← Kinh Trung Bộ

MN139 · Majjhima Nikāya

Kinh Phân Biệt Vắng Lặng

Araṇavibhaṅgasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Đức Phật thuyết Kinh Phân Biệt Vắng Lặng cho các tỳ-kheo tại rừng Jeta, tu viện ông Anāthapiṇḍika gần Sāvatthī, tóm lược: tránh hai cực đoan là lạc dục và tự làm khổ mình, đi trung đạo Như Lai giác ngộ, hướng đến Niết-bàn; biết tâng bốc, chê bai rồi chỉ thuyết pháp; biết sự phân biệt lạc rồi theo đuổi lạc nội tại; không nói lời bí mật, không nói thẳng mặt lời gay gắt; nói không vội vàng; không chấp trước ngôn từ địa phương, không vượt quá danh xưng thông thường.

Việc theo đuổi hỷ lạc do duyên dục và việc tự làm khổ mình đều là tà hạnh; việc không theo đuổi cả hai đều là chánh hạnh. Trung đạo ấy là Thánh đạo tám chi. Nói ai theo đuổi thì tất cả những người ấy có khổ hay không khổ là chê bai hay tâng bốc một số người. Chỉ thuyết pháp là không nhắm vào người; về thủ hữu kiết sử, kinh nói chưa đoạn trừ thì hữu chưa được đoạn trừ, đã đoạn trừ thì hữu cũng được đoạn trừ.

Năm đối tượng dục là sắc, tiếng, hương, vị, xúc; lạc hỷ do duyên năm đối tượng ấy là lạc dục, lạc uế trược, lạc phàm phu, lạc không Thánh, không nên thân cận mà nên sợ hãi; bốn thiền là lạc ly dục, lạc độc cư, lạc an tịnh, lạc chánh giác, nên thân cận. Lời bí mật và lời thẳng mặt gay gắt: không thật, không lợi ích thì không nói; thật nhưng không lợi ích thì tập không nói; thật, đúng và có lợi ích thì biết đúng thời.

Nói vội vàng làm thân mệt mỏi, lời khó hiểu; nói không vội vàng thì rõ ràng, dễ hiểu. Cùng một vật ở mỗi địa phương có tên gọi khác nhau; chấp trước mà quyết định chỉ đây là thật, còn lại đều vô dụng, là chấp trước ngôn từ địa phương, vượt quá danh xưng thông thường; người không chấp trước thì nghĩ các Tôn giả nói với ý nghĩa này.

Cuối kinh, từng cặp được xếp vào pháp có xung đột hay pháp vắng lặng: theo đuổi lạc dục hay tự làm khổ mình là có xung đột, không theo đuổi là vắng lặng; tâng bốc chê bai là có xung đột, chỉ thuyết pháp là vắng lặng; lời không thật hay thật mà không lợi ích là có xung đột, lời thật đúng có lợi ích là vắng lặng; nói vội vàng và chấp trước ngôn từ địa phương là có xung đột, ngược lại là vắng lặng. Kinh dạy biết rõ hai loại ấy để hành trì hạnh vắng lặng, và thiện nam Subhūti được nêu là người đang hành trì hạnh ấy.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 466 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 6a945a0d-d0be-42ee-b9b0-197b3b04d65e · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f9e0cf804bac0775c69281c0866fadb9a721d5b5f411be6646f0a7801f8ae0fc

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 466 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 03da1c2e-c828-4ea9-9883-2b8f250499c7 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f9e0cf804bac0775c69281c0866fadb9a721d5b5f411be6646f0a7801f8ae0fc

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 466 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 7c2dd78f-4a8f-49cb-9b8a-20a8266ec1a9 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 7ca8d2ca4c06b1efe4040844af14d86e7d6f6b6fcfc092d91eb558012e7ef714

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 201 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: ad8aa880-3346-4d44-9430-b188a3f77aed · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: dadcdfe36700e524f18cf298484f4f8d85334267c8d5e7bcbd2d35f05a20c0ea

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 201 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: aedce997-d04a-46d8-b7e0-dc53b2f71353 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: dadcdfe36700e524f18cf298484f4f8d85334267c8d5e7bcbd2d35f05a20c0ea

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động 201 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 55526fc3-5836-493a-bfbf-a886535a9c72 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 33a0b6b190e31163d3d9fcef6c80ed849ef111581b8af7d96730d474892b8676

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

201/201 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

171/201 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

201/201 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 139
Middle Discourses 139
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 139
Araṇavibhaṅgasutta
The Analysis of No Strife
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Phân Biệt Vắng Lặng
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại rừng Jeta, trong tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
There the Buddha addressed the mendicants,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tại đó, Đức Phật gọi các vị tỳ-kheo:
“bhikkhavo”ti.
“Mendicants!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo!”
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
“Venerable sir,” they replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn,” các vị ấy đáp.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“araṇavibhaṅgaṁ vo, bhikkhave, desessāmi.
“Mendicants, I shall teach you the analysis of no strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các thầy sự phân biệt vắng lặng.
Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
Listen and apply your mind well, I will speak.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy lắng nghe và chú tâm khéo léo, Ta sẽ nói.”
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
“Yes, sir,” they replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vâng, bạch Thế Tôn,” các vị tỳ-kheo ấy vâng đáp Đức Phật.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói:
“Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ.
“Don’t indulge in sensual pleasure, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And don’t indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Không nên chuyên tâm theo đuổi lạc dục — thứ hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích; cũng không nên chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình — thứ khổ, không Thánh, không đem lại lợi ích.
Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính tránh xa hai cực đoan này, trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, đưa đến mắt, đưa đến trí, hướng đến an tịnh, thắng trí, chánh giác, Niết-bàn.
Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā;
Know what it means to flatter and to rebuke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nên biết sự tâng bốc; nên biết sự chê bai;
ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyya.
Knowing these, avoid them, and just teach Dhamma.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết rõ sự tâng bốc, biết rõ sự chê bai, không tâng bốc, không chê bai, chỉ thuyết pháp.
Sukhavinicchayaṁ jaññā;
Know how to evaluate different kinds of pleasure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nên biết sự phân biệt lạc;
sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyya.
Knowing this, pursue inner pleasure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết rõ sự phân biệt lạc, hãy chuyên tâm theo đuổi lạc nội tại.
Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe.
Don’t talk behind people’s backs, and don’t speak sharply in their presence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không nên nói lời bí mật, không nên nói thẳng mặt lời gay gắt.
Ataramānova bhāseyya, no taramāno.
Don’t speak hurriedly.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hãy nói như người không vội vàng, không vội vàng mà nói.
Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyāti—
Don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không nên chấp trước vào ngôn từ địa phương, không nên vượt quá danh xưng thông thường. —
ayamuddeso araṇavibhaṅgassa.
This is the summary recital for the analysis of no strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là bản tóm lược của sự phân biệt vắng lặng.
‘Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitan’ti—
‘Don’t indulge in sensual pleasure, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And don’t indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không nên chuyên tâm theo đuổi lạc dục — thứ hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích; cũng không nên chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình — thứ khổ, không Thánh, không đem lại lợi ích.’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ; Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā.
Indulging in the happiness of the pleasure linked to sensuality is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. It is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục là hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích; đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
Yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyogo hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā.
Breaking off such indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc không chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục là hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích; đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
Yo attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho; micchāpaṭipadā.
Indulging in self-mortification is painful, ignoble, and pointless. It is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình là khổ, không Thánh, không đem lại lợi ích; đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
Yo attakilamathānuyogaṁ ananuyogo dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho; sammāpaṭipadā.
Breaking off such indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc không chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình là khổ, không Thánh, không đem lại lợi ích; đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
‘Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogaṁ anuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitan’ti—
‘Don’t indulge in sensual pleasure, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And don’t indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không nên chuyên tâm theo đuổi lạc dục — thứ hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích; cũng không nên chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình — thứ khổ, không Thánh, không đem lại lợi ích.’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti—
‘Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chính tránh xa hai cực đoan này, trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, đưa đến mắt, đưa đến trí, hướng đến an tịnh, thắng trí, chánh giác, Niết-bàn.’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
It is simply this noble eightfold path, that is:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính là Thánh đạo tám chi này, đó là:
sammādiṭṭhi, sammāsaṅkappo, sammāvācā, sammākammanto, sammāājīvo, sammāvāyāmo, sammāsati, sammāsamādhi.
right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.
‘Ete kho ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattatī’ti—
‘Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chính tránh xa hai cực đoan này, trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, đưa đến mắt, đưa đến trí, hướng đến an tịnh, thắng trí, chánh giác, Niết-bàn.’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā;
‘Know what it means to flatter and to rebuke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nên biết sự tâng bốc; nên biết sự chê bai;
ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti—
Knowing these, avoid them, and just teach Dhamma.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết rõ sự tâng bốc, biết rõ sự chê bai, không tâng bốc, không chê bai, chỉ thuyết pháp.’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Kathañca, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā?
And how is there flattering and rebuking without teaching Dhamma?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là có tâng bốc và chê bai, mà không thuyết pháp?
‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—
‘All those who indulge in the happiness of the pleasure linked to sensuality—low, crude, ordinary, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não, là bậc tà hạnh’ —
iti vadaṁ ittheke apasādeti.
In speaking like this, one rebukes some here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, ở đây người này chê bai một số người.
‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—
‘All those who have broken off indulging in the happiness of the pleasure linked to sensuality are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não, là bậc chánh hạnh’ —
iti vadaṁ ittheke ussādeti.
In speaking like this, one flatters some here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, ở đây người này tâng bốc một số người.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—
‘All those who indulge in self-mortification—painful, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não, là bậc tà hạnh’ —
iti vadaṁ ittheke apasādeti.
In speaking like this, one rebukes some here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, ở đây người này chê bai một số người.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—
‘All those who have broken off indulging in self-mortification are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não, là bậc chánh hạnh’ —
iti vadaṁ ittheke ussādeti.
In speaking like this, one flatters some here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, ở đây người này tâng bốc một số người.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—
‘All those who have not given up the fetter of continued existence are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chưa đoạn trừ thủ hữu kiết sử, tất cả những người ấy có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não, là bậc tà hạnh’ —
iti vadaṁ ittheke apasādeti.
In speaking like this, one rebukes some here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, ở đây người này chê bai một số người.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—
‘All those who have given up the fetter of continued existence are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai đã đoạn trừ thủ hữu kiết sử, tất cả những người ấy không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não, là bậc chánh hạnh’ —
iti vadaṁ ittheke ussādeti.
In speaking like this, one flatters some here.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, ở đây người này tâng bốc một số người.
Evaṁ kho, bhikkhave, ussādanā ca hoti apasādanā ca, no ca dhammadesanā.
That’s how there is flattering and rebuking without teaching Dhamma.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này các tỳ-kheo, là có tâng bốc và chê bai, mà không thuyết pháp.
Kathañca, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca?
And how is there neither flattering nor rebuking, and just teaching Dhamma?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là không tâng bốc, không chê bai, mà chỉ thuyết pháp?
‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ anuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—
You don’t say: ‘All those who indulge in the happiness of the pleasure linked to sensuality—low, crude, ordinary, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não, là bậc tà hạnh’ —
na evamāha.
Rather, by saying this you just teach Dhamma:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không nói như vậy; mà nói như vậy, thời chỉ thuyết pháp:
‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
‘The indulgence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Việc chuyên tâm theo đuổi là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não;
micchāpaṭipadā’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh’ —
iti vadaṁ dhammameva deseti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, thời chỉ thuyết pháp.
‘Ye kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyuttā hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—
You don’t say: ‘All those who have broken off indulging in the happiness of the pleasure linked to sensuality are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não, là bậc chánh hạnh’ —
na evamāha.
Rather, by saying this you just teach Dhamma:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không nói như vậy; mà nói như vầy, thời chỉ thuyết pháp:
‘Ananuyogo ca kho adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
‘Breaking off the indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Việc không chuyên tâm theo đuổi là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não;
sammāpaṭipadā’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh’ —
iti vadaṁ dhammameva deseti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, thời chỉ thuyết pháp.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ anuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—
You don’t say: ‘All those who indulge in self-mortification—painful, ignoble, and pointless—are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não, là bậc tà hạnh’ —
na evamāha.
Rather, by saying this you just teach Dhamma:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không nói như vậy; mà nói như vầy, thời chỉ thuyết pháp:
‘Anuyogo ca kho sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
‘The indulgence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Việc chuyên tâm theo đuổi là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não;
micchāpaṭipadā’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh’ —
iti vadaṁ dhammameva deseti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, thời chỉ thuyết pháp.
‘Ye attakilamathānuyogaṁ ananuyuttā dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—
You don’t say: ‘All those who have broken off indulging in self-mortification are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình — hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — tất cả những người ấy không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não, là bậc chánh hạnh’ —
na evamāha.
Rather, by saying this you just teach Dhamma:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không nói như vậy; mà nói như vầy, thời chỉ thuyết pháp:
‘Ananuyogo ca kho adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
‘Breaking off the indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Việc không chuyên tâm theo đuổi là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não;
sammāpaṭipadā’ti—
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh’ —
iti vadaṁ dhammameva deseti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, thời chỉ thuyết pháp.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ appahīnaṁ, sabbe te sadukkhā saupaghātā saupāyāsā sapariḷāhā micchāpaṭipannā’ti—
You don’t say: ‘All those who have not given up the fetter of continued existence are beset by pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the wrong way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai chưa đoạn trừ thủ hữu kiết sử, tất cả những người ấy có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não, là bậc tà hạnh’ —
na evamāha.
Rather, by saying this you just teach Dhamma:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không nói như vậy; mà nói như vầy, thời chỉ thuyết pháp:
‘Bhavasaṁyojane ca kho appahīne bhavopi appahīno hotī’ti—
‘When the fetter of continued existence is not given up, continued existence is also not given up.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Còn việc chưa đoạn trừ thủ hữu kiết sử, thì hữu cũng chưa được đoạn trừ’ —
iti vadaṁ dhammameva deseti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, thời chỉ thuyết pháp.
‘Yesaṁ kesañci bhavasaṁyojanaṁ pahīnaṁ, sabbe te adukkhā anupaghātā anupāyāsā apariḷāhā sammāpaṭipannā’ti—
You don’t say: ‘All those who have given up the fetter of continued existence are free of pain, harm, stress, and fever, and they are practicing the right way.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ai đã đoạn trừ thủ hữu kiết sử, tất cả những người ấy không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não, là bậc chánh hạnh’ —
na evamāha.
Rather, by saying this you just teach Dhamma:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không nói như vậy; mà nói như vầy, thời chỉ thuyết pháp:
‘Bhavasaṁyojane ca kho pahīne bhavopi pahīno hotī’ti—
‘When the fetter of continued existence is given up, continued existence is also given up.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Còn việc đã đoạn trừ thủ hữu kiết sử, thì hữu cũng được đoạn trừ’ —
iti vadaṁ dhammameva deseti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nói như vậy, thời chỉ thuyết pháp.
Evaṁ kho, bhikkhave, nevussādanā hoti na apasādanā, dhammadesanā ca.
That’s how there is neither flattering nor rebuking, and just teaching Dhamma.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này các tỳ-kheo, là không tâng bốc, không chê bai, mà chỉ thuyết pháp.
‘Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā;
‘Know what it means to flatter and to rebuke.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nên biết sự tâng bốc; nên biết sự chê bai;
ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyyā’ti—
Knowing these, avoid them, and just teach Dhamma.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết rõ sự tâng bốc, biết rõ sự chê bai, không tâng bốc, không chê bai, chỉ thuyết pháp.’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Sukhavinicchayaṁ jaññā;
‘Know how to evaluate different kinds of pleasure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nên biết sự phân biệt lạc;
sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti—
Knowing this, pursue inner pleasure.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết rõ sự phân biệt lạc, hãy chuyên tâm theo đuổi lạc nội tại.’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā.
There are these five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có năm đối tượng dục này, này các tỳ-kheo.
Katame pañca?
What five?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào là năm?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn;
sotaviññeyyā saddā …
Sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tiếng do tai nhận biết …
ghānaviññeyyā gandhā …
Smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hương do mũi nhận biết …
jivhāviññeyyā rasā …
Tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị được lưỡi nhận biết …
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—
Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xúc do thân nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn —
ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā.
These are the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này các tỳ-kheo, đó là năm loại đối tượng dục.
Yaṁ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ puthujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ.
The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure—a filthy, common, ignoble pleasure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lạc và hỷ nào khởi lên do duyên năm đối tượng dục này, đó gọi là lạc dục, lạc uế trược, lạc phàm phu, lạc không Thánh.
‘Na āsevitabbaṁ, na bhāvetabbaṁ, na bahulīkātabbaṁ, bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi.
Such pleasure should not be cultivated or developed, but should be feared, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không nên thân cận, không nên tu tập, không nên làm cho tăng trưởng; nên sợ hãi lạc này’ — Ta nói vậy.
Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Now, take a mendicant who, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng và an trú sơ thiền, có tầm có tứ, với hỷ lạc do ly dục sinh.
Vitakkavicārānaṁ vūpasamā ajjhattaṁ sampasādanaṁ cetaso ekodibhāvaṁ avitakkaṁ avicāraṁ samādhijaṁ pītisukhaṁ dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
As the placing of the mind and keeping it connected are stilled, they enter and remain in the second absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do tầm và tứ lắng dịu, nội tâm lắng trong, tâm hợp nhất, không tầm, không tứ, với hỷ lạc do định sinh, vị ấy chứng và an trú thiền thứ hai.
Pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ …pe…
third absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do hỷ ly tham, an trú xả … thiền thứ ba …
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
fourth absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chứng và an trú thiền thứ tư.
Idaṁ vuccati nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ.
This is called the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây gọi là lạc ly dục, lạc độc cư, lạc an tịnh, lạc chánh giác.
‘Āsevitabbaṁ, bhāvetabbaṁ, bahulīkātabbaṁ, na bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi.
Such pleasure should be cultivated and developed, and should not be feared, I say.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nên thân cận, nên tu tập, nên làm cho tăng trưởng; không nên sợ hãi lạc này’ — Ta nói vậy.
‘Sukhavinicchayaṁ jaññā;
‘Know how to evaluate different kinds of pleasure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nên biết sự phân biệt lạc;
sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyyā’ti—
Knowing this, pursue inner pleasure.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết rõ sự phân biệt lạc, hãy chuyên tâm theo đuổi lạc nội tại.’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti—
‘Don’t talk behind people’s backs, and don’t speak sharply in their presence.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không nên nói lời bí mật, không nên nói thẳng mặt lời gay gắt.’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ.
That’s what I said,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói.
Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Được nói đến vì nhân duyên gì?
Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā rahovādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ rahovādaṁ na bhāseyya.
When you know that what you say behind someone’s back is untrue, false, and pointless, then to the best of your ability you should not speak.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, lời nói bí mật nào được biết là không thật, không đúng, không đem lại lợi ích, hãy cố hết sức không nói lời bí mật ấy.
Yampi jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya.
When you know that what you say behind someone’s back is true and correct, but pointless, then you should train yourself not to speak.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói bí mật nào được biết là thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích, cũng hãy tập không nói lời ấy.
Yañca kho jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa rahovādassa vacanāya.
When you know that what you say behind someone’s back is true, correct, and beneficial, then you should know the right time to speak.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn lời nói bí mật nào được biết là thật, đúng, và đem lại lợi ích, hãy biết đúng thời để nói lời bí mật ấy.
Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā sammukhā khīṇavādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ sammukhā khīṇavādaṁ na bhāseyya.
When you know that your sharp words in someone’s presence are untrue, false, and pointless, then to the best of your ability you should not speak.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói thẳng mặt gay gắt nào được biết là không thật, không đúng, không đem lại lợi ích, hãy cố hết sức không nói lời thẳng mặt gay gắt ấy.
Yampi jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya.
When you know that your sharp words in someone’s presence are true and correct, but pointless, then you should train yourself not to speak.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói thẳng mặt gay gắt nào được biết là thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích, cũng hãy tập không nói lời ấy.
Yañca kho jaññā sammukhā khīṇavādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa sammukhā khīṇavādassa vacanāya.
When you know that your sharp words in someone’s presence are true, correct, and beneficial, then you should know the right time to speak.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn lời nói thẳng mặt gay gắt nào được biết là thật, đúng, và đem lại lợi ích, hãy biết đúng thời để nói lời ấy.
‘Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe’ti—
‘Don’t talk behind people’s backs, and don’t speak sharply in their presence.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không nên nói lời bí mật, không nên nói thẳng mặt lời gay gắt.’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Ataramānova bhāseyya no taramāno’ti—
‘Don’t speak hurriedly.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nên nói lời không vội vàng, không vội vàng mà nói’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Tatra, bhikkhave, taramānassa bhāsato kāyopi kilamati, cittampi upahaññati, saropi upahaññati, kaṇṭhopi āturīyati, avisaṭṭhampi hoti aviññeyyaṁ taramānassa bhāsitaṁ.
When speaking hurriedly, your body gets tired, your mind gets stressed, your voice gets stressed, your throat gets sore, and your words become unclear and hard to understand.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, khi nói với vội vàng, thân mệt mỏi, tâm bị tổn thương, giọng bị tổn thương, cổ họng đau nhức, lời nói vội vàng không rõ ràng, không dễ hiểu.
Tatra, bhikkhave, ataramānassa bhāsato kāyopi na kilamati, cittampi na upahaññati, saropi na upahaññati, kaṇṭhopi na āturīyati, visaṭṭhampi hoti viññeyyaṁ ataramānassa bhāsitaṁ.
When not speaking hurriedly, your body doesn’t get tired, your mind doesn’t get stressed, your voice doesn’t get stressed, your throat doesn’t get sore, and your words are clear and easy to understand.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn khi nói không vội vàng, thân không mệt mỏi, tâm không bị tổn thương, giọng không bị tổn thương, cổ họng không đau nhức, lời nói không vội vàng rõ ràng, dễ hiểu.
‘Ataramānova bhāseyya, no taramāno’ti—
‘Don’t speak hurriedly.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Nên nói lời không vội vàng, không vội vàng mà nói’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyā’ti—
‘Don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không nên chấp trước vào ngôn từ địa phương, không nên vượt quá danh xưng thông thường.’ —
iti kho panetaṁ vuttaṁ. Kiñcetaṁ paṭicca vuttaṁ?
That’s what I said, but why did I say it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói. Được nói đến vì nhân duyên gì?
Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro?
And how do you insist on popular definitions and overstep normal labels?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là chấp trước ngôn từ địa phương và vượt quá danh xưng thông thường?
Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti.
It’s when among different populations they label the same thing as a ‘cup’, a ‘bowl’, a ‘jar’, a ‘scoop’, a ‘vessel’, a ‘dish’, or a ‘plate’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, ở một số địa phương cùng một vật được gọi là ‘pātī’, được gọi là ‘patta’, được gọi là ‘vitta’, được gọi là ‘sarāva’, được gọi là ‘dhāropa’, được gọi là ‘poṇa’, được gọi là ‘pisīlava’.
Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti tathā tathā thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati:
And however it is known among those various populations, you speak accordingly, obstinately sticking to that and insisting:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy cách nào người ta biết ở nơi nơi, cách ấy nắm giữ kiên cố, chấp trước mà quyết định:
‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti.
‘This is the only truth, anything else is futile.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chỉ đây là thật, còn lại đều vô dụng.’
Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca abhiniveso hoti samaññāya ca atisāro.
That’s how you insist on popular definitions and overstep normal labels.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này các tỳ-kheo, là chấp trước ngôn từ địa phương và vượt quá danh xưng thông thường.
Kathañca, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti samaññāya ca anatisāro?
And how do you not insist on popular definitions and overstep normal labels?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và thế nào, này các tỳ-kheo, là không chấp trước ngôn từ địa phương và không vượt quá danh xưng thông thường?
Idha, bhikkhave, tadevekaccesu janapadesu ‘pātī’ti sañjānanti, ‘pattan’ti sañjānanti, ‘vittan’ti sañjānanti, ‘sarāvan’ti sañjānanti, ‘dhāropan’ti sañjānanti, ‘poṇan’ti sañjānanti, ‘pisīlavan’ti sañjānanti.
It’s when among different populations they label the same thing as a ‘cup’, a ‘bowl’, a ‘jar’, a ‘scoop’, a ‘vessel’, a ‘dish’, or a ‘plate’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này các tỳ-kheo, ở một số địa phương cùng một vật được gọi là ‘pātī’, được gọi là ‘patta’, được gọi là ‘vitta’, được gọi là ‘sarāva’, được gọi là ‘dhāropa’, được gọi là ‘poṇa’, được gọi là ‘pisīlava’.
Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti ‘idaṁ kira me āyasmanto sandhāya voharantī’ti tathā tathā voharati aparāmasaṁ.
And however it is known among those various populations, you speak accordingly, thinking: ‘It seems that the venerables are referring to this.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy cách nào người ta biết ở nơi nơi, cách ấy nói, không chấp trước, nghĩ: ‘Nghe nói các Tôn giả nói với ý nghĩa này.’
Evaṁ kho, bhikkhave, janapadaniruttiyā ca anabhiniveso hoti, samaññāya ca anatisāro.
That’s how you don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này các tỳ-kheo, là không chấp trước ngôn từ địa phương và không vượt quá danh xưng thông thường.
‘Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya samaññaṁ nātidhāveyyā’ti—
‘Don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không nên chấp trước vào ngôn từ địa phương, không nên vượt quá danh xưng thông thường.’ —
iti yaṁ taṁ vuttaṁ, idametaṁ paṭicca vuttaṁ.
That’s what I said, and this is why I said it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
đó là điều đã được nói; chính do nhân duyên này, điều ấy được nói.
Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Now, mendicants, indulging in the happiness of the pleasure linked to sensuality is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. It is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục là hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yo kāmapaṭisandhisukhino somanassānuyogaṁ ananuyogo hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
Breaking off such indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc không chuyên tâm theo đuổi hỷ lạc do duyên dục là hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Indulging in self-mortification is painful, ignoble, and pointless. It is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình là khổ, không Thánh, không đem lại lợi ích — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yo attakilamathānuyogaṁ ananuyogo dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
Breaking off such indulgence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Việc không chuyên tâm theo đuổi sự tự làm khổ mình là khổ, không Thánh, không đem lại lợi ích — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
The middle way of practice that was understood by the Realized One gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment. It is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, đưa đến mắt, đưa đến trí, hướng đến an tịnh, thắng trí, chánh giác, Niết-bàn — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ ussādanā ca apasādanā ca no ca dhammadesanā, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Flattering and rebuking without teaching Dhamma is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sự tâng bốc và chê bai mà không thuyết pháp — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yāyaṁ nevussādanā ca na apasādanā ca dhammadesanā ca, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
Neither flattering nor rebuking, and just teaching Dhamma is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sự không tâng bốc, không chê bai, mà chỉ thuyết pháp — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ pothujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Sensual pleasure—a filthy, common, ignoble pleasure—is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lạc dục, lạc uế trược, lạc phàm phu, lạc không Thánh — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
The pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lạc ly dục, lạc độc cư, lạc an tịnh, lạc chánh giác — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Saying untrue, false, and pointless things behind someone’s back is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói bí mật không thật, không đúng, không đem lại lợi ích — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Saying true and correct, but pointless things behind someone’s back is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói bí mật thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ rahovādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
Saying true, correct, and beneficial things behind someone’s back is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói bí mật thật, đúng, và đem lại lợi ích — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo abhūto ataccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Saying untrue, false, and pointless things in someone’s presence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói thẳng mặt gay gắt không thật, không đúng, không đem lại lợi ích — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho anatthasaṁhito, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Saying true and correct, but pointless things in someone’s presence is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói thẳng mặt gay gắt thật, đúng, nhưng không đem lại lợi ích — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ sammukhā khīṇavādo bhūto taccho atthasaṁhito, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
Saying true, correct, and beneficial things in someone’s presence is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói thẳng mặt gay gắt thật, đúng, và đem lại lợi ích — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ taramānassa bhāsitaṁ, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Speaking hurriedly is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói vội vàng — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yamidaṁ ataramānassa bhāsitaṁ, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
Speaking unhurriedly is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lời nói không vội vàng — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca abhiniveso samaññāya ca atisāro, sadukkho eso dhammo saupaghāto saupāyāso sapariḷāho;
Insisting on popular definitions and overriding common usage is a principle beset by pain, harm, stress, and fever, and it is the wrong way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sự chấp trước ngôn từ địa phương và vượt quá danh xưng thông thường — vì đây là pháp có khổ, có hại, có ưu não, có nhiệt não; là tà hạnh.
micchāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là tà hạnh.
Tasmā eso dhammo saraṇo.
That’s why this is a principle beset by strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp có xung đột.
Tatra, bhikkhave, yvāyaṁ janapadaniruttiyā ca anabhiniveso samaññāya ca anatisāro, adukkho eso dhammo anupaghāto anupāyāso apariḷāho;
Not insisting on popular definitions and not overriding common usage is a principle free of pain, harm, stress, and fever, and it is the right way.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sự không chấp trước ngôn từ địa phương và không vượt quá danh xưng thông thường — vì đây là pháp không khổ, không hại, không ưu não, không nhiệt não; là chánh hạnh.
sammāpaṭipadā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
là chánh hạnh.
Tasmā eso dhammo araṇo.
That’s why this is a principle free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì thế đây là pháp vắng lặng.
Tasmātiha, bhikkhave, ‘saraṇañca dhammaṁ jānissāma, araṇañca dhammaṁ jānissāma;
So you should train like this: ‘We shall know the principles beset by strife and the principles free of strife.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này các tỳ-kheo: ‘Chúng ta sẽ biết pháp có xung đột, sẽ biết pháp vắng lặng;
saraṇañca dhammaṁ ñatvā araṇañca dhammaṁ ñatvā araṇapaṭipadaṁ paṭipajjissāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
Knowing this, we will practice the way free of strife.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết rõ pháp có xung đột, biết rõ pháp vắng lặng, chúng ta sẽ hành trì hạnh vắng lặng’ — như vậy, này các tỳ-kheo, các thầy hãy học.
Subhūti ca pana, bhikkhave, kulaputto araṇapaṭipadaṁ paṭipanno”ti.
And, mendicants, the gentleman Subhūti practices the way free of strife.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này các tỳ-kheo, Thiện nam Subhūti là người đang hành trì hạnh vắng lặng.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán đồng lời Đức Phật dạy.
Araṇavibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ navamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Phân Biệt Vắng Lặng, bài thứ chín, kết thúc.