← Kinh Trung Bộ

MN145 · Majjhima Nikāya

Kinh Giáo Hóa Puṇṇa

Puṇṇovādasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Đức Phật ở gần Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Tôn giả Puṇṇa xin Đức Phật giáo hóa tóm tắt, để sau khi nghe pháp sẽ sống một mình, độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm, kiên quyết.

Đức Phật dạy: sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn; nếu vị tỳ-kheo hoan hỉ, hoan lạc, chấp thủ mà đứng giữ các sắc ấy thì hỷ khởi lên, và hỷ sanh thì khổ sanh. Công thức ấy được lặp lại cho tiếng, hương, vị, xúc, pháp do tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhận biết. Ngược lại, nếu vị tỳ-kheo không hoan hỉ, không hoan lạc, không chấp thủ mà đứng giữ, hỷ đoạn diệt, và hỷ diệt thì khổ diệt, cũng lặp lại cho từng môn.

Khi được hỏi sẽ sống ở xứ nào, Puṇṇa đáp sẽ sống ở xứ Sunāparanta. Đức Phật cảnh báo người Sunāparanta dữ tợn, thô bạo, và hỏi nếu họ mắng nhiếc phỉ báng thì nghĩ sao; Puṇṇa đáp sẽ nghĩ họ thật là tốt vì không đánh mình bằng tay. Câu hỏi được đẩy lên từng nấc: nếu bị đánh bằng tay thì nghĩ họ tốt vì không ném đá, nếu bị ném đá thì tốt vì không bị đánh bằng gậy, nếu bị đánh bằng gậy thì tốt vì không bị đâm bằng dao, nếu bị đâm bằng dao thì tốt vì không bị lấy mạng sống bằng dao sắc; và nếu bị lấy mạng sống, Puṇṇa đáp sẽ nghĩ: có những đệ tử của Đức Thế Tôn sợ hãi, xấu hổ, ghê tởm thân và mạng sống, đi tìm dao để tự vẫn, còn mình đã tìm được dao ấy mà không cần tìm kiếm.

Đức Phật tán thán: với sự tự chế và an tịnh như vậy, Puṇṇa có đủ khả năng sống ở xứ Sunāparanta. Puṇṇa ra đi, an trú tại đó, trong mùa an cư hướng dẫn khoảng năm trăm cư sĩ nam và năm trăm cư sĩ nữ được tín thọ, tự mình chứng đạt ba minh, rồi nhập Niết-bàn. Khi các tỳ-kheo hỏi về kiếp sau, Đức Phật xác nhận Puṇṇa là bậc hiền trí, hành theo pháp, không làm Ta phiền hà về pháp, và đã nhập diệt. Toàn bài gắn kết bài pháp về hỷ và khổ với tâm chuẩn bị sẵn sàng của người nhận pháp, và khép lại bằng quả chứng trọn vẹn của chính người được giáo hóa tóm tắt.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 426 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 9de65c20-ca92-4798-8583-b0969adad936 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: b1b33c37021824586d677e31f90a26d32e532f29326e33a199a4ba3ab41dfd99

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 426 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 9cfc950d-801a-46d5-b088-bdca3bd843c3 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: b1b33c37021824586d677e31f90a26d32e532f29326e33a199a4ba3ab41dfd99

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 426 từ, 4 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 1bd7baa3-2222-4e3b-99a3-c6123940c18d · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 11f49fc95ffa25422c5bf25db02486c88bd6afbfc101d957d087a14517025316

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 83 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 1b96c025-1702-4ea0-b68c-2c3cd8d56e25 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: dae90829a2946791b9162892d18e36d816769b5ea5b5ae3aaebebc473cfec894

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 83 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 0deb0d09-b633-4e11-93ab-4d9dd4237c7b · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: dae90829a2946791b9162892d18e36d816769b5ea5b5ae3aaebebc473cfec894

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 83 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 9dc27b49-ee56-4a97-b0a9-29c3506ea555 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 8f115203e6f6dee4be536055d35b4549e9c1872cf6c09eb57619cdbdf1ea8911

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

83/83 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

82/83 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

83/83 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 145
Middle Discourses 145
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 145
Puṇṇovādasutta
Advice to Puṇṇa
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Giáo Hóa Puṇṇa
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Atha kho āyasmā puṇṇo sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā puṇṇo bhagavantaṁ etadavoca:
Then in the late afternoon, Venerable Puṇṇa came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and said to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Puṇṇa, vào buổi chiều, từ chỗ thiền tịnh đứng dậy, đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Puṇṇa thưa với Đức Phật:
“sādhu maṁ, bhante, bhagavā saṅkhittena ovādena ovadatu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, mong Đức Phật giáo hóa con một cách tóm tắt; nghe pháp của Đức Phật rồi, con sẽ sống một mình, độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm, kiên quyết.”
“Tena hi, puṇṇa, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
“Well then, Puṇṇa, listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vậy thì, này Puṇṇa, hãy lắng nghe và chú tâm khéo léo, Ta sẽ nói.”
“Evaṁ, bhante”ti kho āyasmā puṇṇo bhagavato paccassosi.
“Yes, sir,” replied Puṇṇa.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vâng, bạch Ngài”, Tôn giả Puṇṇa vâng đáp Đức Phật.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“Santi kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
“Puṇṇa, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn;
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị tỳ-kheo hoan hỉ, hoan lạc, chấp thủ mà đứng giữ các sắc ấy,
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
this gives rise to relishing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nơi vị ấy, do hoan hỉ, hoan lạc, chấp thủ mà đứng giữ như vậy, hỷ khởi lên.
‘Nandīsamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi.
Relishing is the origin of suffering, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hỷ sanh thì khổ sanh, này Puṇṇa’ — Ta nói vậy.
Santi kho, puṇṇa, sotaviññeyyā saddā …
There are sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế tiếng được tai nhận biết …
ghānaviññeyyā gandhā …
smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hương được mũi nhận biết …
jivhāviññeyyā rasā …
tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị được lưỡi nhận biết …
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā …
touches known by the body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xúc được thân nhận biết …
manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế pháp được ý nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn.
Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati.
If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị tỳ-kheo hoan hỉ, hoan lạc, chấp thủ mà đứng giữ các sắc ấy,
Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī.
this gives rise to relishing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nơi vị ấy, do hoan hỉ, hoan lạc, chấp thủ mà đứng giữ như vậy, hỷ khởi lên.
‘Nandīsamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi.
Relishing is the origin of suffering, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hỷ sanh thì khổ sanh, này Puṇṇa’ — Ta nói vậy.
Santi ca kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn;
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị tỳ-kheo không hoan hỉ, không hoan lạc, không chấp thủ mà đứng giữ các sắc ấy,
Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati.
relishing ceases.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nơi vị ấy, do không hoan hỉ, không hoan lạc, không chấp thủ mà đứng giữ như vậy, hỷ đoạn diệt.
‘Nandīnirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi.
When relishing ceases, suffering ceases, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hỷ diệt thì khổ diệt, này Puṇṇa’ — Ta nói vậy.
Santi ca kho, puṇṇa, sotaviññeyyā saddā …
There are sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế tiếng được tai nhận biết …
ghānaviññeyyā gandhā …
smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hương được mũi nhận biết …
jivhāviññeyyā rasā …
tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị được lưỡi nhận biết …
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā …
touches known by the body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xúc được thân nhận biết …
manoviññeyyā dhammā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
ideas known by the mind, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế pháp được ý nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn.
Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati.
If a mendicant doesn’t approve, welcome, and keep clinging to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị tỳ-kheo không hoan hỉ, không hoan lạc, không chấp thủ mà đứng giữ các sắc ấy,
Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati.
relishing ceases.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nơi vị ấy, do không hoan hỉ, không hoan lạc, không chấp thủ mà đứng giữ như vậy, hỷ đoạn diệt.
‘Nandīnirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi.
When relishing ceases, suffering ceases, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Hỷ diệt thì khổ diệt, này Puṇṇa’ — Ta nói vậy.
Iminā ca tvaṁ, puṇṇa, mayā saṅkhittena ovādena ovadito katarasmiṁ janapade viharissasī”ti?
Puṇṇa, now that I’ve given you this brief advice, what country will you live in?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được Ta giáo hóa tóm tắt với lời giáo hóa này, này Puṇṇa, ngươi sẽ sống ở xứ nào?”
“Imināhaṁ, bhante, bhagavatā saṅkhittena ovādena ovadito, atthi sunāparanto nāma janapado, tatthāhaṁ viharissāmī”ti.
“Sir, there’s a country named Sunāparanta. I shall live there.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, có một xứ tên Sunāparanta; con sẽ sống ở đó.”
“Caṇḍā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā;
“The people of Sunāparanta are wild and rough, Puṇṇa.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Người Sunāparanta dữ tợn, này Puṇṇa.
pharusā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā.
The people of Sunāparanta are harsh, Puṇṇa.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người Sunāparanta thô bạo, này Puṇṇa.
Sace taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tattha te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
If they abuse and insult you, what will you think of them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu họ mắng nhiếc phỉ báng ngươi, này Puṇṇa, ngươi nghĩ sao?”
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tattha me evaṁ bhavissati:
“If they abuse and insult me, I will think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu họ mắng nhiếc phỉ báng con, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vầy:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime pāṇinā pahāraṁ dentī’ti.
‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t hit me with their fists.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những người Sunāparanta thật là tốt, thật là tốt, vì chúng không đánh ngươi bằng tay.’
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
That’s what I’ll think, Blessed One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thế Tôn.
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
That’s what I’ll think, Holy One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thiện Thệ.”
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“But if they do hit you with their fists, what will you think of them then?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Còn nếu họ đánh ngươi bằng tay, này Puṇṇa, ngươi nghĩ sao?”
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā pāṇinā pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati:
“If they hit me with their fists, I’ll think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu họ đánh con bằng tay, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vầy:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime leḍḍunā pahāraṁ dentī’ti.
‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t throw stones at me.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những người Sunāparanta thật là tốt, thật là tốt, vì chúng không ném đá con.’
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
That’s what I’ll think, Blessed One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thế Tôn.
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
That’s what I’ll think, Holy One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thiện Thệ.”
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“But if they do throw stones at you, what will you think of them then?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Còn nếu họ ném đá ngươi, này Puṇṇa, ngươi nghĩ sao?”
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā leḍḍunā pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati:
“If they throw stones at me, I’ll think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu họ ném đá con, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vầy:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime daṇḍena pahāraṁ dentī’ti.
‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t beat me with a club.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những người Sunāparanta thật là tốt, thật là tốt, vì chúng không đánh con bằng gậy.’
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
That’s what I’ll think, Blessed One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thế Tôn.
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
That’s what I’ll think, Holy One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thiện Thệ.”
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“But if they do beat you with a club, what will you think of them then?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Còn nếu họ đánh ngươi bằng gậy, này Puṇṇa, ngươi nghĩ sao?”
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā daṇḍena pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati:
“If they beat me with a club, I’ll think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu họ đánh con bằng gậy, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vầy:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime satthena pahāraṁ dentī’ti.
‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t stab me with a knife.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những người Sunāparanta thật là tốt, thật là tốt, vì chúng không đâm con bằng dao.’
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
That’s what I’ll think, Blessed One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thế Tôn.
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
That’s what I’ll think, Holy One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thiện Thệ.”
“Sace pana te, puṇṇa, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“But if they do stab you with a knife, what will you think of them then?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Còn nếu họ đâm ngươi bằng dao, này Puṇṇa, ngươi nghĩ sao?”
“Sace me, bhante, sunāparantakā manussā satthena pahāraṁ dassanti, tattha me evaṁ bhavissati:
“If they stab me with a knife, I’ll think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu họ đâm con bằng dao, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vầy:
‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ maṁ nayime tiṇhena satthena jīvitā voropentī’ti.
‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don’t take my life with a sharp knife.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những người Sunāparanta thật là tốt, thật là tốt, vì chúng không lấy mạng sống của con bằng dao sắc.’
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
That’s what I’ll think, Blessed One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thế Tôn.
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
That’s what I’ll think, Holy One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thiện Thệ.”
“Sace pana taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tattha pana te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti?
“But if they do take your life with a sharp knife, what will you think of them then?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Còn nếu chúng lấy mạng sống của ngươi bằng dao sắc, này Puṇṇa, ngươi nghĩ sao?”
“Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā tiṇhena satthena jīvitā voropessanti, tattha me evaṁ bhavissati:
“If they take my life with a sharp knife, I’ll think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu chúng lấy mạng sống của con bằng dao sắc, bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ như vầy:
‘santi kho bhagavato sāvakā kāye ca jīvite ca aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti. Taṁ me idaṁ apariyiṭṭhaṁyeva satthahārakaṁ laddhan’ti.
‘There are disciples of the Buddha who looked for a suicide weapon because they were horrified, repelled, and disgusted with the body and with life. And I have found this without looking!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Có những đệ tử của Đức Thế Tôn sợ hãi, xấu hổ, ghê tởm thân và mạng sống, đi tìm dao để tự vẫn. Còn con đã tìm được dao ấy mà không cần tìm kiếm.’
Evamettha, bhagavā, bhavissati;
That’s what I’ll think, Blessed One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thế Tôn.
evamettha, sugata, bhavissatī”ti.
That’s what I’ll think, Holy One.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Con sẽ nghĩ như vậy, bạch Thiện Thệ.”
“Sādhu sādhu, puṇṇa.
“Good, good Puṇṇa!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, lành thay, này Puṇṇa.
Sakkhissasi kho tvaṁ, puṇṇa, iminā damūpasamena samannāgato sunāparantasmiṁ janapade viharituṁ.
Having such self-control and peacefulness, you will be quite capable of living in Sunāparanta.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với sự tự chế và an tịnh như vậy, này Puṇṇa, ngươi có đủ khả năng sống ở xứ Sunāparanta.
Yassadāni tvaṁ, puṇṇa, kālaṁ maññasī”ti.
Now, Puṇṇa, go at your convenience.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nay, này Puṇṇa, ngươi cứ tùy thời mà đi.”
Atha kho āyasmā puṇṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sunāparanto janapado tena cārikaṁ pakkāmi.
And then Puṇṇa welcomed and agreed with the Buddha’s words. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right. Then he set his lodgings in order and, taking his bowl and robe, set out for Sunāparanta.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Puṇṇa, sau khi hoan hỷ tán đồng lời Đức Phật nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng quanh Ngài, thu dọn chỗ nghỉ, cầm bát và y ngoài, ra đi về hướng xứ Sunāparanta.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sunāparanto janapado tadavasari.
Traveling stage by stage, he arrived at Sunāparanta,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Từng bước du hành, vị ấy đến xứ Sunāparanta,
Tatra sudaṁ āyasmā puṇṇo sunāparantasmiṁ janapade viharati.
and stayed there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và an trú tại đó.
Atha kho āyasmā puṇṇo tenevantaravassena pañcamattāni upāsakasatāni paṭivedesi, tenevantaravassena pañcamattāni upāsikasatāni paṭivedesi, tenevantaravassena tisso vijjā sacchākāsi.
Within that rainy season he confirmed around five hundred male and five hundred female lay followers. And within that same rainy season he realized the three knowledges.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong mùa an cư ấy, Tôn giả Puṇṇa hướng dẫn khoảng năm trăm cư sĩ nam được tín thọ, hướng dẫn khoảng năm trăm cư sĩ nữ được tín thọ; và trong mùa an cư ấy, vị ấy tự mình chứng đạt ba minh.
Atha kho āyasmā puṇṇo aparena samayena parinibbāyi.
Some time later he became fully extinguished.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về sau một thời gian, Tôn giả Puṇṇa nhập Niết-bàn.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi nhiều vị tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các vị tỳ-kheo ấy thưa với Đức Phật:
“yo so, bhante, puṇṇo nāma kulaputto bhagavatā saṅkhittena ovādena ovadito so kālaṅkato.
“Sir, the gentleman named Puṇṇa, who was advised in brief by the Buddha, has passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, người con gia đình tên Puṇṇa, được Đức Phật giáo hóa tóm tắt, đã mạng chung.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Where has he been reborn in his next life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy sinh về đâu? Kiếp sau của vị ấy thế nào?”
“Paṇḍito, bhikkhave, puṇṇo kulaputto paccapādi dhammassānudhammaṁ, na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ viheṭhesi.
“Mendicants, Puṇṇa was astute. He practiced in line with the teaching, and did not trouble me about the teachings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, người con gia đình Puṇṇa là bậc hiền trí, hành trì theo pháp, theo pháp mà hành, và không làm Ta phiền hà về pháp.
Parinibbuto, bhikkhave, puṇṇo kulaputto”ti.
Puṇṇa has become fully quenched.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, người con gia đình Puṇṇa đã nhập diệt.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán đồng lời Đức Phật dạy.
Puṇṇovādasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Giáo Hóa Puṇṇa, bài thứ ba, kết thúc.