← Kinh Trung Bộ

MN150 · Majjhima Nikāya

Kinh Nagaravindā

Nagaravindeyyasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo thì đến làng Nagaravinda của các bà-la-môn. Các gia chủ nghe tiếng lành của Ngài, đi đến chào hỏi đủ cách rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật dạy họ nên trả lời thế nào khi các du sĩ ngoại đạo hỏi rằng hạng tỳ-kheo-bà-la-mon như thế nào thì không đáng được tôn kính, cung kính, tôn trọng, cúng dường, và như thế nào thì đáng.

Câu trả lời thứ nhất: hạng chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si đối với các sắc, tiếng, hương, vị, xúc, pháp nhận biết qua sáu căn, nội tâm chưa an tịnh, thân ngữ ý hành xử lúc ngay lúc không ngay — hạng ấy không đáng được tôn kính. Lý do được đưa ra là: vì chính các gia chủ cũng chưa ly tham, sân, si đối với các đối tượng ấy, nên họ không thấy hạnh đồng đều của các vị ấy cao hơn mình.

Câu trả lời thứ hai đảo lại: hạng đã ly tham, sân, si đối với sáu đối tượng ấy, nội tâm an tịnh, thân ngữ ý hành xử ngay lành đồng đều — hạng ấy đáng được tôn kính, và vì chính mình chưa ly tham, sân, si nên các gia chủ thấy hạnh đồng đều của các vị ấy cao hơn mình. Khi du sĩ hỏi dựa vào căn cứ nào mà nói các bậc Đáng Tôn đã ly tham hoặc đang thực hành để ly tham, sân, si, câu trả lời là: các bậc ấy thường đến những nơi trú ở xa xăm trong rừng rậm hoang vắng, nơi không có những sắc, tiếng, hương, vị, xúc mà nhìn, nghe, ngửi, nếm, chạm rồi vẫn còn ưa thích.

Tiêu chuẩn được đặt trên chính trạng thái ly tham, sân, si và sự an tịnh của nội tâm, với lối sống nơi rừng vắng làm dấu hiệu chứng thực. Nghe dạy xong, các bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda ngợi ca và xin quy y Đức Phật, Pháp và Tăng chúng tỳ-kheo.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 351 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 12ba76b9-2313-47cf-abe3-e2c1e7256bbc · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 3f56af0bff32b4df2be88199940d36d032298484e2fca732917940a836ac6dd2

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 351 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 56e6679a-39d9-423d-992a-c8b3da182c45 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 3f56af0bff32b4df2be88199940d36d032298484e2fca732917940a836ac6dd2

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 59 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: c76e78aa-8123-47ce-835d-1d3e9699527e · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 32969a91f95c71ed3c4053b78cb4ece2fea39d355a970f46c5b809aec8eef9dd

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 59 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 8c0f2a28-7c4a-4b5c-9b08-60ea274007ec · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 32969a91f95c71ed3c4053b78cb4ece2fea39d355a970f46c5b809aec8eef9dd

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

59/59 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

59/59 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

59/59 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 150
Middle Discourses 150
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 150
Nagaravindeyyasutta
With the People of Nagaravinda
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Nagaravindā
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ yena nagaravindaṁ nāma kosalānaṁ brāhmaṇānaṁ gāmo tadavasari.
At one time the Buddha was wandering in the land of the Kosalans together with a large Saṅgha of mendicants when he arrived at a village of the Kosalan brahmins named Nagaravinda.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật đang du hành trong xứ người Kosala cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, và đi đến làng Nagaravinda của các bà-la-môn người Kosala.
Assosuṁ kho nagaravindeyyakā brāhmaṇagahapatikā:
The brahmins and householders of Nagaravinda heard,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda nghe tin:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ nagaravindaṁ anuppatto.
“It seems the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family—while wandering in the land of the Kosalans has arrived at Nagaravinda, together with a large Saṅgha of mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch các ông, đạo sĩ Gotama — con dòng Sakya, xuất gia từ gia tộc Sakya — đang du hành trong xứ người Kosala cùng Tăng chúng tỳ-kheo đông đảo, và đã đến Nagaravinda.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
He has this good reputation:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về Tôn giả Gotama ấy có tiếng lành truyền xa như sau:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc vô thượng điều phục những người đáng được điều phục, bậc thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn.’
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
He has realized with his own insight this world—with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, gods and humans—and he makes it known to others.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài tự mình với thắng trí đã giác ngộ và thực chứng, rồi tuyên giảng thế giới này cùng các chư thiên, các Ác ma, các Phạm thiên, loài chúng sinh cùng các sa-môn bà-la-môn, chư thiên và loài người.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
He teaches Dhamma that’s good in the beginning, good in the middle, and good in the end, meaningful and well-phrased. And he reveals a spiritual practice that’s entirely full and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài thuyết Pháp tốt lành ở đầu, tốt lành ở giữa, tốt lành ở cuối, có nghĩa, có lời hay; Ngài trình bày phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
It’s good to see such perfected ones.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được gặp những bậc A-la-hán như vậy thật là điều tốt lành.”
Atha kho nagaravindeyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavatā saddhiṁ sammodiṁsu; sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce bhagavato santike nāmagottaṁ sāvetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho nagaravindeyyake brāhmaṇagahapatike bhagavā etadavoca:
Then the brahmins and householders of Nagaravinda went up to the Buddha. Before sitting down to one side, some bowed, some exchanged greetings and polite conversation, some held up their cupped palms toward the Buddha, some announced their name and clan, while some kept silent. The Buddha said to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi các bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, một số đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số nói lời chào hỏi với Đức Phật, sau những lời chào hỏi thân thiện rồi ngồi xuống một bên; một số chắp tay hướng về Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số xưng danh tộc tại chỗ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với các bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda đang ngồi một bên:
“Sace vo, gahapatayo, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
“Householders, if wanderers who follow another religion were to ask you:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các gia chủ, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các người:
‘kathaṁbhūtā, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā’ti?
‘What kind of ascetic or brahmin doesn’t deserve honor, respect, reverence, and veneration?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch các gia chủ, hạng tỳ-kheo-bà-la-mon như thế nào thì không đáng được tôn kính, không đáng được cung kính, không đáng được tôn trọng, không đáng được cúng dường?’
Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha:
You should answer them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được hỏi như vậy, này các gia chủ, các người nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy:
‘ye te samaṇabrāhmaṇā cakkhuviññeyyesu rūpesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ caranti kāyena vācāya manasā, evarūpā samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā.
‘There are ascetics and brahmins who are not free of greed, hate, and delusion for sights known by the eye, whose minds are not settled internally, and who conduct themselves badly among the good by way of body, speech, and mind. They don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Có những tỳ-kheo-bà-la-mon chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si đối với các sắc do mắt nhận biết, nội tâm chưa an tịnh, thân ngữ ý hành xử lúc ngay lúc không ngay — hạng tỳ-kheo-bà-la-mon như vậy không đáng được tôn kính, không đáng được cung kính, không đáng được tôn trọng, không đáng được cúng dường.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Mayampi hi cakkhuviññeyyesu rūpesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ carāma kāyena vācāya manasā, tesaṁ no samacariyampi hetaṁ uttari apassataṁ.
Because we ourselves are not free of these things, so we do not see that they have any higher good conduct than us.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì chính chúng tôi cũng chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si đối với các sắc do mắt nhận biết, nội tâm chưa an tịnh, thân ngữ ý hành xử lúc ngay lúc không ngay, nên chúng tôi không thấy hạnh đồng đều của các vị ấy cao hơn chúng tôi.
Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā.
That’s why they don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, những tỳ-kheo-bà-la-mon ấy không đáng được tôn kính, không đáng được cung kính, không đáng được tôn trọng, không đáng được cúng dường.
Ye te samaṇabrāhmaṇā sotaviññeyyesu saddesu …
There are ascetics and brahmins who are not free of greed, hate, and delusion for sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những tỳ-kheo-bà-la-mon ấy, đối với các tiếng do tai nhận biết …
ghānaviññeyyesu gandhesu …
smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đối với các hương do mũi nhận biết …
jivhāviññeyyesu rasesu …
tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đối với các vị do lưỡi nhận biết …
kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu …
touches known by the body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đối với các xúc do thân nhận biết …
manoviññeyyesu dhammesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ caranti kāyena vācāya manasā, evarūpā samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā.
ideas known by the mind, who are not settled internally, and who conduct themselves badly among the good by way of body, speech, and mind. They don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các pháp do ý nhận biết, chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si, nội tâm chưa an tịnh, thân ngữ ý hành xử lúc ngay lúc không ngay — hạng tỳ-kheo-bà-la-mon như vậy không đáng được tôn kính, không đáng được cung kính, không đáng được tôn trọng, không đáng được cúng dường.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Mayampi hi manoviññeyyesu dhammesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ carāma kāyena vācāya manasā, tesaṁ no samacariyampi hetaṁ uttari apassataṁ.
Because we ourselves are not free of these things, so we do not see that they have any higher good conduct than us.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì chính chúng tôi cũng chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si đối với các pháp do ý nhận biết, nội tâm chưa an tịnh, thân ngữ ý hành xử lúc ngay lúc không ngay, nên chúng tôi không thấy hạnh đồng đều của các vị ấy cao hơn chúng tôi.
Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā na sakkātabbā na garukātabbā na mānetabbā na pūjetabbā’ti.
That’s why they don’t deserve honor, respect, reverence, and veneration.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, những tỳ-kheo-bà-la-mon ấy không đáng được tôn kính, không đáng được cung kính, không đáng được tôn trọng, không đáng được cúng dường.’
Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha.
When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được hỏi như vậy, này các gia chủ, các người nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.
Sace pana vo, gahapatayo, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
If wanderers of other religions were to ask you:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nếu, này các gia chủ, các du sĩ ngoại đạo hỏi các người:
‘kathaṁbhūtā, gahapatayo, samaṇabrāhmaṇā sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā’ti?
‘What kind of ascetic or brahmin deserves honor, respect, reverence, and veneration?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bạch các gia chủ, hạng tỳ-kheo-bà-la-mon như thế nào thì đáng được tôn kính, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường?’
Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha:
You should answer them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được hỏi như vậy, này các gia chủ, các người nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy:
‘ye te samaṇabrāhmaṇā cakkhuviññeyyesu rūpesu vītarāgā vītadosā vītamohā, ajjhattaṁ vūpasantacittā, samacariyaṁ caranti kāyena vācāya manasā, evarūpā samaṇabrāhmaṇā sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā.
‘There are ascetics and brahmins who are free of greed, hate, and delusion for sights known by the eye, whose minds are settled internally, and who conduct themselves well by way of body, speech, and mind. They deserve honor, respect, reverence, and veneration.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Có những tỳ-kheo-bà-la-mon đã ly tham, đã ly sân, đã ly si đối với các sắc do mắt nhận biết, nội tâm an tịnh, thân ngữ ý hành xử ngay lành đồng đều — hạng tỳ-kheo-bà-la-mon như vậy đáng được tôn kính, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Mayampi hi cakkhuviññeyyesu rūpesu avītarāgā avītadosā avītamohā, ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ carāma kāyena vācāya manasā, tesaṁ no samacariyampi hetaṁ uttari passataṁ.
Because we ourselves are not free of these things, but we see that they have a higher good conduct than us.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì chính chúng tôi cũng chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si đối với các sắc do mắt nhận biết, nội tâm chưa an tịnh, thân ngữ ý hành xử lúc ngay lúc không ngay, nên chúng tôi thấy hạnh đồng đều của các vị ấy cao hơn chúng tôi.
Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā.
That’s why they deserve honor, respect, reverence, and veneration.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, những tỳ-kheo-bà-la-mon ấy đáng được tôn kính, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường.
Ye te samaṇabrāhmaṇā sotaviññeyyesu saddesu …
There are ascetics and brahmins who are free of greed, hate, and delusion for sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những tỳ-kheo-bà-la-mon ấy, đối với các tiếng do tai nhận biết …
ghānaviññeyyesu gandhesu …
smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đối với các hương do mũi nhận biết …
jivhāviññeyyesu rasesu …
tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đối với các vị do lưỡi nhận biết …
kāyaviññeyyesu phoṭṭhabbesu …
touches known by the body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đối với các xúc do thân nhận biết …
manoviññeyyesu dhammesu vītarāgā vītadosā vītamohā, ajjhattaṁ vūpasantacittā, samacariyaṁ caranti kāyena vācāya manasā, evarūpā samaṇabrāhmaṇā sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā.
ideas known by the mind, whose minds are settled internally, and who conduct themselves well by way of body, speech, and mind. They deserve honor, respect, reverence, and veneration.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
các pháp do ý nhận biết, đã ly tham, đã ly sân, đã ly si, nội tâm an tịnh, thân ngữ ý hành xử ngay lành đồng đều — hạng tỳ-kheo-bà-la-mon như vậy đáng được tôn kính, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
Mayampi hi manoviññeyyesu dhammesu avītarāgā avītadosā avītamohā ajjhattaṁ avūpasantacittā, samavisamaṁ carāma kāyena vācāya manasā, tesaṁ no samacariyampi hetaṁ uttari passataṁ.
Because we ourselves are not free of these things, but we see that they have a higher good conduct than us.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì chính chúng tôi cũng chưa ly tham, chưa ly sân, chưa ly si đối với các pháp do ý nhận biết, nội tâm chưa an tịnh, thân ngữ ý hành xử lúc ngay lúc không ngay, nên chúng tôi thấy hạnh đồng đều của các vị ấy cao hơn chúng tôi.
Tasmā te bhonto samaṇabrāhmaṇā sakkātabbā garukātabbā mānetabbā pūjetabbā’ti.
That’s why they deserve honor, respect, reverence, and veneration.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, những tỳ-kheo-bà-la-mon ấy đáng được tôn kính, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường.’
Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha.
When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được hỏi như vậy, này các gia chủ, các người nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy:
Sace pana vo, gahapatayo, aññatitthiyā paribbājakā evaṁ puccheyyuṁ:
If wanderers of other religions were to ask you:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn nếu, này các gia chủ, các du sĩ ngoại đạo hỏi các người:
‘ke panāyasmantānaṁ ākārā, ke anvayā, yena tumhe āyasmanto evaṁ vadetha?
‘But what reasons and evidence do you have regarding those venerables that justifies saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Còn những bậc Đáng Tôn ấy, các đạo hữu dựa vào căn cứ nào, dựa vào dấu hiệu nào mà nói rằng:
Addhā te āyasmanto vītarāgā vā rāgavinayāya vā paṭipannā, vītadosā vā dosavinayāya vā paṭipannā, vītamohā vā mohavinayāya vā paṭipannā’ti?
“Clearly those venerables are free of greed, hate, and delusion, or practicing to be free of them”?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật vậy, những bậc Đáng Tôn ấy hoặc đã ly tham, hoặc đang thực hành để ly tham; hoặc đã ly sân, hoặc đang thực hành để ly sân; hoặc đã ly si, hoặc đang thực hành để ly si’?
Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyātha:
You should answer them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được hỏi như vậy, này các gia chủ, các người nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy:
‘tathā hi te āyasmanto araññavanapatthāni pantāni senāsanāni paṭisevanti.
‘It’s because those venerables frequent remote lodgings in the wilderness and the forest.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thật vậy, những bậc Đáng Tôn ấy thường đến những nơi trú ở xa xăm trong rừng rậm hoang vắng.
Natthi kho pana tattha tathārūpā cakkhuviññeyyā rūpā ye disvā disvā abhirameyyuṁ, natthi kho pana tattha tathārūpā sotaviññeyyā saddā ye sutvā sutvā abhirameyyuṁ, natthi kho pana tattha tathārūpā ghānaviññeyyā gandhā ye ghāyitvā ghāyitvā abhirameyyuṁ, natthi kho pana tattha tathārūpā jivhāviññeyyā rasā ye sāyitvā sāyitvā abhirameyyuṁ, natthi kho pana tattha tathārūpā kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā ye phusitvā phusitvā abhirameyyuṁ.
In such places there are no sights known by the eye to see and enjoy, there are no sounds known by the ear to hear and enjoy, no odors known by the nose to smell and enjoy, no flavors known by the tongue to taste and enjoy, and no touches known by the body to feel and enjoy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, không có những sắc do mắt nhận biết mà nhìn rồi nhìn vẫn còn ưa thích; không có những tiếng do tai nhận biết mà nghe rồi nghe vẫn còn ưa thích; không có những hương do mũi nhận biết mà ngửi rồi ngửi vẫn còn ưa thích; không có những vị do lưỡi nhận biết mà nếm rồi nếm vẫn còn ưa thích; không có những xúc do thân nhận biết mà chạm rồi chạm vẫn còn ưa thích.
Ime kho no, āvuso, ākārā, ime anvayā, yena mayaṁ evaṁ vadema—
These are the reasons and evidence that you have regarding those venerables that justifies saying,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây chính là những căn cứ, đây chính là những dấu hiệu của chúng tôi, mà chúng tôi nói rằng —
addhā te āyasmanto vītarāgā vā rāgavinayāya vā paṭipannā, vītadosā vā dosavinayāya vā paṭipannā, vītamohā vā mohavinayāya vā paṭipannā’ti.
“Clearly those venerables are free of greed, hate, and delusion, or practicing to be free of them”.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thật vậy, những bậc Đáng Tôn ấy hoặc đã ly tham, hoặc đang thực hành để ly tham; hoặc đã ly sân, hoặc đang thực hành để ly sân; hoặc đã ly si, hoặc đang thực hành để ly si.’
Evaṁ puṭṭhā tumhe, gahapatayo, tesaṁ aññatitthiyānaṁ paribbājakānaṁ evaṁ byākareyyāthā”ti.
When questioned by wanderers of other religions, that’s how you should answer them.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được hỏi như vậy, này các gia chủ, các người nên trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy.”
Evaṁ vutte, nagaravindeyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṁ etadavocuṁ:
When he had spoken, the brahmins and householders of Nagaravinda said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được nói vậy, các bà-la-môn gia chủ ở Nagaravinda nói với Đức Phật:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
“Excellent, worthy Gotama! Excellent!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama! Tuyệt vời thay, thưa Tôn giả Gotama!
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evamevaṁ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark so people with clear eyes can see what’s there, worthy Gotama has made the Teaching clear in many ways.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như dựng đứng lại vật bị lật ngược, phơi bày điều bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc lối, hay cầm ngọn đèn dầu trong bóng tối: ‘người có mắt thấy được các sắc’; cũng vậy, Tôn giả Gotama đã trình bày Pháp bằng nhiều phương tiện.
Ete mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca.
We go for refuge to the worthy Gotama, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng tôi xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng chúng tỳ-kheo.
Upāsake no bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete saraṇaṁ gate”ti.
From this day forth, may the worthy Gotama remember us as lay followers who have gone for refuge for life.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Tôn giả Gotama ghi nhận chúng tôi là những cư sĩ đã quy y từ hôm nay cho đến trọn đời.”
Nagaravindeyyasuttaṁ niṭṭhitaṁ aṭṭhamaṁ.
With the People of Nagaravinda is finished—the eighth.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Nagaravindā, bài thứ tám, kết thúc.