← Kinh Trung Bộ

MN140 · Majjhima Nikāya

Kinh Phân Biệt Giới

Dhātuvibhaṅgasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Đức Phật du hành xứ Magadha đến Rājagaha và xin trú đêm trong lò gốm của thợ gốm Bhaggava. Ở đó đã có Pukkusāti, người xuất gia vì niềm tin vào Đức Phật nhưng chưa từng gặp Ngài. Sau khi cả hai ngồi thiền phần lớn đêm, Đức Phật hỏi vị ấy theo ai xuất gia; Pukkusāti đáp là theo sa-môn Gotama đang an trú ở Sāvatthī, người ông chưa từng gặp, gặp cũng không nhận ra. Nhận ra người ấy xuất gia theo mình, Đức Phật bắt đầu thuyết pháp.

Kinh nêu bản tóm lược: người này có sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn ý lập; nơi đứng ấy, các dòng tưởng tư không chảy, vị muni được gọi là an tịnh. Sáu giới gồm đất, nước, lửa, gió, hư không, thức; sáu xúc xứ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; mười tám ý hành là ba cách suy tầm hỷ, ưu, xả qua sáu môn; bốn ý lập là tuệ, chơn thật, xả, an tịnh.

Về lời dặn chớ phóng dật về tuệ, kinh phân tích từng giới nội, từ đất là những gì cứng đến hư không là các chỗ trống, và mọi giới, nội lẫn ngoại, cần được thấy bằng chánh tuệ là không phải của ta, không phải ta, không phải ngã của ta, để nhàm chán, ly tham. Khi đó chỉ còn lại thức thuần tịnh, sáng suốt: thọ lạc, thọ khổ, thọ không khổ không lạc do duyên xúc cảm khởi lên, và khi xúc cảm ấy diệt thì thọ ấy diệt.

Tiếp đó chỉ còn lại xả thuần tịnh. Vị ấy biết hướng xả ấy đến bốn xứ vô sắc vẫn là pháp hữu vi; không tác hành, không tư tầm cho hữu hoặc phi hữu, vị ấy không chấp thủ gì, không ưu nhiệt, chứng nhập Niết-bàn. Vị ấy cảm thọ mọi thọ một cách ly hệ, không chấp trước, không hoan hỉ; sau khi thân hoại, mọi giác thọ không được hoan hỉ sẽ mát lạnh. Cuối kinh, các tưởng tư như ta là, ta sẽ có, ta sẽ không có được gọi là bệnh, ung nhọt, mũi tên; vượt qua tất cả, vị muni được gọi là an tịnh.

Khi nghe xong, Pukkusāti nhận ra bậc Đạo Sư đã đến với mình, sám hối vì đã xưng đạo hữu, rồi xin thọ đại giới nhưng không được nhận vì bát và y chưa đủ; trên đường đi tìm bát và y, ông bị một con bò đi lạc cướp mất mạng sống. Đức Phật xác nhận ông đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử và sẽ Niết-bàn nơi cõi hóa sinh, không trở lại. Toàn bài hội tụ về bậc muni an tịnh, nơi mọi dòng tưởng tư về ta không còn chảy.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: f1de7006-6942-4934-9cd9-c8b290cdf215 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 68406792fda5efe64171b719063d6eeb1a27e85fff251b6d90d6f9af7d136efb

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 088decdd-bc85-4445-8af1-00e750df77aa · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 68406792fda5efe64171b719063d6eeb1a27e85fff251b6d90d6f9af7d136efb

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 239 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: cb312fcf-a3d1-48c8-b3b9-55ff14313ebf · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 52e0377c1b6d2d92d73d041aaff86a657cf80f8bf388b8ce8673ef6178d2ff3e

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 239 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: e1f58db3-25e4-469d-9f6a-affef78f564d · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 52e0377c1b6d2d92d73d041aaff86a657cf80f8bf388b8ce8673ef6178d2ff3e

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

239/239 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

236/239 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

239/239 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 140
Middle Discourses 140
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 140
Dhātuvibhaṅgasutta
The Analysis of the Elements
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Phân Biệt Giới
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā magadhesu cārikaṁ caramāno yena rājagahaṁ tadavasari;
At one time the Buddha was wandering in the Magadhan lands when he arrived at Rājagaha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật đang du hành ở xứ Magadha, rồi đến Rājagaha.
yena bhaggavo kumbhakāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhaggavaṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
He went to see Bhaggava the potter, and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài đi đến chỗ người thợ gốm Bhaggava; sau khi đến, nói với người thợ gốm Bhaggava:
“sace te, bhaggava, agaru viharemu āvesane ekarattan”ti.
“Bhaggava, if it is no trouble, I’d like to spend a single night in your workshop.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa ngài, nếu không phiền, xin cho tôi ở trong lò gốm một đêm.”
“Na kho me, bhante, garu.
“It’s no trouble, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Ngài, không phiền gì.
Atthi cettha pabbajito paṭhamaṁ vāsūpagato.
But there’s a renunciate already staying there.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng ở đây đã có một người xuất gia đến ở trước.
Sace so anujānāti, viharatha, bhante, yathāsukhan”ti.
If he allows it, sir, you may stay as long as you please.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị ấy đồng ý, xin Ngài cứ ở bao lâu tùy ý.”
Tena kho pana samayena pukkusāti nāma kulaputto bhagavantaṁ uddissa saddhāya agārasmā anagāriyaṁ pabbajito.
Now at that time a gentleman named Pukkusāti had gone forth out of faith from the lay life to homelessness in the Buddha’s name.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc bấy giờ, có người con gia đình tên Pukkusāti đã xuất gia từ đời sống tại gia đến đời không nhà, niềm tin vào Đức Phật.
So tasmiṁ kumbhakārāvesane paṭhamaṁ vāsūpagato hoti.
And it was he who had first taken up residence in the workshop.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và chính vị ấy là người đã đến ở trước trong lò gốm ấy.
Atha kho bhagavā yenāyasmā pukkusāti tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ pukkusātiṁ etadavoca:
Then the Buddha approached Venerable Pukkusāti and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật đi đến chỗ Tôn giả Pukkusāti; sau khi đến, nói với Tôn giả Pukkusāti:
“sace te, bhikkhu, agaru viharemu āvesane ekarattan”ti.
“Mendicant, if it is no trouble, I’d like to spend a single night in the workshop.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này tỳ-kheo, nếu không phiền, xin cho tôi ở trong lò gốm một đêm.”
“Urundaṁ, āvuso, kumbhakārāvesanaṁ.
“The potter’s workshop is spacious, reverend.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa đạo hữu, lò gốm này rộng rãi.
Viharatāyasmā yathāsukhan”ti.
Stay as long as you please.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin Tôn giả cứ ở bao lâu tùy ý.”
Atha kho bhagavā kumbhakārāvesanaṁ pavisitvā ekamantaṁ tiṇasanthārakaṁ paññāpetvā nisīdi pallaṅkaṁ ābhujitvā ujuṁ kāyaṁ paṇidhāya parimukhaṁ satiṁ upaṭṭhapetvā.
Then the Buddha entered the workshop and spread out a grass mat to one side. He sat down cross-legged, set his body straight, and brought mindfulness to the present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật, sau khi vào trong lò gốm, trải một lớp cỏ ở một bên, ngồi xuống kiết già, giữ thân thẳng, thiết lập niệm trước mặt.
Atha kho bhagavā bahudeva rattiṁ nisajjāya vītināmesi.
He spent much of the night sitting in meditation,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật trải qua phần lớn đêm trong tư thế ngồi.
Āyasmāpi kho pukkusāti bahudeva rattiṁ nisajjāya vītināmesi.
and so did Pukkusāti.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn Tôn giả Pukkusāti cũng trải qua phần lớn đêm trong tư thế ngồi.
Atha kho bhagavato etadahosi:
Then it occurred to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật suy nghĩ:
“pāsādikaṁ kho ayaṁ kulaputto iriyati.
“This gentleman’s behavior is impressive.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Người con gia đình này có oai nghi tế hạnh.
Yannūnāhaṁ puccheyyan”ti.
Why don’t I question him?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ta hãy hỏi vị ấy.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ pukkusātiṁ etadavoca:
So the Buddha said to Pukkusāti,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật nói với Tôn giả Pukkusāti:
“kaṁsi tvaṁ, bhikkhu, uddissa pabbajito? Ko vā te satthā? Kassa vā tvaṁ dhammaṁ rocesī”ti?
“In whose name have you gone forth, mendicant? Who is your Teacher? Whose teaching do you believe in?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này tỳ-kheo, ngươi xuất gia theo ai? Ai là Đạo Sư của ngươi? Ngươi ưa thích pháp của ai?”
“Atthāvuso, samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito.
“Reverend, there is the ascetic Gotama—a Sakyan, gone forth from a Sakyan family.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa đạo hữu, có sa-môn Gotama, con vua Sakyā, xuất gia từ dòng họ Sakya.
Taṁ kho pana bhagavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
He has this good reputation:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Về Đức Thế Tôn Gotama ấy, tiếng tốt đồn như vầy:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc vô thượng điều phục những người đáng được điều phục, bậc thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn.’
Tāhaṁ bhagavantaṁ uddissa pabbajito.
I’ve gone forth in his name.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi xuất gia theo Đức Thế Tôn ấy.
So ca me bhagavā satthā.
That Blessed One is my Teacher,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Thế Tôn ấy là Đạo Sư của tôi,
Tassa cāhaṁ bhagavato dhammaṁ rocemī”ti.
and I believe in his teaching.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và tôi ưa thích pháp của Đức Thế Tôn ấy.”
“Kahaṁ pana, bhikkhu, etarahi so bhagavā viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti.
“But mendicant, where is the Blessed One at present, the perfected one, the fully awakened Buddha?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhưng này tỳ-kheo, hiện nay Đức Thế Tôn ấy đang ở đâu, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác?”
“Atthāvuso, uttaresu janapadesu sāvatthi nāma nagaraṁ.
“In the northern lands there is a city named Sāvatthī.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa đạo hữu, ở các xứ phía Bắc có thành phố tên Sāvatthī.
Tattha so bhagavā etarahi viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti.
There the Blessed One is now staying, the perfected one, the fully awakened Buddha.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, Đức Thế Tôn ấy hiện đang an trú, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác.”
“Diṭṭhapubbo pana te, bhikkhu, so bhagavā;
“But have you ever seen that Buddha?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Còn này tỳ-kheo, ngươi đã từng thấy Đức Thế Tôn ấy chưa;
disvā ca pana jāneyyāsī”ti?
Would you recognize him if you saw him?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thấy rồi ngươi có nhận ra không?”
“Na kho me, āvuso, diṭṭhapubbo so bhagavā;
“No, I’ve never seen him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa đạo hữu, tôi chưa từng thấy Đức Thế Tôn ấy;
disvā cāhaṁ na jāneyyan”ti.
and I wouldn’t recognize him if I did.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
dù thấy, tôi cũng không nhận ra.”
Atha kho bhagavato etadahosi:
Then it occurred to the Buddha,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật suy nghĩ:
“mamañca khvāyaṁ kulaputto uddissa pabbajito.
“This gentleman has gone forth in my name.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Người con gia đình này xuất gia theo Ta.
Yannūnassāhaṁ dhammaṁ deseyyan”ti.
Why don’t I teach him the Dhamma?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ta hãy thuyết pháp cho vị ấy.”
Atha kho bhagavā āyasmantaṁ pukkusātiṁ āmantesi:
So the Buddha said to Pukkusāti,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật gọi Tôn giả Pukkusāti:
“dhammaṁ te, bhikkhu, desessāmi.
“Mendicant, I shall teach you the Dhamma.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết pháp cho ngươi.
Taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi; bhāsissāmī”ti.
Listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy lắng nghe và chú tâm khéo léo, Ta sẽ nói.”
“Evamāvuso”ti kho āyasmā pukkusāti bhagavato paccassosi.
“Yes, reverend,” replied Pukkusāti.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vâng, thưa đạo hữu”, Tôn giả Pukkusāti vâng đáp.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“‘Cha dhāturo ayaṁ, bhikkhu, puriso cha phassāyatano aṭṭhārasa manopavicāro caturādhiṭṭhāno;
“‘This person has six elements, six fields of contact, eighteen mental preoccupations, and four foundations.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“‘Người này, này tỳ-kheo, có sáu giới, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn ý lập;
yattha ṭhitaṁ maññassavā nappavattanti, maññassave kho pana nappavattamāne muni santoti vuccati.
Where they stand, the streams of conceiving do not flow. And where the streams of conceiving do not flow, they are called a sage at peace.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nơi đứng ấy, các dòng tưởng tư không chảy; các dòng tưởng tư không chảy, vị muni được gọi là an tịnh.
Paññaṁ nappamajjeyya, saccamanurakkheyya, cāgamanubrūheyya, santimeva so sikkheyyā’ti—
Do not neglect wisdom; preserve truth; foster generosity; and train only for peace.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chớ phóng dật về tuệ, gìn giữ chơn thật, tu tập xả ly, cứ an tịnh mà học.’ —
ayamuddeso dhātuvibhaṅgassa.
This is the summary recital for the analysis of the elements.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là bản tóm lược của sự phân biệt giới.
‘Cha dhāturo ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has six elements.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có sáu giới’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Chayimā, bhikkhu, dhātuyo—
There are these six elements:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có sáu giới này, này tỳ-kheo, đó là:
pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu.
the elements of earth, water, fire, air, space, and consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sáu giới: giới đất, giới nước, giới lửa, giới gió, giới hư không, giới thức.
‘Cha dhāturo ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has six elements.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có sáu giới’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Cha phassāyatano ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has six fields of contact.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có sáu xúc xứ’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Cakkhusamphassāyatanaṁ, sotasamphassāyatanaṁ, ghānasamphassāyatanaṁ, jivhāsamphassāyatanaṁ, kāyasamphassāyatanaṁ, manosamphassāyatanaṁ.
The fields of contact of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xúc xứ mắt, xúc xứ tai, xúc xứ mũi, xúc xứ lưỡi, xúc xứ thân, xúc xứ ý.
‘Cha phassāyatano ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has six fields of contact.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có sáu xúc xứ’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Aṭṭhārasa manopavicāro ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has eighteen mental preoccupations.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có mười tám ý hành’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Cakkhunā rūpaṁ disvā somanassaṭṭhāniyaṁ rūpaṁ upavicarati, domanassaṭṭhāniyaṁ rūpaṁ upavicarati, upekkhāṭṭhāniyaṁ rūpaṁ upavicarati;
Seeing a sight with their eyes, one is preoccupied with a sight that’s a basis for happiness or sadness or equanimity.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy sắc bằng mắt, người ấy suy tầm sắc đáng đem lại hỷ, suy tầm sắc đáng đem lại ưu, suy tầm sắc đáng đem lại xả;
sotena saddaṁ sutvā …pe…
Hearing a sound with their ears …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nghe tiếng bằng tai …
ghānena gandhaṁ ghāyitvā …
Smelling an odor with their nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngửi hương bằng mũi …
jivhāya rasaṁ sāyitvā …
Tasting a flavor with their tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếm vị bằng lưỡi …
kāyena phoṭṭhabbaṁ phusitvā …
Encountering a touch with their body …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cảm xúc bằng thân …
manasā dhammaṁ viññāya somanassaṭṭhāniyaṁ dhammaṁ upavicarati, domanassaṭṭhāniyaṁ dhammaṁ upavicarati, upekkhāṭṭhāniyaṁ dhammaṁ upavicarati—
Becoming conscious of an idea with their mind, one is preoccupied with an idea that’s a basis for happiness or sadness or equanimity.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Biết pháp bằng ý, người ấy suy tầm pháp đáng đem lại hỷ, suy tầm pháp đáng đem lại ưu, suy tầm pháp đáng đem lại xả —
iti cha somanassupavicārā, cha domanassupavicārā, cha upekkhupavicārā.
So there are six preoccupations with happiness, six preoccupations with sadness, and six preoccupations with equanimity.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
như vậy là sáu hỷ suy tầm, sáu ưu suy tầm, sáu xả suy tầm.
‘Aṭṭhārasa manopavicāro ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has eighteen mental preoccupations.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có mười tám ý hành’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Caturādhiṭṭhāno ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has four foundations.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có bốn ý lập’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Paññādhiṭṭhāno, saccādhiṭṭhāno, cāgādhiṭṭhāno, upasamādhiṭṭhāno.
The foundations of wisdom, truth, generosity, and peace.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ý lập tuệ, ý lập chơn thật, ý lập xả, ý lập an tịnh.
‘Caturādhiṭṭhāno ayaṁ, bhikkhu, puriso’ti—
‘This person has four foundations.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Người này, này tỳ-kheo, có bốn ý lập’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Paññaṁ nappamajjeyya, saccamanurakkheyya, cāgamanubrūheyya, santimeva so sikkheyyā’ti—
‘Do not neglect wisdom; preserve truth; foster generosity; and train only for peace.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chớ phóng dật về tuệ, gìn giữ chơn thật, tu tập xả ly, cứ an tịnh mà học.’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Kathañca, bhikkhu, paññaṁ nappamajjati?
And how does one not neglect wisdom?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và thế nào, này tỳ-kheo, là không phóng dật về tuệ?
Chayimā, bhikkhu, dhātuyo—
There are these six elements:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có sáu giới này, này tỳ-kheo, đó là:
pathavīdhātu, āpodhātu, tejodhātu, vāyodhātu, ākāsadhātu, viññāṇadhātu.
the elements of earth, water, fire, air, space, and consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sáu giới: giới đất, giới nước, giới lửa, giới gió, giới hư không, giới thức.
Katamā ca, bhikkhu, pathavīdhātu?
And what is the earth element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là giới đất?
Pathavīdhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā.
The earth element may be interior or exterior.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giới đất có thể là nội hay ngoại.
Katamā ca, bhikkhu, ajjhattikā pathavīdhātu?
And what is the interior earth element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là nội giới đất?
Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ kakkhaḷaṁ kharigataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ—
Anything internal, personal, that’s hard, solid, and appropriated. This includes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ gì nội, thuộc cá nhân, cứng, có tính cứng, được thủ chấp — đó là:
kesā lomā nakhā dantā taco maṁsaṁ nhāru aṭṭhi aṭṭhimiñjaṁ vakkaṁ hadayaṁ yakanaṁ kilomakaṁ pihakaṁ papphāsaṁ antaṁ antaguṇaṁ udariyaṁ karīsaṁ, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ kakkhaḷaṁ kharigataṁ upādinnaṁ—
head hair, body hair, nails, teeth, skin, flesh, sinews, bones, bone marrow, kidneys, heart, liver, diaphragm, spleen, lungs, intestines, mesentery, undigested food, feces, or anything else internal, personal, that’s hard, solid, and appropriated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, màng ngăn, lá lách, phổi, ruột non, ruột già, đồ ăn chưa tiêu, phân, hay bất cứ gì khác nội, thuộc cá nhân, cứng, có tính cứng, được thủ chấp.
ayaṁ vuccati, bhikkhu, ajjhattikā pathavīdhātu.
This is called the interior earth element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi, này tỳ-kheo, là nội giới đất.
Yā ceva kho pana ajjhattikā pathavīdhātu yā ca bāhirā pathavīdhātu pathavīdhāturevesā.
The interior earth element and the exterior earth element are just the earth element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cả nội giới đất lẫn ngoại giới đất, đây chính là giới đất.
‘Taṁ netaṁ mama nesohamasmi na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây không phải của ta, ta không phải cái này, cái này không phải ngã của ta’ — điều này cần được thấy như thật bằng chánh tuệ.
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā pathavīdhātuyā nibbindati, pathavīdhātuyā cittaṁ virājeti.
When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the earth element, detaching the mind from the earth element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán với giới đất, tâm vị ấy ly tham với giới đất.
Katamā ca, bhikkhu, āpodhātu?
And what is the water element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là giới nước?
Āpodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā.
The water element may be interior or exterior.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giới nước có thể là nội hay ngoại.
Katamā ca, bhikkhu, ajjhattikā āpodhātu?
And what is the interior water element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là nội giới nước?
Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ āpo āpogataṁ upādinnaṁ seyyathidaṁ—
Anything internal, personal, that’s water, watery, and appropriated. This includes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ gì nội, thuộc cá nhân, nước, có tính nước, được thủ chấp — đó là:
pittaṁ semhaṁ pubbo lohitaṁ sedo medo assu vasā kheḷo siṅghāṇikā lasikā muttaṁ, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ āpo āpogataṁ upādinnaṁ—
bile, phlegm, pus, blood, sweat, fat, tears, grease, saliva, snot, synovial fluid, urine, or anything else internal, personal, that’s water, watery, and appropriated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, dầu mỡ, nước mắt, mỡ da, nước bọt, nước mũi, dịch khớp, nước tiểu, hay bất cứ gì khác nội, thuộc cá nhân, nước, có tính nước, được thủ chấp.
ayaṁ vuccati, bhikkhu, ajjhattikā āpodhātu.
This is called the interior water element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi, này tỳ-kheo, là nội giới nước.
Yā ceva kho pana ajjhattikā āpodhātu yā ca bāhirā āpodhātu āpodhāturevesā.
The interior water element and the exterior water element are just the water element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cả nội giới nước lẫn ngoại giới nước, đây chính là giới nước.
‘Taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây không phải của ta, ta không phải cái này, cái này không phải ngã của ta’ — điều này cần được thấy như thật bằng chánh tuệ.
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā āpodhātuyā nibbindati, āpodhātuyā cittaṁ virājeti.
When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the water element, detaching the mind from the water element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán với giới nước, tâm vị ấy ly tham với giới nước.
Katamā ca, bhikkhu, tejodhātu?
And what is the fire element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là giới lửa?
Tejodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā.
The fire element may be interior or exterior.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giới lửa có thể là nội hay ngoại.
Katamā ca, bhikkhu, ajjhattikā tejodhātu?
And what is the interior fire element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là nội giới lửa?
Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ tejo tejogataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ—
Anything internal, personal, that’s fire, fiery, and appropriated. This includes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ gì nội, thuộc cá nhân, lửa, có tính lửa, được thủ chấp — đó là:
yena ca santappati, yena ca jīrīyati, yena ca pariḍayhati, yena ca asitapītakhāyitasāyitaṁ sammā pariṇāmaṁ gacchati, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ tejo tejogataṁ upādinnaṁ—
that which warms, that which ages, that which heats you up when feverish, that which properly digests food and drink; or anything else internal, personal, that’s fire, fiery, and appropriated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
những gì làm ấm, những gì làm già hóa, những gì làm nóng bừng, những gì làm thức ăn đồ uống được tiêu hóa đúng cách, hay bất cứ gì khác nội, thuộc cá nhân, lửa, có tính lửa, được thủ chấp.
ayaṁ vuccati, bhikkhu, ajjhattikā tejodhātu.
This is called the interior fire element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi, này tỳ-kheo, là nội giới lửa.
Yā ceva kho pana ajjhattikā tejodhātu yā ca bāhirā tejodhātu tejodhāturevesā.
The interior fire element and the exterior fire element are just the fire element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cả nội giới lửa lẫn ngoại giới lửa, đây chính là giới lửa.
‘Taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây không phải của ta, ta không phải cái này, cái này không phải ngã của ta’ — điều này cần được thấy như thật bằng chánh tuệ.
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā tejodhātuyā nibbindati, tejodhātuyā cittaṁ virājeti.
When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the fire element, detaching the mind from the fire element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán với giới lửa, tâm vị ấy ly tham với giới lửa.
Katamā ca, bhikkhu, vāyodhātu?
And what is the air element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là giới gió?
Vāyodhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā.
The air element may be interior or exterior.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giới gió có thể là nội hay ngoại.
Katamā ca, bhikkhu, ajjhattikā vāyodhātu?
And what is the interior air element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là nội giới gió?
Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ vāyo vāyogataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ—
Anything internal, personal, that’s air, airy, and appropriated. This includes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ gì nội, thuộc cá nhân, gió, có tính gió, được thủ chấp — đó là:
uddhaṅgamā vātā adhogamā vātā kucchisayā vātā koṭṭhāsayā vātā aṅgamaṅgānusārino vātā assāso passāso iti, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ vāyo vāyogataṁ upādinnaṁ—
winds that go up or down, winds in the belly or the bowels, winds that flow through the limbs, in-breaths and out-breaths; or anything else internal, personal, that’s air, airy, and appropriated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
những ngọn gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió trong ruột, gió chạy theo các chi, hơi thở vào, hơi thở ra, hay bất cứ gì khác nội, thuộc cá nhân, gió, có tính gió, được thủ chấp.
ayaṁ vuccati, bhikkhu, ajjhattikā vāyodhātu.
This is called the interior air element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi, này tỳ-kheo, là nội giới gió.
Yā ceva kho pana ajjhattikā vāyodhātu yā ca bāhirā vāyodhātu vāyodhāturevesā.
The interior air element and the exterior air element are just the air element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cả nội giới gió lẫn ngoại giới gió, đây chính là giới gió.
‘Taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây không phải của ta, ta không phải cái này, cái này không phải ngã của ta’ — điều này cần được thấy như thật bằng chánh tuệ.
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā vāyodhātuyā nibbindati, vāyodhātuyā cittaṁ virājeti.
When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the air element, detaching the mind from the air element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán với giới gió, tâm vị ấy ly tham với giới gió.
Katamā ca, bhikkhu, ākāsadhātu?
And what is the space element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là giới hư không?
Ākāsadhātu siyā ajjhattikā siyā bāhirā.
The space element may be interior or exterior.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giới hư không có thể là nội hay ngoại.
Katamā ca, bhikkhu, ajjhattikā ākāsadhātu?
And what is the interior space element?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này tỳ-kheo, là nội giới hư không?
Yaṁ ajjhattaṁ paccattaṁ ākāsaṁ ākāsagataṁ upādinnaṁ, seyyathidaṁ—
Anything internal, personal, that’s space, spacious, and appropriated. This includes:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bất cứ gì nội, thuộc cá nhân, hư không, có tính hư không, được thủ chấp — đó là:
kaṇṇacchiddaṁ nāsacchiddaṁ mukhadvāraṁ yena ca asitapītakhāyitasāyitaṁ ajjhoharati, yattha ca asitapītakhāyitasāyitaṁ santiṭṭhati, yena ca asitapītakhāyitasāyitaṁ adhobhāgaṁ nikkhamati, yaṁ vā panaññampi kiñci ajjhattaṁ paccattaṁ ākāsaṁ ākāsagataṁ aghaṁ aghagataṁ vivaraṁ vivaragataṁ asamphuṭṭhaṁ maṁsalohitehi upādinnaṁ—
the ear canals, nostrils, and mouth; and the space for swallowing what is eaten and drunk, the space where it stays, and the space for excreting it from the nether regions; or anything else internal, personal, that’s space, spacious, and appropriated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lỗ tai, lỗ mũi, cửa miệng, chỗ nuốt thức ăn đồ uống, chỗ thức ăn đồ uống đứng lại, chỗ thức ăn đồ uống đi ra phần dưới, hay bất cứ gì khác nội, thuộc cá nhân, hư không, có tính hư không, khoảng không, tính khoảng không, chỗ trống, tính trống, không chạm đến thịt và máu, được thủ chấp.
ayaṁ vuccati, bhikkhu, ajjhattikā ākāsadhātu.
This is called the interior space element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây được gọi, này tỳ-kheo, là nội giới hư không.
Yā ceva kho pana ajjhattikā ākāsadhātu yā ca bāhirā ākāsadhātu ākāsadhāturevesā.
The interior space element and the exterior space element are just the space element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cả nội giới hư không lẫn ngoại giới hư không, đây chính là giới hư không.
‘Taṁ netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti—evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
This should be truly seen with right understanding like this: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây không phải của ta, ta không phải cái này, cái này không phải ngã của ta’ — điều này cần được thấy như thật bằng chánh tuệ.
Evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā ākāsadhātuyā nibbindati, ākāsadhātuyā cittaṁ virājeti.
When you truly see with right understanding, you grow disillusioned with the space element, detaching the mind from the space element.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy như thật bằng chánh tuệ như vậy, vị ấy nhàm chán với giới hư không, tâm vị ấy ly tham với giới hư không.
Athāparaṁ viññāṇaṁyeva avasissati parisuddhaṁ pariyodātaṁ.
What remains is sheer consciousness, pure and bright.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi chỉ còn lại thức, thuần tịnh, sáng suốt.
Tena ca viññāṇena kiṁ vijānāti?
And what does that consciousness know?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và với thức ấy, vị ấy biết gì?
‘Sukhan’tipi vijānāti, ‘dukkhan’tipi vijānāti, ‘adukkhamasukhan’tipi vijānāti.
It cognizes ‘pleasure’ and ‘pain’ and ‘neutral’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết ‘lạc’, biết ‘khổ’, biết ‘không khổ không lạc’.
Sukhavedaniyaṁ, bhikkhu, phassaṁ paṭicca uppajjati sukhā vedanā.
Pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do duyên xúc cảm thọ lạc, thọ lạc khởi lên.
So sukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘sukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
When they feel a pleasant feeling, they know: ‘I feel a pleasant feeling.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm thọ lạc, vị ấy biết: ‘Tôi đang cảm thọ lạc.’
‘Tasseva sukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṁ tajjaṁ vedayitaṁ sukhavedaniyaṁ phassaṁ paṭicca uppannā sukhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammatī’ti pajānāti.
They know: ‘With the cessation of that contact to be experienced as pleasant, the corresponding pleasant feeling ceases and stops.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Với sự diệt của xúc cảm thọ lạc ấy, thọ lạc do duyên xúc cảm thọ lạc khởi lên, nó diệt, nó lắng dịu.’
Dukkhavedaniyaṁ, bhikkhu, phassaṁ paṭicca uppajjati dukkhā vedanā.
Painful feeling arises dependent on a contact to be experienced as painful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do duyên xúc cảm thọ khổ, thọ khổ khởi lên.
So dukkhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘dukkhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
When they feel a painful feeling, they know: ‘I feel a painful feeling.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm thọ khổ, vị ấy biết: ‘Tôi đang cảm thọ khổ.’
‘Tasseva dukkhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṁ tajjaṁ vedayitaṁ dukkhavedaniyaṁ phassaṁ paṭicca uppannā dukkhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammatī’ti pajānāti.
They know: ‘With the cessation of that contact to be experienced as painful, the corresponding painful feeling ceases and stops.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Với sự diệt của xúc cảm thọ khổ ấy, thọ khổ do duyên xúc cảm thọ khổ khởi lên, nó diệt, nó lắng dịu.’
Adukkhamasukhavedaniyaṁ, bhikkhu, phassaṁ paṭicca uppajjati adukkhamasukhā vedanā.
Neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do duyên xúc cảm thọ không khổ không lạc, thọ không khổ không lạc khởi lên.
So adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
When they feel a neutral feeling, they know: ‘I feel a neutral feeling.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm thọ không khổ không lạc, vị ấy biết: ‘Tôi đang cảm thọ không khổ không lạc.’
‘Tasseva adukkhamasukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṁ tajjaṁ vedayitaṁ adukkhamasukhavedaniyaṁ phassaṁ paṭicca uppannā adukkhamasukhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammatī’ti pajānāti.
They know: ‘With the cessation of that contact to be experienced as neutral, the corresponding neutral feeling ceases and stops.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Với sự diệt của xúc cảm thọ không khổ không lạc ấy, thọ không khổ không lạc do duyên xúc cảm thọ không khổ không lạc khởi lên, nó diệt, nó lắng dịu.’
Seyyathāpi, bhikkhu, dvinnaṁ kaṭṭhānaṁ saṅghaṭṭā samodhānā usmā jāyati, tejo abhinibbattati, tesaṁyeva dvinnaṁ kaṭṭhānaṁ nānābhāvā vinikkhepā yā tajjā usmā sā nirujjhati, sā vūpasammati;
When you rub two sticks together, heat is generated and fire is produced. But when you part the sticks and lay them aside, any corresponding heat ceases and stops.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này tỳ-kheo, ví như do hai cây gỗ cọ xát, hợp lại, nhiệt sinh lên, lửa phát sinh; còn khi hai cây gỗ ấy được tách ra, bỏ riêng, thời nhiệt sanh do đó diệt, lắng dịu.
evameva kho, bhikkhu, sukhavedaniyaṁ phassaṁ paṭicca uppajjati sukhā vedanā.
In the same way, pleasant feeling arises dependent on a contact to be experienced as pleasant. …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này tỳ-kheo, do duyên xúc cảm thọ lạc, thọ lạc khởi lên.
So sukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘sukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
When they feel a pleasant feeling, they know: ‘I feel a pleasant feeling.’bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm thọ lạc, vị ấy biết: ‘Tôi đang cảm thọ lạc.’
‘Tasseva sukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṁ tajjaṁ vedayitaṁ sukhavedaniyaṁ phassaṁ paṭicca uppannā sukhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammatī’ti pajānāti.
They know: ‘With the cessation of that contact to be experienced as pleasant, the corresponding pleasant feeling ceases and stops.’bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Với sự diệt của xúc cảm thọ lạc ấy, thọ lạc do duyên xúc cảm thọ lạc khởi lên, nó diệt, nó lắng dịu.’
Dukkhavedaniyaṁ, bhikkhu, phassaṁ paṭicca uppajjati dukkhā vedanā.
Painful feeling arises dependent on a contact to be experienced as painful.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do duyên xúc cảm thọ khổ, thọ khổ khởi lên.
So dukkhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘dukkhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
When they feel a painful feeling, they know: ‘I feel a painful feeling.’bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm thọ khổ, vị ấy biết: ‘Tôi đang cảm thọ khổ.’
‘Tasseva dukkhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṁ tajjaṁ vedayitaṁ dukkhavedaniyaṁ phassaṁ paṭicca uppannā dukkhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammatī’ti pajānāti.
They know: ‘With the cessation of that contact to be experienced as painful, the corresponding painful feeling ceases and stops.’bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Với sự diệt của xúc cảm thọ khổ ấy, thọ khổ do duyên xúc cảm thọ khổ khởi lên, nó diệt, nó lắng dịu.’
Adukkhamasukhavedaniyaṁ, bhikkhu, phassaṁ paṭicca uppajjati adukkhamasukhā vedanā.
Neutral feeling arises dependent on a contact to be experienced as neutral.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do duyên xúc cảm thọ không khổ không lạc, thọ không khổ không lạc khởi lên.
So adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti.
When they feel a neutral feeling, they know: ‘I feel a neutral feeling.’bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm thọ không khổ không lạc, vị ấy biết: ‘Tôi đang cảm thọ không khổ không lạc.’
‘Tasseva adukkhamasukhavedaniyassa phassassa nirodhā yaṁ tajjaṁ vedayitaṁ adukkhamasukhavedaniyaṁ phassaṁ paṭicca uppannā adukkhamasukhā vedanā sā nirujjhati, sā vūpasammatī’ti pajānāti.
They know: ‘With the cessation of that contact to be experienced as neutral, the corresponding neutral feeling ceases and stops.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Với sự diệt của xúc cảm thọ không khổ không lạc ấy, thọ không khổ không lạc do duyên xúc cảm thọ không khổ không lạc khởi lên, nó diệt, nó lắng dịu.’
Athāparaṁ upekkhāyeva avasissati parisuddhā pariyodātā mudu ca kammaññā ca pabhassarā ca.
There remains only equanimity, pure, bright, pliable, workable, and radiant.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi chỉ còn lại xả, thuần tịnh, sáng suốt, mềm dẻo, dễ sử dụng, rực rỡ.
Seyyathāpi, bhikkhu, dakkho suvaṇṇakāro vā suvaṇṇakārantevāsī vā ukkaṁ bandheyya, ukkaṁ bandhitvā ukkāmukhaṁ ālimpeyya, ukkāmukhaṁ ālimpetvā saṇḍāsena jātarūpaṁ gahetvā ukkāmukhe pakkhipeyya, tamenaṁ kālena kālaṁ abhidhameyya, kālena kālaṁ udakena paripphoseyya, kālena kālaṁ ajjhupekkheyya, taṁ hoti jātarūpaṁ sudhantaṁ niddhantaṁ nīhaṭaṁ ninnītakasāvaṁ mudu ca kammaññañca pabhassarañca, yassā yassā ca piḷandhanavikatiyā ākaṅkhati—yadi paṭṭikāya yadi kuṇḍalāya yadi gīveyyakāya yadi suvaṇṇamālāya tañcassa atthaṁ anubhoti;
It’s like when a deft goldsmith or a goldsmith’s apprentice prepares a forge, fires the crucible, picks up some native gold with tongs and puts it in the crucible. From time to time they fan it, from time to time they sprinkle water on it, and from time to time they just watch over it. That native gold becomes pliable, workable, and radiant, not brittle, and is ready to be worked. Then the goldsmith can successfully create any kind of ornament they want, whether a bracelet, earrings, a necklace, or a golden garland.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này tỳ-kheo, ví như người thợ vàng khéo léo hay học trò của người thợ vàng chuẩn bị lò, chuẩn bị cái nồi, lấy vàng ròng bằng kẹp, đặt vào miệng nồi; thi thoảng thổi, thi thoảng rắc nước, thi thoảng chăm chú nhìn. Vàng ròng ấy được nung chín, tinh luyện, được rèn, được lọc sạch, mềm dẻo, dễ sử dụng, rực rỡ, sẵn sàng cho bất cứ trang sức nào người ta muốn — dây đeo chân, khuyên tai, dây cổ, hoa vàng.
evameva kho, bhikkhu, athāparaṁ upekkhāyeva avasissati parisuddhā pariyodātā mudu ca kammaññā ca pabhassarā ca.
In the same way, there remains only equanimity, pure, bright, pliable, workable, and radiant.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này tỳ-kheo, rồi chỉ còn lại xả, thuần tịnh, sáng suốt, mềm dẻo, dễ sử dụng, rực rỡ.
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như vầy:
‘imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ ākāsānañcāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ.
‘If I were to apply this equanimity, so pure and bright, to the dimension of infinite space, and develop my mind accordingly,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến hư không vô biên xứ, và tu tập tâm theo đó,
Evaṁ me ayaṁ upekkhā tannissitā tadupādānā ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya.
this equanimity of mine, relying on that and grasping it, would remain for a very long time.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì xả ấy của Ta, nương vào đó, chấp trước đó, sẽ đứng vững lâu dài.
Imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ viññāṇañcāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ.
If I were to apply this equanimity, so pure and bright, to the dimension of infinite consciousness, and develop my mind accordingly,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến thức vô biên xứ, và tu tập tâm theo đó,
Evaṁ me ayaṁ upekkhā tannissitā tadupādānā ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya.
this equanimity of mine, relying on that and grasping it, would remain for a very long time.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì xả ấy của Ta, nương vào đó, chấp trước đó, sẽ đứng vững lâu dài.
Imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ ākiñcaññāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ.
If I were to apply this equanimity, so pure and bright, to the dimension of nothingness, and develop my mind accordingly,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến vô sở hữu xứ, và tu tập tâm theo đó,
Evaṁ me ayaṁ upekkhā tannissitā tadupādānā ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyya.
this equanimity of mine, relying on that and grasping it, would remain for a very long time.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì xả ấy của Ta, nương vào đó, chấp trước đó, sẽ đứng vững lâu dài.
Imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ.
If I were to apply this equanimity, so pure and bright, to the dimension of neither perception nor non-perception, and develop my mind accordingly,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tu tập tâm theo đó,
Evaṁ me ayaṁ upekkhā tannissitā tadupādānā ciraṁ dīghamaddhānaṁ tiṭṭheyyā’ti.
this equanimity of mine, relying on that and grasping it, would remain for a very long time.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì xả ấy của Ta, nương vào đó, chấp trước đó, sẽ đứng vững lâu dài.’
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như vầy:
‘imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ ākāsānañcāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ;
‘If I were to apply this equanimity, so pure and bright, to the dimension of infinite space, my mind would develop accordingly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến hư không vô biên xứ, và tu tập tâm theo đó;
saṅkhatametaṁ.
But that is conditioned.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đây là pháp hữu vi.
Imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ viññāṇañcāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ;
If I were to apply this equanimity, so pure and bright, to the dimension of infinite consciousness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến thức vô biên xứ, và tu tập tâm theo đó;
saṅkhatametaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đây là pháp hữu vi.
Imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ ākiñcaññāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ;
nothingness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến vô sở hữu xứ, và tu tập tâm theo đó;
saṅkhatametaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đây là pháp hữu vi.
Imañce ahaṁ upekkhaṁ evaṁ parisuddhaṁ evaṁ pariyodātaṁ nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasaṁhareyyaṁ, tadanudhammañca cittaṁ bhāveyyaṁ;
neither perception nor non-perception, my mind would develop accordingly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Ta hướng xả này — thuần tịnh, sáng suốt như vậy — đến phi tưởng phi phi tưởng xứ, và tu tập tâm theo đó;
saṅkhatametan’ti.
But that is conditioned.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đây là pháp hữu vi.’
So neva taṁ abhisaṅkharoti, na abhisañcetayati bhavāya vā vibhavāya vā.
They neither make a choice nor form an intention for existence or nonexistence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy không tác hành, không tư tầm cho hữu hoặc phi hữu.
So anabhisaṅkharonto anabhisañcetayanto bhavāya vā vibhavāya vā na kiñci loke upādiyati,
Because of this, they don’t grasp at anything in the world.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì không tác hành, không tư tầm cho hữu hoặc phi hữu, vị ấy không chấp thủ gì ở đời;
anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaṁyeva parinibbāyati.
Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không chấp thủ, vị ấy không ưu nhiệt; không ưu nhiệt, vị ấy tự mình chứng nhập Niết-bàn.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Sinh đã tận, đời phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’
So sukhañce vedanaṁ vedeti, ‘sā aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti.
If they feel a pleasant feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị ấy cảm thọ lạc, vị ấy biết: ‘thọ ấy vô thường’, biết: ‘không chấp trước’, biết: ‘không hoan hỉ’.
Dukkhañce vedanaṁ vedeti, ‘sā aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti.
If they feel a painful feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị ấy cảm thọ khổ, vị ấy biết: ‘thọ ấy vô thường’, biết: ‘không chấp trước’, biết: ‘không hoan hỉ’.
Adukkhamasukhañce vedanaṁ vedeti, ‘sā aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti.
If they feel a neutral feeling, they understand that it’s impermanent, that they’re not attached to it, and that they don’t take pleasure in it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị ấy cảm thọ không khổ không lạc, vị ấy biết: ‘thọ ấy vô thường’, biết: ‘không chấp trước’, biết: ‘không hoan hỉ’.
So sukhañce vedanaṁ vedeti, visaṁyutto naṁ vedeti;
If they feel a pleasant feeling, they feel it detached.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu vị ấy cảm thọ lạc, vị ấy cảm thọ một cách ly hệ;
dukkhañce vedanaṁ vedeti, visaṁyutto naṁ vedeti;
If they feel a painful feeling, they feel it detached.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nếu vị ấy cảm thọ khổ, vị ấy cảm thọ một cách ly hệ;
adukkhamasukhañce vedanaṁ vedeti, visaṁyutto naṁ vedeti.
If they feel a neutral feeling, they feel it detached.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nếu vị ấy cảm thọ không khổ không lạc, vị ấy cảm thọ một cách ly hệ.
So kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti,
Feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cảm thọ giác thọ tận cùng thân, vị ấy biết: ‘Tôi cảm thọ giác thọ tận cùng thân’; cảm thọ giác thọ tận cùng mạng sống, vị ấy biết: ‘Tôi cảm thọ giác thọ tận cùng mạng sống.’
‘kāyassa bhedā paraṁ maraṇā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Sau khi thân hoại, sau khi chết, trên đây là sự tận cùng mạng sống; ngay tại đây, tất cả giác thọ không được hoan hỉ sẽ trở nên mát lạnh.’
Seyyathāpi, bhikkhu, telañca paṭicca vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyati;
Suppose an oil lamp depended on oil and a wick to burn.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này tỳ-kheo, ví như ngọn đèn dầu nhờ duyên dầu và tim mà cháy;
tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā aññassa ca anupahārā anāhāro nibbāyati;
As the oil and the wick are used up, it would be extinguished due to not being fed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
do dầu và tim cạn kiệt, không được tiếp thêm, không nuôi dưỡng, nó tắt ngọn;
evameva kho, bhikkhu, kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṁ vedanaṁ vedayāmī’ti pajānāti,
In the same way, feeling the end of the body draw close, they understand: ‘I feel the end of the body draw close.’ Feeling the end of life draw close, they understand: ‘I feel the end of life draw close.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, này tỳ-kheo, cảm thọ giác thọ tận cùng thân, vị ấy biết: ‘Tôi cảm thọ giác thọ tận cùng thân’; cảm thọ giác thọ tận cùng mạng sống, vị ấy biết: ‘Tôi cảm thọ giác thọ tận cùng mạng sống.’
‘kāyassa bhedā paraṁ maraṇā uddhaṁ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti.
They understand: ‘When my body breaks up and my life has come to an end, everything that’s felt, since I no longer take pleasure in it, will become cool right here.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Sau khi thân hoại, sau khi chết, trên đây là sự tận cùng mạng sống; ngay tại đây, tất cả giác thọ không được hoan hỉ sẽ trở nên mát lạnh.’
Tasmā evaṁ samannāgato bhikkhu iminā paramena paññādhiṭṭhānena samannāgato hoti.
Therefore a mendicant thus endowed is endowed with the ultimate foundation of wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này tỳ-kheo, vị tỳ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu ý lập tuệ tối thượng này.
Esā hi, bhikkhu, paramā ariyā paññā yadidaṁ—
For this is the ultimate noble wisdom, namely,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì đây, này tỳ-kheo, là vô thượng Thánh tuệ, đó là:
sabbadukkhakkhaye ñāṇaṁ.
the knowledge of the ending of all suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trí về sự diệt tận mọi khổ.
Tassa sā vimutti sacce ṭhitā akuppā hoti.
Their freedom, being founded on truth, is unshakable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Giải thoát của vị ấy đứng trên chơn thật, bất động.
Tañhi, bhikkhu, musā yaṁ mosadhammaṁ, taṁ saccaṁ yaṁ amosadhammaṁ nibbānaṁ.
For that which is false has a deceptive nature, while that which is true has an undeceptive nature—extinguishment.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này tỳ-kheo, cái gì là hư dối, đó là pháp hư dối; cái gì là chơn thật, không hư dối, đó là Niết-bàn.
Tasmā evaṁ samannāgato bhikkhu iminā paramena saccādhiṭṭhānena samannāgato hoti.
Therefore a mendicant thus endowed is endowed with the ultimate foundation of truth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này tỳ-kheo, vị tỳ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu ý lập chơn thật tối thượng này.
Etañhi, bhikkhu, paramaṁ ariyasaccaṁ yadidaṁ—
For this is the ultimate noble truth, namely,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này tỳ-kheo, đây là vô thượng Thánh đế, đó là:
amosadhammaṁ nibbānaṁ.
that which has an undeceptive nature—extinguishment.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Niết-bàn, pháp không hư dối.
Tasseva kho pana pubbe aviddasuno upadhī honti samattā samādinnā.
In their ignorance, they used to acquire attachments.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trước đây, vì vô minh, vị ấy có các thủ, đã được hoàn tất, đã được thọ trì.
Tyāssa pahīnā honti ucchinnamūlā tālāvatthukatā anabhāvaṅkatā āyatiṁ anuppādadhammā.
Those have been cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so they are unable to arise in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng đã được đoạn trừ, bị chặt đứt tận gốc, làm như thân cây cau, được làm cho không còn tồn tại, không thể phát sinh trong tương lai.
Tasmā evaṁ samannāgato bhikkhu iminā paramena cāgādhiṭṭhānena samannāgato hoti.
Therefore a mendicant thus endowed is endowed with the ultimate foundation of generosity.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này tỳ-kheo, vị tỳ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu ý lập xả tối thượng này.
Eso hi, bhikkhu, paramo ariyo cāgo yadidaṁ—
For this is the ultimate noble generosity, namely,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này tỳ-kheo, đây là vô thượng Thánh xả, đó là:
sabbūpadhipaṭinissaggo.
letting go of all attachments.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sự xả bỏ mọi thủ.
Tasseva kho pana pubbe aviddasuno abhijjhā hoti chando sārāgo.
In their ignorance, they used to be covetous, full of desire and lust.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trước đây, vì vô minh, vị ấy có tham, có dục, có tham ái.
Svāssa pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
That has been cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so it’s unable to arise in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nó đã được đoạn trừ, bị chặt đứt tận gốc, làm như thân cây cau, được làm cho không còn tồn tại, không thể phát sinh trong tương lai.
Tasseva kho pana pubbe aviddasuno āghāto hoti byāpādo sampadoso.
In their ignorance, they used to be contemptuous, full of ill will and malevolence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trước đây, vì vô minh, vị ấy có sân, có hại, có oán ghét.
Svāssa pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
That has been cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so it’s unable to arise in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nó đã được đoạn trừ, bị chặt đứt tận gốc, làm như thân cây cau, được làm cho không còn tồn tại, không thể phát sinh trong tương lai.
Tasseva kho pana pubbe aviddasuno avijjā hoti sammoho.
In their ignorance, they used to be ignorant, full of delusion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trước đây, vì vô minh, vị ấy có vô minh, có mê loạn.
Svāssa pahīno hoti ucchinnamūlo tālāvatthukato anabhāvaṅkato āyatiṁ anuppādadhammo.
That has been cut off at the root, made like a palm stump, obliterated so it’s unable to arise in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nó đã được đoạn trừ, bị chặt đứt tận gốc, làm như thân cây cau, được làm cho không còn tồn tại, không thể phát sinh trong tương lai.
Tasmā evaṁ samannāgato bhikkhu iminā paramena upasamādhiṭṭhānena samannāgato hoti.
Therefore a mendicant thus endowed is endowed with the ultimate foundation of peace.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này tỳ-kheo, vị tỳ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu ý lập an tịnh tối thượng này.
Eso hi, bhikkhu, paramo ariyo upasamo yadidaṁ—
For this is the ultimate noble peace, namely,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này tỳ-kheo, đây là vô thượng Thánh an tịnh, đó là:
rāgadosamohānaṁ upasamo.
the pacification of greed, hate, and delusion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sự an tịnh của tham, sân, si.
‘Paññaṁ nappamajjeyya, saccamanurakkheyya, cāgamanubrūheyya, santimeva so sikkheyyā’ti—
‘Do not neglect wisdom; preserve truth; foster generosity; and train only for peace.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chớ phóng dật về tuệ, gìn giữ chơn thật, tu tập xả ly, cứ an tịnh mà học.’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Yattha ṭhitaṁ maññassavā nappavattanti, maññassave kho pana nappavattamāne muni santoti vuccatī’ti—
‘Where they stand, the streams of conceiving do not flow. And where the streams of conceiving do not flow, they are called a sage at peace.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nơi đứng ấy, các dòng tưởng tư khôngchảy; các dòng tưởng tư khôngchảy, vị muni được gọi là an tịnh’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
‘Asmī’ti, bhikkhu, maññitametaṁ, ‘ayamahamasmī’ti maññitametaṁ, ‘bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘na bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘rūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘arūpī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘saññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘asaññī bhavissan’ti maññitametaṁ, ‘nevasaññīnāsaññī bhavissan’ti maññitametaṁ.
These are all forms of conceiving: ‘I am’, ‘I am this’, ‘I will be’, ‘I will not be’, ‘I will have form’, ‘I will be formless’, ‘I will be percipient’, ‘I will be non-percipient’, ‘I will be neither percipient nor non-percipient.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta là’, này tỳ-kheo, đây là tưởng tư; ‘ta là này’, đây là tưởng tư; ‘ta sẽ có’, đây là tưởng tư; ‘ta sẽ không có’, đây là tưởng tư; ‘ta sẽ có sắc’, đây là tưởng tư; ‘ta sẽ vô sắc’, đây là tưởng tư; ‘ta sẽ có tưởng’, đây là tưởng tư; ‘ta sẽ không có tưởng’, đây là tưởng tư; ‘ta sẽ không có tưởng cũng không không tưởng’, đây là tưởng tư.
Maññitaṁ, bhikkhu, rogo maññitaṁ gaṇḍo maññitaṁ sallaṁ.
Conceiving is a disease, a boil, a dart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tưởng tư, này tỳ-kheo, là bệnh, là ung nhọt, là mũi tên.
Sabbamaññitānaṁ tveva, bhikkhu, samatikkamā muni santoti vuccati.
Having gone beyond all conceiving, one is called a sage at peace.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vượt qua tất cả tưởng tư, này tỳ-kheo, vị muni được gọi là an tịnh.
Muni kho pana, bhikkhu, santo na jāyati, na jīyati, na mīyati, na kuppati, na piheti.
The sage at peace is not reborn, does not grow old, and does not die. They are not shaken, and do not yearn.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và vị muni an tịnh, này tỳ-kheo, không sinh, không già, không chết, không rối loạn, không khát ngưỡng.
Tañhissa, bhikkhu, natthi yena jāyetha, ajāyamāno kiṁ jīyissati, ajīyamāno kiṁ mīyissati, amīyamāno kiṁ kuppissati, akuppamāno kissa pihessati?
For they have nothing which would cause them to be reborn. Not being reborn, how could they grow old? Not growing old, how could they die? Not dying, how could they be shaken? Not shaking, for what could they yearn?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vị ấy không có tham ái để có thể sinh. Không sinh, làm sao già? Không già, làm sao chết? Không chết, làm sao rối loạn? Không rối loạn, còn khát ngưỡng gì nữa?
‘Yattha ṭhitaṁ maññassavā nappavattanti, maññassave kho pana nappavattamāne muni santoti vuccatī’ti—
‘Where they stand, the streams of conceiving do not flow. And where the streams of conceiving do not flow, they are called a sage at peace.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nơi đứng ấy, các dòng tưởng tư không chảy; các dòng tưởng tư không chảy, vị muni được gọi là an tịnh’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
Imaṁ kho me tvaṁ, bhikkhu, saṅkhittena chadhātuvibhaṅgaṁ dhārehī”ti.
Mendicant, you should remember this brief analysis of the six elements.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này tỳ-kheo, ngươi hãy giữ gìn bản tóm lược phân biệt sáu giới này của Ta.”
Atha kho āyasmā pukkusāti:
Then Venerable Pukkusāti thought,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Pukkusāti:
“satthā kira me anuppatto, sugato kira me anuppatto, sammāsambuddho kira me anuppatto”ti uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā bhagavato pādesu sirasā nipatitvā bhagavantaṁ etadavoca:
“It seems the Teacher has come to me! The Holy One has come to me! The fully awakened Buddha has come to me!” He got up from his seat, arranged his robe over one shoulder, bowed with his head to the Buddha’s feet, and said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Quả thật bậc Đạo Sư đã đến với tôi! Quả thật đấng Thiện Thệ đã đến với tôi! Quả thật bậc Chánh Đẳng Giác đã đến với tôi!” — từ chỗ ngồi đứng dậy, mặc áo trật một bờ vai, đầu lễ dưới chân Đức Phật, rồi thưa với Đức Phật:
“accayo maṁ, bhante, accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yohaṁ bhagavantaṁ āvusovādena samudācaritabbaṁ amaññissaṁ.
“I made a mistake, sir. It was foolish, stupid, and unskillful of me to presume to address the Buddha as ‘reverend’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, con đã phạm lỗi, con đã lầm lạc, ngu muội, bất thiện như kẻ ngu, như kẻ mê loạn; vì con đã nghĩ dùng cách xưng đạo hữu để đàm luận với Đức Phật.
Tassa me, bhante, bhagavā accayaṁ accayato paṭiggaṇhātu āyatiṁ saṁvarāyā”ti.
Please, sir, accept my mistake for what it is, so I will restrain myself in future.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, mong Đức Phật nhận biết lỗi ấy của con là lỗi, vì sự phòng hộ tương lai.”
“Taggha tvaṁ, bhikkhu, accayo accagamā yathābālaṁ yathāmūḷhaṁ yathāakusalaṁ, yaṁ maṁ tvaṁ āvusovādena samudācaritabbaṁ amaññittha.
“Indeed, mendicant, you made a mistake. It was foolish, stupid, and unskillful of you to act in that way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật vậy, này tỳ-kheo, ngươi đã phạm lỗi, đã lầm lạc như kẻ ngu, như kẻ mê loạn, bất thiện; vì ngươi đã nghĩ dùng cách xưng đạo hữu để đàm luận với Ta.
Yato ca kho tvaṁ, bhikkhu, accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikarosi, taṁ te mayaṁ paṭiggaṇhāma.
But since you have recognized your mistake for what it is, and have dealt with it properly, I accept it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng này tỳ-kheo, vì ngươi đã thấy lỗi là lỗi như thật và sám hối theo pháp, Ta nhận lỗi ấy của ngươi.
Vuddhihesā, bhikkhu, ariyassa vinaye yo accayaṁ accayato disvā yathādhammaṁ paṭikaroti, āyatiṁ saṁvaraṁ āpajjatī”ti.
For it is growth in the training of the Noble One to recognize a mistake for what it is, deal with it properly, and commit to restraint in the future.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì này tỳ-kheo, đây là sự tăng trưởng trong giới luật của bậc Thánh: thấy lỗi là lỗi như thật, sám hối theo pháp, đạt được sự phòng hộ trong tương lai.”
“Labheyyāhaṁ, bhante, bhagavato santike upasampadan”ti.
“Sir, may I receive the going forth, the ordination in the Buddha’s presence?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, mong con được thọ đại giới ngay trước mặt Đức Phật.”
“Paripuṇṇaṁ pana te, bhikkhu, pattacīvaran”ti?
“But mendicant, do you have a full set of bowl and robes?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhưng này tỳ-kheo, bát và y của ngươi đã đầy đủ chưa?”
“Na kho me, bhante, paripuṇṇaṁ pattacīvaran”ti.
“No, sir, I do not.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, bát và y của con chưa đầy đủ.”
“Na kho, bhikkhu, tathāgatā aparipuṇṇapattacīvaraṁ upasampādentī”ti.
“The Realized Ones do not ordain those without a full set of bowl and robes.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này tỳ-kheo, các Đức Như Lai không cho thọ đại giới người không có đủ bát và y.”
Atha kho āyasmā pukkusāti bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pattacīvarapariyesanaṁ pakkāmi.
And then Venerable Pukkusāti approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Pukkusāti, sau khi hoan hỷ tán đồng lời Đức Phật nói, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, thân bên hữu hướng quanh Ngài, ra đi tìm bát và y.
Atha kho āyasmantaṁ pukkusātiṁ pattacīvarapariyesanaṁ carantaṁ vibbhantā gāvī jīvitā voropesi.
But while he was wandering in search of a bowl and robes, a stray cow took his life.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Pukkusāti, đang khi đi tìm bát và y, bị một con bò đi lạc cướp mất mạng sống.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi nhiều vị tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các vị tỳ-kheo ấy thưa với Đức Phật:
“yo so, bhante, pukkusāti nāma kulaputto bhagavatā saṅkhittena ovādena ovadito so kālaṅkato.
“Sir, the gentleman named Pukkusāti, who was advised in brief by the Buddha, has passed away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, người con gia đình tên Pukkusāti, được Đức Phật giáo giới tóm tắt, đã mạng chung.
Tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti?
Where has he been reborn in his next life?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy sinh về đâu? Kiếp sau của vị ấy thế nào?”
“Paṇḍito, bhikkhave, pukkusāti kulaputto paccapādi dhammassānudhammaṁ, na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ vihesesi.
“Mendicants, Pukkusāti was astute. He practiced in line with the teaching, and did not trouble me about the teachings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, người con gia đình Pukkusāti là bậc hiền trí, hành trì theo pháp, theo pháp mà hành, và không làm Ta phiền hà về pháp.
Pukkusāti, bhikkhave, kulaputto pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā”ti.
With the ending of the five lower fetters, he’s been reborn spontaneously and will become extinguished there, not liable to return from that world.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với sự đoạn tận năm hạ phần kiết sử, này các tỳ-kheo, người con gia đình Pukkusāti đã hóa sinh trong cõi ấy và sẽ Niết-bàn tại đó, không còn trở lại từ thế giới này.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán đồng lời Đức Phật dạy.
Dhātuvibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ dasamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Phân Biệt Giới, bài thứ mười, kết thúc.