồi đào tiếp — và cuối cùng là con rắn, nhưng lần này lại được bảo: hãy để con rắn yên, đừng làm động nó, hãy kính lễ nó. Vị trời nói rằng trong thế giới này không ai giải đáp thỏa đáng câu đố ngoài Như Lai, đệ tử của Như Lai, hay người đã nghe lời giải từ họ, rồi biến mất.

Sáng hôm sau, Tôn giả Kassapa đem câu đố đến hỏi Đức Phật. Đức Phật giải từng chi tiết: gò mối là thân này, tạo thành từ bốn đại, do cha mẹ sinh ra, nuôi lớn bằng cơm cháo, chịu vô thường, hao mòn, tan rã; bốc khói ban đêm là suy nghĩ, cân nhắc về những việc đã làm ban ngày; cháy sáng ban ngày là đem ra thực hiện bằng thân, lời nói, ý những điều đã suy nghĩ ban đêm. Vị bà-la-môn là Như Lai; người có trí là tỳ-kheo hữu học; gươm là trí tuệ của bậc Thánh; đào là sự khởi lên tinh tấn.

Bảy vật được lấy ra lần lượt là những gì phải từ bỏ trên đường tu: then cửa là vô minh; con nhái là phẫn nộ và hiềm hận; con đường hai ngã là nghi hoặc; cái rây lọc là năm triền cái — dục tham, sân, hôn trầm-thụy miên, trạo cử-hối quá và nghi; con rùa là năm thủ uẩn; dao phay cùng thớt là năm loại dục lạc giác quan; miếng thịt là sự thích thú và tham đắm. Mỗi khi lấy ra một thứ, lời dạy vẫn là: hãy cầm gươm mà đào tiếp.

Chỉ con rắn là không bị lấy ra mà được kính lễ, vì con rắn là tên gọi cho vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Câu đố vì vậy vẽ trọn một con đường: với trí tuệ làm gươm và tinh tấn làm phép đào, vị tu hành lần lượt gỡ bỏ vô minh, sân hận, nghi hoặc, triền cái, chấp thủ vào năm uẩn, dục lạc và tham đắm, cho đến khi chạm đến bậc giải thoát — nơi công việc đào bới dừng lại và sự kính lễ thay thế cho sự lấy ra.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 445 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 3d0aaf8c-19b1-4557-9bc3-40701139e77f · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: dd85fc1882cca7a99040ad26407740d14aecdc128e49c713390b48800819f1f7

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 445 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: c9f0c07a-7620-444d-827b-1c33bd552d2a · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: dd85fc1882cca7a99040ad26407740d14aecdc128e49c713390b48800819f1f7

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 104 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 7670c3eb-45b3-4ca1-92fa-d62b327c6a39 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 6376c3985a49d814aa0fd261eee584efea77355e78471fee35d06ca58eb739d9

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 104 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 27e88a69-4a7e-4d88-9bc5-b4ac5da881df · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 6376c3985a49d814aa0fd261eee584efea77355e78471fee35d06ca58eb739d9

2026-09-10 · Scorecard lịch sử · 9.51/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.7
Đúng nghĩa Pāli9.2
Ngữ pháp & logic9.3
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.1
Đối chiếu nguồn9.5
Tiếng Việt sáng rõ9.4
Hán–Việt & súc tích9.4
Bất định & trung thực9.5
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

104/104 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

89/104 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

104/104 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 23
Middle Discourses 23
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 23
Vammikasutta
The Termite Mound
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Gò Mối
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Tena kho pana samayena āyasmā kumārakassapo andhavane viharati.
Now at that time Venerable Kassapa the Prince was staying in the Dark Forest.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc ấy, Tôn giả Kumāra Kassapa đang ở trong rừng Andha.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāyasmā kumārakassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā āyasmantaṁ kumārakassapaṁ etadavoca:
Then, late at night, a glorious deity, lighting up the entire Dark Forest, went up to Kassapa the Prince, stood to one side, and said:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đêm khuya, một vị trời có hào quang rực rỡ chiếu sáng cả khu rừng Andha đến gặp Tôn giả Kumāra Kassapa, đứng sang một bên và nói:
“Bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati.
“Monk, monk! This termite mound fumes by night and flames by day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tỳ-kheo, tỳ-kheo! Gò mối này ban đêm bốc khói, ban ngày cháy sáng.
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
‘Dig, clever one, having picked up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa laṅgiṁ
Picking up the sword and digging, the clever one saw a sticking point:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một then cửa:
‘laṅgī, bhadante’ti.
‘A sticking point, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một then cửa!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘ukkhipa laṅgiṁ;
‘Throw out the sticking point!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy lấy then cửa ra!
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Dig, clever one, having picked up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa uddhumāyikaṁ.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a bullfrog:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một con nhái:
‘Uddhumāyikā, bhadante’ti.
‘A bullfrog, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một con nhái!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘ukkhipa uddhumāyikaṁ;
‘Throw out the bullfrog!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy lấy con nhái ra!
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Dig, clever one, having picked up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa dvidhāpathaṁ.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a forked path:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một con đường hai ngã:
‘Dvidhāpatho, bhadante’ti.
‘A forked path, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một con đường hai ngã!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘ukkhipa dvidhāpathaṁ;
‘Throw out the forked path!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy lấy con đường hai ngã ra!
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Dig, clever one, having picked up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa caṅgavāraṁ.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a filter of ash:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một cái rây lọc:
‘Caṅgavāro, bhadante’ti.
‘A filter of ash, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một cái rây lọc!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘ukkhipa caṅgavāraṁ;
‘Throw out the filter of ash!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy lấy cái rây lọc ra!
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Dig, clever one, having picked up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa kummaṁ.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a tortoise:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một con rùa:
‘Kummo, bhadante’ti.
‘A tortoise, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một con rùa!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘ukkhipa kummaṁ;
‘Throw out the tortoise!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy lấy con rùa ra!
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Dig, clever one, having taken up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa asisūnaṁ.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a butcher’s knife and chopping board:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một con dao phay cùng thớt:
‘Asisūnā, bhadante’ti.
‘A butcher’s knife and chopping board, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một con dao phay cùng thớt!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘ukkhipa asisūnaṁ;
‘Throw out the butcher’s knife and chopping board!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy lấy dao phay và thớt ra!
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Dig, clever one, having picked up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa maṁsapesiṁ.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a scrap of meat:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một miếng thịt:
‘Maṁsapesi, bhadante’ti.
‘A scrap of meat, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một miếng thịt!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘ukkhipa maṁsapesiṁ;
‘Throw out the scrap of meat!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy lấy miếng thịt ra!
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Dig, clever one, having picked up the sword!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!’
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa nāgaṁ.
Picking up the sword and digging, the clever one saw a king cobra:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên và thấy một con rắn:
‘Nāgo, bhadante’ti.
‘A king cobra, sir!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa ngài, một con rắn!’
Brāhmaṇo evamāha:
The brahmin said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
‘tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassā’ti.
‘Leave the king cobra! Do not disturb the cobra! Worship the cobra!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hãy để con rắn yên! Đừng làm động nó! Hãy kính lễ nó!’
Ime kho tvaṁ, bhikkhu, pañhe bhagavantaṁ upasaṅkamitvā puccheyyāsi, yathā ca te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsi.
Mendicant, go to the Buddha and ask him about this riddle. You should remember it in line with his answer.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này tỳ-kheo, hãy đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài về câu đố này. Đức Phật trả lời thế nào thì hãy ghi nhớ đúng như vậy.
Nāhaṁ taṁ, bhikkhu, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya aññatra tathāgatena vā, tathāgatasāvakena vā, ito vā pana sutvā”ti—
I don’t see anyone in this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans—who could provide a satisfying answer to this riddle except the Realized One or his disciple or someone who has heard it from them.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong thế giới này với chư thiên, Māra, Phạm thiên, các sa-môn và bà-la-môn, chư thiên và loài người, ta không thấy ai có thể giải đáp thỏa đáng câu đố này ngoài Như Lai, đệ tử của Như Lai, hoặc người đã nghe lời giải từ họ.”
Idamavoca sā devatā.
That is what that deity said
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị trời ấy nói như vậy
Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
before vanishing right there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
rồi biến mất ngay tại chỗ.
Atha kho āyasmā kumārakassapo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kumārakassapo bhagavantaṁ etadavoca:
Then, when the night had passed, Kassapa the Prince went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then he asked:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đêm đã qua, Tôn giả Kumāra Kassapa đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:
“imaṁ, bhante, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhante, sā devatā maṁ etadavoca:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, đêm nay, một vị trời có hào quang rực rỡ chiếu sáng cả khu rừng Andha đã đến chỗ con; đến rồi đứng sang một bên. Đứng sang một bên, vị trời ấy nói với con:
‘bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tỳ-kheo, tỳ-kheo! Gò mối này ban đêm bốc khói, ban ngày cháy sáng.
Brāhmaṇo evamāha:
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị bà-la-môn nói:
“abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā”ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này người có trí, hãy cầm gươm mà đào!”
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya …pe…
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người có trí cầm gươm đào lên … (như trên) …
ito vā pana sutvā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hoặc người đã nghe lời giải từ họ.’
Idamavoca, bhante, sā devatā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, vị trời ấy đã nói như vậy.
Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nói xong, vị ấy biến mất ngay tại chỗ.
Ko nu kho, bhante, vammiko, kā rattiṁ dhūmāyanā, kā divā pajjalanā, ko brāhmaṇo, ko sumedho, kiṁ satthaṁ, kiṁ abhikkhaṇaṁ, kā laṅgī, kā uddhumāyikā, ko dvidhāpatho, kiṁ caṅgavāraṁ, ko kummo, kā asisūnā, kā maṁsapesi, ko nāgo”ti?
“Sir, what is the termite mound? What is the fuming by night and flaming by day? Who is the brahmin, and who the clever one? What are the sword, the digging, the sticking point, the bullfrog, the forked path, the filter of ash, the tortoise, the butcher’s knife and chopping board, and the scrap of meat? And what is the king cobra?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, gò mối là gì? Bốc khói ban đêm và cháy sáng ban ngày là gì? Ai là vị bà-la-môn, ai là người có trí? Gươm là gì, đào là gì, then cửa là gì, con nhái là gì, con đường hai ngã là gì, cái rây lọc là gì, con rùa là gì, dao phay và thớt là gì, miếng thịt là gì? Và con rắn là gì?”
“‘Vammiko’ti kho, bhikkhu, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ, mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
“Mendicant, ‘termite mound’ is a term for this body made up of the four principal states, produced by mother and father, built up from rice and porridge, liable to impermanence, to wearing away and erosion, to breaking up and destruction.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này tỳ-kheo, ‘gò mối’ là tên gọi cho thân này, được tạo thành từ bốn đại, do cha mẹ sinh ra, nuôi lớn bằng cơm cháo, chịu vô thường, hao mòn, tan rã, vỡ nát và hủy diệt.
Yaṁ kho, bhikkhu, divā kammante ārabbha rattiṁ anuvitakketi anuvicāreti—
Thinking and considering all night about what you did during the day—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ban đêm suy nghĩ và cân nhắc về những việc đã làm ban ngày—
ayaṁ rattiṁ dhūmāyanā.
this is the fuming at night.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là ‘bốc khói ban đêm’.
Yaṁ kho, bhikkhu, rattiṁ anuvitakketvā anuvicāretvā divā kammante payojeti kāyena vācāya manasā—
The work you apply yourself to during the day by body, speech, and mind after thinking about it all night—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ban ngày đem ra thực hiện bằng thân, lời nói và ý những điều đã suy nghĩ và cân nhắc ban đêm—
ayaṁ divā pajjalanā.
this is the flaming by day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là ‘cháy sáng ban ngày’.
‘Brāhmaṇo’ti kho, bhikkhu, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
‘Brahmin’ is a term for the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vị bà-la-môn’ là tên gọi cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.
‘Sumedho’ti kho, bhikkhu, sekkhassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ.
‘Clever one’ is a term for the trainee mendicant.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người có trí’ là tên gọi cho vị tỳ-kheo hữu học.
‘Satthan’ti kho, bhikkhu, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ.
‘Sword’ is a term for noble wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Gươm’ là tên gọi cho trí tuệ của bậc Thánh.
‘Abhikkhaṇan’ti kho, bhikkhu, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Digging’ is a term for rousing energy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đào’ là tên gọi cho sự khởi lên tinh tấn.
‘Laṅgī’ti kho, bhikkhu, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘Sticking point’ is a term for ignorance.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Then cửa’ là tên gọi cho vô minh.
Ukkhipa laṅgiṁ, pajaha avijjaṁ;
‘Throw out the sticking point’ means ‘give up ignorance,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Lấy then cửa ra’ nghĩa là ‘từ bỏ vô minh;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
dig, clever one, having picked up the sword.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này người có trí, hãy cầm gươm mà đào.’ Đó là ý nghĩa của lời ấy.
‘Uddhumāyikā’ti kho, bhikkhu, kodhūpāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Bullfrog’ is a term for anger and distress.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con nhái’ là tên gọi cho phẫn nộ và hiềm hận.
Ukkhipa uddhumāyikaṁ, pajaha kodhūpāyāsaṁ;
‘Throw out the bullfrog’ means ‘give up anger and distress’ …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Lấy con nhái ra’ nghĩa là ‘từ bỏ phẫn nộ và hiềm hận;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này người có trí, hãy cầm gươm mà đào.’ Đó là ý nghĩa của lời ấy.
‘Dvidhāpatho’ti kho, bhikkhu, vicikicchāyetaṁ adhivacanaṁ.
‘A forked path’ is a term for doubt.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con đường hai ngã’ là tên gọi cho nghi hoặc.
Ukkhipa dvidhāpathaṁ, pajaha vicikicchaṁ;
‘Throw out the forked path’ means ‘give up doubt’ …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Lấy con đường hai ngã ra’ nghĩa là ‘từ bỏ nghi hoặc;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này người có trí, hãy cầm gươm mà đào.’ Đó là ý nghĩa của lời ấy.
‘Caṅgavāran’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ nīvaraṇānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
‘A filter of ash’ is a term for the five hindrances, that is:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Cái rây lọc’ là tên gọi cho năm triền cái, tức là:
kāmacchandanīvaraṇassa, byāpādanīvaraṇassa, thinamiddhanīvaraṇassa, uddhaccakukkuccanīvaraṇassa, vicikicchānīvaraṇassa.
the hindrances of sensual desire, ill will, dullness and drowsiness, restlessness and remorse, and doubt.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dục tham, sân, hôn trầm-thụy miên, trạo cử-hối quá và nghi.
Ukkhipa caṅgavāraṁ, pajaha pañca nīvaraṇe;
‘Throw out the filter of ash’ means ‘give up the five hindrances’ …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Lấy cái rây lọc ra’ nghĩa là ‘từ bỏ năm triền cái;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này người có trí, hãy cầm gươm mà đào.’ Đó là ý nghĩa của lời ấy.
‘Kummo’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ upādānakkhandhānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
‘Tortoise’ is a term for the five grasping aggregates, that is:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con rùa’ là tên gọi cho năm thủ uẩn, tức là:
rūpupādānakkhandhassa, vedanupādānakkhandhassa, saññupādānakkhandhassa, saṅkhārupādānakkhandhassa, viññāṇupādānakkhandhassa.
form, feeling, perception, choices, and consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sắc, thọ, tưởng, hành và thức.
Ukkhipa kummaṁ, pajaha pañcupādānakkhandhe;
‘Throw out the tortoise’ means ‘give up the five grasping aggregates’ …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Lấy con rùa ra’ nghĩa là ‘từ bỏ năm thủ uẩn;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này người có trí, hãy cầm gươm mà đào.’ Đó là ý nghĩa của lời ấy.
‘Asisūnā’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ—
‘Butcher’s knife and chopping board’ is a term for the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Dao phay và thớt’ là tên gọi cho năm loại dục lạc giác quan.
cakkhuviññeyyānaṁ rūpānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ,
Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, đáng mến, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn.
sotaviññeyyānaṁ saddānaṁ …pe…
Sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Âm thanh do tai nhận biết …
ghānaviññeyyānaṁ gandhānaṁ …pe…
Smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mùi do mũi nhận biết …
jivhāviññeyyānaṁ rasānaṁ …pe…
Tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị do lưỡi nhận biết …
kāyaviññeyyānaṁ phoṭṭhabbānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và xúc chạm do thân nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, đáng mến, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn.
Ukkhipa asisūnaṁ, pajaha pañca kāmaguṇe;
‘Throw out the butcher’s knife and chopping board’ means ‘give up the five kinds of sensual stimulation’ …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Lấy dao phay và thớt ra’ nghĩa là ‘từ bỏ năm loại dục lạc giác quan;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này người có trí, hãy cầm gươm mà đào.’ Đó là ý nghĩa của lời ấy.
‘Maṁsapesī’ti kho, bhikkhu, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Scrap of meat’ is a term for greed and relishing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Miếng thịt’ là tên gọi cho sự thích thú và tham đắm.
Ukkhipa maṁsapesiṁ, pajaha nandīrāgaṁ;
‘Throw out the scrap of meat’ means ‘give up greed and relishing’ …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Lấy miếng thịt ra’ nghĩa là ‘từ bỏ sự thích thú và tham đắm;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này người có trí, hãy cầm gươm mà đào.’ Đó là ý nghĩa của lời ấy.
‘Nāgo’ti kho, bhikkhu, khīṇāsavassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ.
‘King cobra’ is a term for a mendicant who has ended the defilements.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con rắn’ là tên gọi cho một vị tỳ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc.
Tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassāti ayametassa attho”ti.
This is the meaning of: ‘Leave the king cobra! Do not disturb the cobra! Worship the cobra!’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là ý nghĩa của lời: ‘Hãy để con rắn yên! Đừng làm động nó! Hãy kính lễ nó!’”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamano āyasmā kumārakassapo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Kassapa the Prince approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Kumāra Kassapa hoan hỷ và tán thán lời Đức Phật dạy.
Vammikasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Gò Mối kết thúc, bài thứ ba.