← Kinh Trung Bộ

MN152 · Majjhima Nikāya

Kinh Tu Tập Các Căn

Indriyabhāvanāsutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Đức Phật ở Gajaṅgalā, tại rừng tre. Ngài hỏi Uttara, đạo sĩ trẻ học trò của bà-la-mon Pārāsiviya, rằng thầy ông dạy sự tu tập các căn thế nào. Uttara đáp: được dạy không thấy sắc bằng mắt, không nghe tiếng bằng tai. Đức Phật chỉ ngay hệ quả: như vậy thì người mù và người điếc sẽ là người có các căn tu tập. Uttara ngồi im, ngượng ngùng, không đáp được.

Đức Phật nói với Tôn giả Ānanda rằng trong Thánh luật có sự tu tập các căn vô thượng. Tỳ-kheo thấy sắc bằng mắt, khả ý, bất khả ý, hoặc cả hai khởi lên; vị ấy biết: khả ý và bất khả ý ấy là hữu vi, là thô, là do duyên sinh, còn cái an tịnh, thù diệu chính là xả. Các trạng thái ấy đoạn diệt nhanh lẹ, dễ dàng, và xả an trú — như người có mắt mở mắt ra rồi nhắm lại. Công thức lặp lại cho sáu cửa, mỗi cửa một ví dụ: với tiếng, như người khỏe mạnh đánh một con ruồi không tốn sức; với hương, như giọt nước lăn trôi trên lá sen hơi dốc; với vị, như vo tròn nước bọt nơi đầu lưỡi rồi nhổ ra; với xúc, như co duỗi cánh tay; với pháp do ý nhận biết, như vài giọt nước rơi chậm vào chảo sắt nung nóng cả ngày rồi bốc hơi tức thì.

Tiếp theo là hai mức người. Vị hữu học đang thực hành, khi khả ý và bất khả ý khởi lên, thì kinh sợ, tàm quý và ghê tởm đối với chúng. Bậc Thánh với các căn đã tu tập thì tùy mong muốn mà trú: tưởng không yếm ly về điều yếm ly, tưởng yếm ly về điều không yếm ly, tưởng không yếm ly về cả hai, tưởng yếm ly về cả hai, hoặc trú như bậc xả, chánh niệm tinh tường, sau khi buông bỏ cả hai.

Đức Phật tổng kết rằng Ngài đã dạy cả ba mức ấy; những gì đạo sư mong muốn lợi ích, do lòng từ mẫn, điều ấy đã làm cho các đệ tử; rồi dặn hãy thiền định nơi những gốc cây, trú xá trống, chớ có phóng dật. Kinh kết thúc bằng các đoạn tóm lược ghi tên các kinh của Phẩm Cáo Thị và loan báo Năm Mươi Sau hoàn tất.

Tu tập các căn vì vậy không phải là tránh không nhìn, không nghe, mà là khi khả ý và bất khả ý khởi lên qua sáu cửa, chúng được đoạn diệt nhanh lẹ để xả an trú.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 441 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 49abaabe-9302-4d1d-b2a8-6596decfdefa · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: ffbfc464d04d993b325ff220c1996ff3a6e2d581d0354d3820e60c46749fd8ad

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 441 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2345976c-d1ed-4af9-a3b8-0a14ad8f3d65 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: ffbfc464d04d993b325ff220c1996ff3a6e2d581d0354d3820e60c46749fd8ad

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 441 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 7f4f5105-0a78-4976-b4d2-5ff5a2aac464 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: a8b7f1acff626e89472ca98447adf715135bdfe2d72f5d099b6c3b2d2e1cf80d

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 141 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: fb9cd495-83cd-48d5-ab68-2839c152c445 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: b3f44beceb2749126b565a0afbcfe033f1eef4d617f6e56121059f960d6a7250

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 141 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 504ab0b6-a6fb-401a-896a-9c2676188a04 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: b3f44beceb2749126b565a0afbcfe033f1eef4d617f6e56121059f960d6a7250

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 141 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: a3e2259f-ecb4-4d66-977b-7c1204b397fd · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4d5ce518cf695ef2dcacd218f5260b6548ba0fc79857abaac4a5a2672608cb49

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

141/141 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

125/141 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

141/141 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 152
Middle Discourses 152
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 152
Indriyabhāvanāsutta
The Development of the Faculties
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Tu Tập Các Căn
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā gajaṅgalāyaṁ viharati suveḷuvane.
At one time the Buddha was staying near Kajaṅgalā in a bamboo grove.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Gajaṅgalā, tại rừng tre.
Atha kho uttaro māṇavo pārāsiviyantevāsī yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Then the student Uttara, a pupil of the brahmin Pārāsariya, approached the Buddha, and exchanged greetings with him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Uttara, đạo sĩ trẻ, học trò của bà-la-mon Pārāsiviya, đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, chào hỏi với Đức Phật.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho uttaraṁ māṇavaṁ pārāsiviyantevāsiṁ bhagavā etadavoca:
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side. The Buddha said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau những lời chào hỏi thân thiện, vị ấy ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Uttara, đạo sĩ trẻ, học trò của bà-la-mon Pārāsiviya, đang ngồi một bên:
“deseti, uttara, pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti?
“Uttara, does Pārāsariya teach his disciples the development of the faculties?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Phải chăng Pārāsiviya bà-la-mon dạy các đệ tử sự tu tập các căn, này Uttara?”
“Deseti, bho gotama, pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti.
“He does, worthy Gotama.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Tôn giả Gotama, có, Pārāsiviya bà-la-mon dạy các đệ tử sự tu tập các căn.”
“Yathā kathaṁ pana, uttara, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti?
“But how does he teach it?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhưng Pārāsiviya bà-la-mon dạy các đệ tử sự tu tập các căn như thế nào, này Uttara?”
“Idha, bho gotama, cakkhunā rūpaṁ na passati, sotena saddaṁ na suṇāti—
“Worthy Gotama, it’s when the eye sees no sight and the ear hears no sound.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, (người ta được dạy) không thấy sắc bằng mắt, không nghe tiếng bằng tai —
evaṁ kho, bho gotama, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan”ti.
That’s how Pārāsariya teaches his disciples the development of the faculties.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
như vậy, thưa Tôn giả Gotama, Pārāsiviya bà-la-mon dạy các đệ tử sự tu tập các căn.”
“Evaṁ sante kho, uttara, andho bhāvitindriyo bhavissati, badhiro bhāvitindriyo bhavissati;
“In that case, Uttara, a blind person and a deaf person will have developed faculties
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu như vậy, này Uttara, theo lời bà-la-mon Pārāsiviya, người mù sẽ là người có các căn tu tập, người điếc sẽ là người có các căn tu tập;
yathā pārāsiviyassa brāhmaṇassa vacanaṁ.
according to what Pārāsariya says.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
theo lời bà-la-mon Pārāsiviya.
Andho hi, uttara, cakkhunā rūpaṁ na passati, badhiro sotena saddaṁ na suṇātī”ti.
For a blind person sees no sight with their eyes and a deaf person hears no sound with their ears.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì người mù, này Uttara, không thấy sắc bằng mắt, người điếc không nghe tiếng bằng tai.”
Evaṁ vutte, uttaro māṇavo pārāsiviyantevāsī tuṇhībhūto maṅkubhūto pattakkhandho adhomukho pajjhāyanto appaṭibhāno nisīdi.
When he said this, Uttara sat silent, dismayed, shoulders drooping, downcast, depressed, with nothing to say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được nói vậy, Uttara, đạo sĩ trẻ, học trò của bà-la-mon Pārāsiviya, ngồi im lặng, ngượng ngùng, cổ vai chúi xuống, cúi đầu, bần thần, không đáp được.
Atha kho bhagavā uttaraṁ māṇavaṁ pārāsiviyantevāsiṁ tuṇhībhūtaṁ maṅkubhūtaṁ pattakkhandhaṁ adhomukhaṁ pajjhāyantaṁ appaṭibhānaṁ viditvā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
Knowing this, the Buddha addressed Venerable Ānanda,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật thấy Uttara, đạo sĩ trẻ, học trò của bà-la-mon Pārāsiviya, ngồi im lặng, ngượng ngùng, cổ vai chúi xuống, cúi đầu, bần thần, không đáp được, rồi nói với Tôn giả Ānanda:
“aññathā kho, ānanda, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanaṁ, aññathā ca panānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā hotī”ti.
“Ānanda, the development of the faculties taught by Pārāsariya is quite different from the supreme development of the faculties in the training of the Noble One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Khác với điều ấy, này Ānanda, Pārāsiviya bà-la-mon dạy các đệ tử sự tu tập các căn; và khác nữa, này Ānanda, trong Thánh luật có sự tu tập các căn vô thượng.”
“Etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo
“Now is the time, Blessed One! Now is the time, Holy One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Đã đến lúc, bạch Thế Tôn; đã đến lúc, bạch Thiện Thệ,
yaṁ bhagavā ariyassa vinaye anuttaraṁ indriyabhāvanaṁ deseyya. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
Let the Buddha teach the supreme development of the faculties in the training of the Noble One. The mendicants will listen and remember it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
để Đức Phật dạy sự tu tập các căn vô thượng trong Thánh luật. Sau khi nghe Đức Phật, các tỳ-kheo sẽ ghi nhớ.”
“Tenahānanda, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Well then, Ānanda, listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe và chú tâm khéo léo, Ta sẽ nói.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” Ānanda replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vâng, bạch Thế Tôn”, Tôn giả Ānanda vâng đáp Đức Phật.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói điều này:
“Kathañcānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā hoti?
“And how, Ānanda, is there the supreme development of the faculties in the training of the Noble One?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Và thế nào, này Ānanda, là sự tu tập các căn vô thượng trong Thánh luật?
Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
When a mendicant sees a sight with their eyes, in them arises what is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, tỳ-kheo thấy sắc bằng mắt, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ.
‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Khả ý này đã khởi nơi ta, bất khả ý này đã khởi, khả ý và bất khả ý này đã khởi.
Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ.
That’s conditioned, crude, and dependently originated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái này là hữu vi, là thô, là do duyên sinh.
Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—
But this is peaceful and sublime, namely
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là—
upekkhā’ti.
equanimity.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả.’
Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati;
Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi nơi vị ấy đoạn diệt;
upekkhā saṇṭhāti.
and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả an trú.
Seyyathāpi, ānanda, cakkhumā puriso ummīletvā vā nimīleyya, nimīletvā vā ummīleyya;
It’s like how a person with clear eyes might open their eyes then shut them; or might shut their eyes then open them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như một người có mắt, này Ānanda, có thể mở mắt ra rồi nhắm lại, hay nhắm lại rồi mở ra;
evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—
Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi đoạn diệt nhanh như vậy, lẹ làng như vậy, dễ dàng như vậy, và xả an trú —
ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā cakkhuviññeyyesu rūpesu.
In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding sights known by the eye.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái này, này Ānanda, gọi trong Thánh luật là sự tu tập các căn vô thượng đối với các sắc do mắt nhận biết.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno sotena saddaṁ sutvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
Furthermore, when a mendicant hears a sound with their ears, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nữa, này Ānanda, tỳ-kheo nghe tiếng bằng tai, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ.
‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Khả ý này đã khởi nơi ta, bất khả ý này đã khởi, khả ý và bất khả ý này đã khởi.
Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ.
That’s conditioned, crude, and dependently originated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái này là hữu vi, là thô, là do duyên sinh.
Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—
But this is peaceful and sublime, namely
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là—
upekkhā’ti.
equanimity.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả.’
Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati;
Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi nơi vị ấy đoạn diệt;
upekkhā saṇṭhāti.
and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả an trú.
Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso appakasireneva accharaṁ pahareyya;
It’s like how a strong person can effortlessly snap their fingers.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như một người khỏe mạnh, này Ānanda, có thể đánh vào một con ruồi một cách không tốn sức;
evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—
Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi đoạn diệt nhanh như vậy, lẹ làng như vậy, dễ dàng như vậy, và xả an trú —
ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā sotaviññeyyesu saddesu.
In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding sounds known by the ear.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái này, này Ānanda, gọi trong Thánh luật là sự tu tập các căn vô thượng đối với các tiếng do tai nhận biết.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno ghānena gandhaṁ ghāyitvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
Furthermore, when a mendicant smells an odor with their nose, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nữa, này Ānanda, tỳ-kheo ngửi hương bằng mũi, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ.
‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Khả ý này đã khởi nơi ta, bất khả ý này đã khởi, khả ý và bất khả ý này đã khởi.
Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ.
That’s conditioned, crude, and dependently originated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái này là hữu vi, là thô, là do duyên sinh.
Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—
But this is peaceful and sublime, namely
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là—
upekkhā’ti.
equanimity.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả.’
Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati;
Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi nơi vị ấy đoạn diệt;
upekkhā saṇṭhāti.
and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả an trú.
Seyyathāpi, ānanda, īsakampoṇe padumapalāse udakaphusitāni pavattanti, na saṇṭhanti;
It’s like how a drop of water would roll off a gently sloping lotus leaf, and would not stay there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như một giọt nước, này Ānanda, có thể lăn trôi trên chiếc lá sen hơi dốc mà không thể dừng lại;
evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—
Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi đoạn diệt nhanh như vậy, lẹ làng như vậy, dễ dàng như vậy, và xả an trú —
ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā ghānaviññeyyesu gandhesu.
In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding smells known by the nose.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái này, này Ānanda, gọi trong Thánh luật là sự tu tập các căn vô thượng đối với các hương do mũi nhận biết.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno jivhāya rasaṁ sāyitvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
Furthermore, when a mendicant tastes a flavor with their tongue, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nữa, này Ānanda, tỳ-kheo nếm vị bằng lưỡi, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ.
‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Khả ý này đã khởi nơi ta, bất khả ý này đã khởi, khả ý và bất khả ý này đã khởi.
Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ.
That’s conditioned, crude, and dependently originated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái này là hữu vi, là thô, là do duyên sinh.
Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—
But this is peaceful and sublime, namely
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là—
upekkhā’ti.
equanimity.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả.’
Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati;
Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi nơi vị ấy đoạn diệt;
upekkhā saṇṭhāti.
and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả an trú.
Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso jivhagge kheḷapiṇḍaṁ saṁyūhitvā appakasirena vameyya;
It’s like how a strong person who’s formed a glob of spit on the tip of their tongue could easily spit it out.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như một người khỏe mạnh, này Ānanda, có thể vo tròn một cục nước bọt nơi đầu lưỡi rồi nhổ ra một cách không tốn sức;
evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—
Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi đoạn diệt nhanh như vậy, lẹ làng như vậy, dễ dàng như vậy, và xả an trú —
ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā jivhāviññeyyesu rasesu.
In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding tastes known by the tongue.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái này, này Ānanda, gọi trong Thánh luật là sự tu tập các căn vô thượng đối với các vị do lưỡi nhận biết.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
Furthermore, when a mendicant encounters a touch with their body, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nữa, này Ānanda, tỳ-kheo chạm xúc bằng thân, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ.
‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Khả ý này đã khởi nơi ta, bất khả ý này đã khởi, khả ý và bất khả ý này đã khởi.
Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ.
That’s conditioned, crude, and dependently originated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái này là hữu vi, là thô, là do duyên sinh.
Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—
But this is peaceful and sublime, namely
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là—
upekkhā’ti.
equanimity.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả.’
Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati;
Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi nơi vị ấy đoạn diệt;
upekkhā saṇṭhāti.
and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả an trú.
Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso samiñjitaṁ vā bāhaṁ pasāreyya, pasāritaṁ vā bāhaṁ samiñjeyya;
It’s like how a strong person can extend or contract their arm.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như một người khỏe mạnh, này Ānanda, có thể duỗi cánh tay đang co lại, hay co cánh tay đang duỗi ra;
evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—
Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi đoạn diệt nhanh như vậy, lẹ làng như vậy, dễ dàng như vậy, và xả an trú —
ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu.
In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding touches known by the body.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái này, này Ānanda, gọi trong Thánh luật là sự tu tập các căn vô thượng đối với các xúc do thân nhận biết.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno manasā dhammaṁ viññāya uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
Furthermore, when a mendicant knows a thought with their mind, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nữa, này Ānanda, tỳ-kheo nhận biết pháp bằng ý, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
‘uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ.
‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Khả ý này đã khởi nơi ta, bất khả ý này đã khởi, khả ý và bất khả ý này đã khởi.
Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ.
That’s conditioned, crude, and dependently originated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái này là hữu vi, là thô, là do duyên sinh.
Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—
But this is peaceful and sublime, namely
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là—
upekkhā’ti.
equanimity.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả.’
Tassa taṁ uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati;
Then the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable that arose in them cease,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi nơi vị ấy đoạn diệt;
upekkhā saṇṭhāti.
and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xả an trú.
Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso divasaṁsantatte ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā udakaphusitāni nipāteyya.
It’s like how a strong person could let two or three drops of water fall onto an iron cauldron that had been heated all day.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như một người khỏe mạnh, này Ānanda, có thể thả hai hay ba giọt nước vào một chiếc chảo sắt được đốt nóng suốt cả ngày.
Dandho, ānanda, udakaphusitānaṁ nipāto, atha kho naṁ khippameva parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya;
The drops would be slow to fall, but they’d quickly dry up and evaporate.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, giọt nước rơi xuống chậm, nhưng nó nhanh chóng bị tiêu biến, bốc hơi;
evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti—
Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, này Ānanda, đối với bất cứ ai, khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi đoạn diệt nhanh như vậy, lẹ làng như vậy, dễ dàng như vậy, và xả an trú —
ayaṁ vuccatānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā manoviññeyyesu dhammesu.
In the training of the Noble One this is called the supreme development of the faculties regarding ideas known by the mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cái này, này Ānanda, gọi trong Thánh luật là sự tu tập các căn vô thượng đối với các pháp do ý nhận biết.
Evaṁ kho, ānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā hoti.
That’s how there is the supreme development of the faculties in the training of the Noble One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, trong Thánh luật có sự tu tập các căn vô thượng.
Kathañcānanda, sekho hoti pāṭipado?
And how are they a practicing trainee?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và thế nào, này Ānanda, là vị hữu học đang thực hành?
Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
When a mendicant sees a sight with their eyes, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, tỳ-kheo thấy sắc bằng mắt, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So tena uppannena manāpena uppannena amanāpena uppannena manāpāmanāpena aṭṭīyati harāyati jigucchati.
They are horrified, repelled, and disgusted by that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi ấy, vị ấy kinh sợ, tàm quý và ghê tởm.
Sotena saddaṁ sutvā …pe…
When they hear a sound with their ears …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với tai nghe tiếng …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
When they smell an odor with their nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngửi hương bằng mũi …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
When they taste a flavor with their tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếm vị bằng lưỡi …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
When they feel a touch with their body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cảm xúc bằng thân …
manasā dhammaṁ viññāya uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
When they know a thought with their mind, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhận biết pháp bằng ý, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So tena uppannena manāpena uppannena amanāpena uppannena manāpāmanāpena aṭṭīyati harāyati jigucchati.
They are horrified, repelled, and disgusted by that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về khả ý đã khởi, bất khả ý đã khởi, khả ý và bất khả ý đã khởi ấy, vị ấy kinh sợ, tàm quý và ghê tởm.
Evaṁ kho, ānanda, sekho hoti pāṭipado.
That’s how they are a practicing trainee.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là vị hữu học đang thực hành.
Kathañcānanda, ariyo hoti bhāvitindriyo?
And how are they a noble one with developed faculties?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và thế nào, này Ānanda, là bậc Thánh với các căn đã tu tập?
Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
When a mendicant sees a sight with their eyes, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, tỳ-kheo thấy sắc bằng mắt, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng không yếm ly về điều yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng không yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng yếm ly về điều không yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng không yếm ly về cả điều yếm ly lẫn điều không yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng không yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng yếm ly về cả điều không yếm ly lẫn điều yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno.
If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú như bậc xả, chánh niệm tinh tường, sau khi buông bỏ cả điều yếm ly lẫn điều không yếm ly’ — vị ấy trú như bậc xả, chánh niệm tinh tường ở đó.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno sotena saddaṁ sutvā …pe…
When they hear a sound with their ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nữa, này Ānanda, tỳ-kheo nghe tiếng bằng tai …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
When they smell an odor with their nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngửi hương bằng mũi …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
When they taste a flavor with their tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếm vị bằng lưỡi …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
When they feel a touch with their body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cảm xúc bằng thân …
manasā dhammaṁ viññāya uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ.
When they know a thought with their mind, the agreeable, the disagreeable, and the both agreeable and disagreeable arise in them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhận biết pháp bằng ý, khả ý khởi lên, bất khả ý khởi lên, khả ý và bất khả ý khởi lên.
So sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng không yếm ly về điều yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng không yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng yếm ly về điều không yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, appaṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the unrepulsive in the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng không yếm ly về cả điều yếm ly lẫn điều không yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng không yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘appaṭikūle ca paṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, paṭikūlasaññī tattha viharati.
If they wish: ‘May I meditate perceiving the repulsive in the unrepulsive and the repulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú với tưởng yếm ly về cả điều không yếm ly lẫn điều yếm ly’ — vị ấy trú với tưởng yếm ly ở đó.
Sace ākaṅkhati: ‘paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayampi abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno’ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno.
If they wish: ‘May I meditate staying equanimous, mindful and aware, shunning both the repulsive and the unrepulsive,’ that’s what they do.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nếu mong muốn: ‘Mong rằng tôi được trú như bậc xả, chánh niệm tinh tường, sau khi buông bỏ cả điều yếm ly lẫn điều không yếm ly’ — vị ấy trú như bậc xả, chánh niệm tinh tường ở đó.
Evaṁ kho, ānanda, ariyo hoti bhāvitindriyo.
That’s how they are a noble one with developed faculties.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là bậc Thánh với các căn đã tu tập.
Iti kho, ānanda, desitā mayā ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā, desito sekho pāṭipado, desito ariyo bhāvitindriyo.
So, Ānanda, I have taught the supreme development of the faculties in the training of the Noble One, I have taught the practicing trainee, and I have taught the noble one with developed faculties.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, Ta đã dạy sự tu tập các căn vô thượng trong Thánh luật, đã dạy vị hữu học đang thực hành, đã dạy bậc Thánh với các căn đã tu tập.
Yaṁ kho, ānanda, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā.
Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái gì cần làm cho các đệ tử bởi bậc Đạo sư mong muốn lợi ích, do lòng từ mẫn, vì lòng từ mẫn — điều ấy Ta đã làm cho các ông, này Ānanda.
Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni, jhāyathānanda, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī”ti.
Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, Ānanda! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những gốc cây này, này Ānanda, những trú xá trống này — hãy thiền định, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ để về sau hối hận. Đây là lời dạy của chúng Ta cho các người.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Indriyabhāvanāsuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Tu Tập Các Căn, bài thứ mười, kết thúc.
Saḷāyatanavaggo niṭṭhito pañcamo.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Phẩm Sáu Xứ, phẩm thứ năm, kết thúc.
Tassuddānaṁ
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tóm lược:
Anāthapiṇḍiko channo,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Anāthapiṇḍika, Channa,
puṇṇo nandakarāhulā;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Puṇṇa, Nandaka, Rāhula;
Chachakkaṁ saḷāyatanikaṁ,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chachakka, Saḷāyatana,
nagaravindeyyasuddhikā;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nagaravindeyya, Suddhika;
Indriyabhāvanā cāpi,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cùng với Indriyabhāvanā —
vaggo ovādapañcamoti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
phẩm Cáo Thị là phẩm thứ năm.
Idaṁ vaggānamuddānaṁ
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là bài tóm lược các phẩm:
Devadahonupado ca,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Devadaha, Anupada,
Suññato ca vibhaṅgako;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Suññata, Vibhaṅga;
Saḷāyatanoti vaggā,
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các phẩm Saḷāyatana
Uparipaṇṇāsake ṭhitāti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nằm trong Năm Mươi Sau.
Uparipaṇṇāsakaṁ samattaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm Mươi Sau hoàn tất.
Tīhi paṇṇāsakehi paṭimaṇḍito sakalo
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được trang điểm bởi ba phần năm mươi,
majjhimanikāyo samatto.
The Middle Discourses are complete.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Toàn bộ Trung Bộ hoàn tất.