mn122:0.1
Majjhima Nikāya 122
Middle Discourses 122
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 122
mn122:0.2
Mahāsuññatasutta
The Longer Discourse on Emptiness
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Đại Không
mn122:1.1
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
mn122:1.2
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở xứ Sakya, gần Kapilavatthu, tại tu viện Cây Đa.
mn122:2.1
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya kapilavatthuṁ piṇḍāya pāvisi.
Then the Buddha robed up in the morning and, taking his bowl and robe, entered Kapilavatthu for alms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát và y ngoài, đi vào Kapilavatthu khất thực.
mn122:2.2
Kapilavatthusmiṁ piṇḍāya caritvā pacchābhattaṁ piṇḍapātapaṭikkanto yena kāḷakhemakassa sakkassa vihāro tenupasaṅkami divāvihārāya.
He wandered for alms in Kapilavatthu. After the meal, on his return from almsround, he went to the lodge of the Sakyan Khemaka the Dark for the day’s meditation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khất thực xong ở Kapilavatthu, sau bữa ăn, trên đường trở về sau khất thực, Ngài đi đến tịnh xá của Kāḷakhemaka người Sakya để nghỉ trưa.
mn122:2.3
Tena kho pana samayena kāḷakhemakassa sakkassa vihāre sambahulāni senāsanāni paññattāni honti.
Now at that time many resting places had been spread out at the lodge of Khemaka the Dark.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc bấy giờ, tại tịnh xá của Kāḷakhemaka người Sakya có nhiều chỗ nằm nghỉ đã được dọn sẵn.
mn122:2.4
Addasā kho bhagavā kāḷakhemakassa sakkassa vihāre sambahulāni senāsanāni paññattāni.
The Buddha saw this,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật thấy tại tịnh xá của Kāḷakhemaka người Sakya có nhiều chỗ nằm nghỉ đã được dọn sẵn.
mn122:2.5
Disvāna bhagavato etadahosi:
and wondered,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thấy vậy, Đức Phật suy nghĩ:
mn122:2.6
“sambahulāni kho kāḷakhemakassa sakkassa vihāre senāsanāni paññattāni.
“Many resting places have been spread out;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nhiều chỗ nằm nghỉ đã được dọn tại tịnh xá của Kāḷakhemaka người Sakya.
mn122:2.7
Sambahulā nu kho idha bhikkhū viharantī”ti.
are there many mendicants living here?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không biết có nhiều tỳ-kheo đang trú ở đây không?”
mn122:2.8
Tena kho pana samayena āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ ghaṭāya sakkassa vihāre cīvarakammaṁ karoti.
Now at that time Venerable Ānanda, together with many other mendicants, was making robes at the lodge of the Sakyan Ghaṭā.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda cùng với nhiều tỳ-kheo đang may y tại tịnh xá của Ghaṭā người Sakya.
mn122:2.9
Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena ghaṭāya sakkassa vihāro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi.
Then in the late afternoon, the Buddha came out of retreat and went to Ghaṭā’s lodge, where he sat down on the seat spread out
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Đức Phật, vào buổi chiều, từ chỗ thiền tịnh đứng dậy, đi đến tịnh xá của Ghaṭā người Sakya; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn.
mn122:2.10
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
and said to Venerable Ānanda,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật ngồi xong, nói với Tôn giả Ānanda:
mn122:2.11
“sambahulāni kho, ānanda, kāḷakhemakassa sakkassa vihāre senāsanāni paññattāni.
“Many resting places have been spread out at the lodge of Khemaka the Dark;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, nhiều chỗ nằm nghỉ đã được dọn tại tịnh xá của Kāḷakhemaka người Sakya;
mn122:2.12
Sambahulā nu kho ettha bhikkhū viharantī”ti?
are many mendicants living there?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không biết có nhiều tỳ-kheo đang trú ở đó không?”
mn122:2.13
“Sambahulāni, bhante, kāḷakhemakassa sakkassa vihāre senāsanāni paññattāni.
“Many resting places, sir, have been spread out at the lodge of Khemaka the Dark.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, nhiều chỗ nằm nghỉ đã được dọn tại tịnh xá của Kāḷakhemaka người Sakya.
mn122:2.14
Sambahulā bhikkhū ettha viharanti.
“Indeed there are, sir.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có nhiều tỳ-kheo đang trú ở đó.
mn122:2.15
Cīvarakārasamayo no, bhante, vattatī”ti.
It’s currently the time for making robes.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, nay là thời gian chúng con làm y.”
mn122:3.1
“Na kho, ānanda, bhikkhu sobhati saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito.
“Ānanda, a mendicant doesn’t shine who enjoys company and groups, who loves them and likes to enjoy them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, vị tỳ-kheo không được sáng đẹp khi ưa thích hội họp, vui thích hội họp, chuyên theo sự ưa thích hội họp, ưa thích đoàn thể, vui thích đoàn thể, phấn khởi trong đoàn thể.
mn122:3.2
So vatānanda, bhikkhu saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito yaṁ taṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ tassa sukhassa nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
It is quite impossible that such a mendicant will get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, vị tỳ-kheo nào ưa thích hội họp, vui thích hội họp, chuyên theo sự ưa thích hội họp, ưa thích đoàn thể, vui thích đoàn thể, phấn khởi trong đoàn thể, mà sẽ tùy ý chứng được lạc ly dục, lạc độc cư, lạc an tịnh, lạc chánh giác, chứng được không khó nhọc, không vất vả — điều ấy không có trường hợp xảy ra.
mn122:3.3
Yo ca kho so, ānanda, bhikkhu eko gaṇasmā vūpakaṭṭho viharati tassetaṁ bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ yaṁ taṁ nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ tassa sukhassa nikāmalābhī bhavissati akicchalābhī akasiralābhīti—ṭhānametaṁ vijjati.
But you should expect that a mendicant who lives alone, withdrawn from the group, will get the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening when they want, without trouble or difficulty. That is possible.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn này Ānanda, vị tỳ-kheo sống một mình, tách rời khỏi đoàn thể, thì có thể mong đợi vị tỳ-kheo ấy tùy ý chứng được lạc ly dục, lạc độc cư, lạc an tịnh, lạc chánh giác, chứng được không khó nhọc, không vất vả — điều ấy có trường hợp xảy ra.
mn122:4.1
So vatānanda, bhikkhu saṅgaṇikārāmo saṅgaṇikarato saṅgaṇikārāmataṁ anuyutto gaṇārāmo gaṇarato gaṇasammudito sāmāyikaṁ vā kantaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharissati asāmāyikaṁ vā akuppanti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Indeed, Ānanda, it is quite impossible that a mendicant who enjoys company will enter and remain in the freedom of heart—either that which is temporary and pleasant, or that which is irreversible and unshakable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, thật không thể có vị tỳ-kheo ưa thích hội họp, vui thích hội họp, chuyên theo sự ưa thích hội họp, ưa thích đoàn thể, vui thích đoàn thể, phấn khởi trong đoàn thể sẽ chứng và an trú tâm giải thoát tạm thời, dễ chịu, hay tâm giải thoát không tạm thời, bất động — điều ấy không có trường hợp xảy ra.
mn122:4.2
Yo ca kho so, ānanda, bhikkhu eko gaṇasmā vūpakaṭṭho viharati tassetaṁ bhikkhuno pāṭikaṅkhaṁ sāmāyikaṁ vā kantaṁ cetovimuttiṁ upasampajja viharissati asāmāyikaṁ vā akuppanti—ṭhānametaṁ vijjati.
But it is possible that a mendicant who lives alone, withdrawn from the group will enter and remain in the freedom of heart—either that which is temporary and pleasant, or that which is irreversible and unshakable.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn này Ānanda, vị tỳ-kheo sống một mình, tách rời khỏi đoàn thể, thì có thể mong đợi vị tỳ-kheo ấy sẽ chứng và an trú tâm giải thoát tạm thời, dễ chịu, hay tâm giải thoát không tạm thời, bất động — điều ấy có trường hợp xảy ra.
mn122:5.1
Nāhaṁ, ānanda, ekaṁ rūpampi samanupassāmi yattha rattassa yathābhiratassa rūpassa vipariṇāmaññathābhāvā na uppajjeyyuṁ sokaparidevadukkhadomanassūpāyāsā.
Ānanda, I do not see even a single sight which, with its decay and perishing, would not give rise to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress in someone who has desire and lust for it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, Ta không thấy dù chỉ một sắc nào, khi sự biến đổi và hoại diệt của sắc ấy xảy ra, lại không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não ở người ham mê, vui thích sắc ấy.
mn122:6.1
Ayaṁ kho panānanda, vihāro tathāgatena abhisambuddho yadidaṁ—
But this meditation has been understood by the Realized One, namely
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn đây, này Ānanda, là pháp an trú đã được Như Lai giác ngộ, tức là—
mn122:6.2
sabbanimittānaṁ amanasikārā ajjhattaṁ suññataṁ upasampajja viharituṁ.
to enter and remain in emptiness internally by not focusing on any signs.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chứng và an trú nội không bằng cách không tác ý tất cả các tướng.
mn122:6.3
Tatra ce, ānanda, tathāgataṁ iminā vihārena viharantaṁ bhavanti upasaṅkamitāro bhikkhū bhikkhuniyo upāsakā upāsikāyo rājāno rājamahāmattā titthiyā titthiyasāvakā.
Now, suppose that while the Realized One is practicing this meditation, monks, nuns, laymen, laywomen, rulers and their chief ministers, monastics of other religions and their disciples go to visit him.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, nếu trong khi Như Lai đang an trú bằng pháp an trú này, có các tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, các vị vua, các vị đại thần, các đạo sĩ và các đệ tử đạo sĩ đến yết kiến,
mn122:6.4
Tatrānanda, tathāgato vivekaninneneva cittena vivekapoṇena vivekapabbhārena vūpakaṭṭhena nekkhammābhiratena byantībhūtena sabbaso āsavaṭṭhānīyehi dhammehi aññadatthu uyyojanikapaṭisaṁyuttaṁyeva kathaṁ kattā hoti.
In that case, with a mind slanting, sloping, and inclining to seclusion, withdrawn, and loving renunciation, having totally eliminated defiling influences, he invariably gives a talk concerned only with sending them away.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì này Ānanda, với tâm hướng về viễn ly, thiên về viễn ly, nghiêng về viễn ly, sống độc cư, ưa thích ly dục, đã làm cho tận cùng mọi pháp là cơ sở của lậu hoặc, Như Lai chỉ nói những lời thuần túy liên hệ đến việc tiễn các vị ấy về.
mn122:7.1
Tasmātihānanda, bhikkhu cepi ākaṅkheyya:
Therefore, if a mendicant should wish,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo nào dù mong muốn:
mn122:7.2
‘ajjhattaṁ suññataṁ upasampajja vihareyyan’ti, tenānanda, bhikkhunā ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ sannisādetabbaṁ ekodi kātabbaṁ samādahātabbaṁ.
‘May I enter and remain in emptiness internally!’ then they should still, settle, unify, and immerse their mind in samādhi internally.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Mong rằng ta chứng và an trú nội không’, thì này Ānanda, vị tỳ-kheo ấy phải an định nội tâm, đặt nội tâm an chỉ, làm nội tâm chuyên nhất, thu nội tâm vào định.
mn122:7.3
Kathañcānanda, bhikkhu ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapeti sannisādeti ekodiṁ karoti samādahati?
And how does a mendicant still, settle, unify, and immerse their mind in samādhi internally?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Ānanda, thế nào là vị tỳ-kheo an định nội tâm, đặt nội tâm an chỉ, làm nội tâm chuyên nhất, thu nội tâm vào định?
mn122:8.1
Idhānanda, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi …pe… paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati …pe…
It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, vị tỳ-kheo hoàn toàn ly dục, ly các pháp bất thiện … chứng và an trú thiền thứ nhất …
mn122:8.2
dutiyaṁ jhānaṁ …
second absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thiền thứ hai …
mn122:8.3
tatiyaṁ jhānaṁ …
third absorption …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thiền thứ ba …
mn122:8.4
catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
fourth absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và chứng, an trú thiền thứ tư.
mn122:8.5
Evaṁ kho, ānanda, bhikkhu ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapeti sannisādeti ekodiṁ karoti samādahati.
That’s how a mendicant stills, settles, unifies, and immerses their mind in samādhi internally.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo an định nội tâm, đặt nội tâm an chỉ, làm nội tâm chuyên nhất, thu nội tâm vào định.
mn122:9.1
So ajjhattaṁ suññataṁ manasi karoti.
They focus on emptiness internally,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý nội không.
mn122:9.2
Tassa ajjhattaṁ suññataṁ manasikaroto suññatāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
but their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm vị ấy không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát nơi nội không.
mn122:9.3
Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti:
In that case, they understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo biết rõ như sau:
mn122:9.4
‘ajjhattaṁ suññataṁ kho me manasikaroto ajjhattaṁ suññatāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccatī’ti.
‘I am focusing on emptiness internally, but my mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta tác ý nội không, tâm ta không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát nơi nội không.’
mn122:9.5
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:9.6
So bahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe…
They focus on emptiness externally …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý ngoại không …
mn122:9.7
so ajjhattabahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe…
They focus on emptiness internally and externally …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý nội ngoại không …
mn122:9.8
so āneñjaṁ manasi karoti.
They focus on the imperturbable,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý bất động.
mn122:9.9
Tassa āneñjaṁ manasikaroto āneñjāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccati.
but their mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi vị ấy tác ý bất động, tâm vị ấy không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát nơi bất động.
mn122:9.10
Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti:
In that case, they understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo biết rõ như sau:
mn122:9.11
‘āneñjaṁ kho me manasikaroto āneñjāya cittaṁ na pakkhandati nappasīdati na santiṭṭhati na vimuccatī’ti.
‘I am focusing on the imperturbable internally, but my mind does not leap forth, gain confidence, settle down, and become decided.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta tác ý bất động, tâm ta không hướng đến, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát nơi bất động.’
mn122:9.12
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:10.1
Tenānanda, bhikkhunā tasmiṁyeva purimasmiṁ samādhinimitte ajjhattameva cittaṁ saṇṭhapetabbaṁ sannisādetabbaṁ ekodi kātabbaṁ samādahātabbaṁ.
Then that mendicant should still, settle, unify, and immerse their mind in samādhi internally in the same meditation subject as a basis of immersion as before.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thì này Ānanda, vị tỳ-kheo ấy phải an định nội tâm, đặt nội tâm an chỉ, làm nội tâm chuyên nhất, thu nội tâm vào định, ngay trên chính định tướng trước kia.
mn122:10.2
So ajjhattaṁ suññataṁ manasi karoti.
They focus on emptiness internally,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý nội không.
mn122:10.3
Tassa ajjhattaṁ suññataṁ manasikaroto ajjhattaṁ suññatāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
and their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi vị ấy tác ý nội không, tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, giải thoát nơi nội không.
mn122:10.4
Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti:
In that case, they understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo biết rõ như sau:
mn122:10.5
‘ajjhattaṁ suññataṁ kho me manasikaroto ajjhattaṁ suññatāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccatī’ti.
‘I am focusing on emptiness internally, and my mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta tác ý nội không, tâm ta hướng đến, tịnh tín, an trú, giải thoát nơi nội không.’
mn122:10.6
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:10.7
So bahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe…
They focus on emptiness externally …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý ngoại không …
mn122:10.8
so ajjhattabahiddhā suññataṁ manasi karoti …pe…
They focus on emptiness internally and externally …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý nội ngoại không …
mn122:10.9
so āneñjaṁ manasi karoti.
They focus on the imperturbable,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy tác ý bất động.
mn122:10.10
Tassa āneñjaṁ manasikaroto āneñjāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccati.
and their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi vị ấy tác ý bất động, tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, giải thoát nơi bất động.
mn122:10.11
Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti:
In that case, they understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo biết rõ như sau:
mn122:10.12
‘āneñjaṁ kho me manasikaroto āneñjāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati vimuccatī’ti.
‘I am focusing on the imperturbable, and my mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta tác ý bất động, tâm ta hướng đến, tịnh tín, an trú, giải thoát nơi bất động.’
mn122:10.13
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:11.1
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato caṅkamāya cittaṁ namati, so caṅkamati:
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to walking, they walk, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, trong khi vị tỳ-kheo an trú bằng pháp an trú này, nếu tâm vị ấy hướng đến kinh hành, vị ấy kinh hành:
mn122:11.2
‘evaṁ maṁ caṅkamantaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
‘While I’m walking, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta kinh hành, tham và ưu, các pháp ác bất thiện, sẽ không chảy theo ta.’
mn122:11.3
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:11.4
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato ṭhānāya cittaṁ namati, so tiṭṭhati:
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to standing, they stand, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, trong khi vị tỳ-kheo an trú bằng pháp an trú này, nếu tâm vị ấy hướng đến đứng, vị ấy đứng:
mn122:11.5
‘evaṁ maṁ ṭhitaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
‘While I’m standing, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta đứng, tham và ưu, các pháp ác bất thiện, sẽ không chảy theo ta.’
mn122:11.6
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:11.7
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato nisajjāya cittaṁ namati, so nisīdati:
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to sitting, they sit, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, trong khi vị tỳ-kheo an trú bằng pháp an trú này, nếu tâm vị ấy hướng đến ngồi, vị ấy ngồi:
mn122:11.8
‘evaṁ maṁ nisinnaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
‘While I’m sitting, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta ngồi, tham và ưu, các pháp ác bất thiện, sẽ không chảy theo ta.’
mn122:11.9
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:11.10
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato sayanāya cittaṁ namati, so sayati:
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to lying down, they lie down, thinking:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, trong khi vị tỳ-kheo an trú bằng pháp an trú này, nếu tâm vị ấy hướng đến nằm, vị ấy nằm:
mn122:11.11
‘evaṁ maṁ sayantaṁ nābhijjhādomanassā pāpakā akusalā dhammā anvāssavissantī’ti.
‘While I’m lying down, bad, unskillful qualities of covetousness and displeasure will not overwhelm me.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong khi ta nằm, tham và ưu, các pháp ác bất thiện, sẽ không chảy theo ta.’
mn122:11.12
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:12.1
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato kathāya cittaṁ namati, so:
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to talking, they think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, trong khi vị tỳ-kheo an trú bằng pháp an trú này, nếu tâm vị ấy hướng đến đàm luận, vị ấy nghĩ:
mn122:12.2
‘yāyaṁ kathā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—rājakathā corakathā mahāmattakathā senākathā bhayakathā yuddhakathā annakathā pānakathā vatthakathā sayanakathā mālākathā gandhakathā ñātikathā yānakathā gāmakathā nigamakathā nagarakathā janapadakathā itthikathā surākathā visikhākathā kumbhaṭṭhānakathā pubbapetakathā nānattakathā lokakkhāyikā samuddakkhāyikā itibhavābhavakathā iti vā iti—evarūpiṁ kathaṁ na kathessāmī’ti.
‘I will not engage in the kind of speech that is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. Such speech doesn’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. Namely: talk about kings, bandits, and chief ministers; talk about armies, threats, and wars; talk about food, drink, clothes, and beds; talk about garlands and fragrances; talk about family, vehicles, villages, towns, cities, and countries; talk about women and heroes; talk at the street market and the place for water pots; talk about the departed; motley talk; tales of land and sea; and talk about being reborn in this or that state of existence.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Loại đàm luận nào hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, đó là: đàm luận về vua chúa, đàm luận về trộm cướp, đàm luận về đại thần, đàm luận về quân đội, đàm luận về nỗi kinh hoàng, đàm luận về chiến tranh, đàm luận về thức ăn, đàm luận về đồ uống, đàm luận về y phục, đàm luận về chỗ nằm, đàm luận về hoa vòng, đàm luận về hương, đàm luận về thân thích, đàm luận về xe cộ, đàm luận về làng, đàm luận về thị trấn, đàm luận về thành phố, đàm luận về xứ, đàm luận về đàn bà, đàm luận về anh hùng, đàm luận trên phố chợ, đàm luận nơi đặt chum nước, đàm luận về người đã chết, đàm luận tạp nhạp, đàm luận về thế giới, đàm luận về biển cả, đàm luận về tồn tại này hay không tồn tại — ta sẽ không đàm luận loại đàm luận như vậy.’
mn122:12.3
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:12.4
Yā ca kho ayaṁ, ānanda, kathā abhisallekhikā cetovinīvaraṇasappāyā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā iti: ‘evarūpiṁ kathaṁ kathessāmī’ti.
‘But I will take part in talk about self-effacement that helps open the heart and leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn đàm luận hướng đến tự trừ bỏ, giúp lắng yên các che chướng của tâm, đưa đến hoàn toàn yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, đó là: đàm luận về ít muốn, đàm luận về biết đủ, đàm luận về độc cư, đàm luận về không lui tới, đàm luận về tinh cần tinh tấn, đàm luận về giới, đàm luận về định, đàm luận về tuệ, đàm luận về giải thoát, đàm luận về tri kiến giải thoát — vị ấy nghĩ: ‘Ta sẽ đàm luận loại đàm luận như vậy.’
mn122:12.5
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:13.1
Tassa ce, ānanda, bhikkhuno iminā vihārena viharato vitakkāya cittaṁ namati, so:
While a mendicant is practicing such a meditation, if their mind inclines to thinking, they think:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, trong khi vị tỳ-kheo an trú bằng pháp an trú này, nếu tâm vị ấy hướng đến tư duy, vị ấy nghĩ:
mn122:13.2
‘ye te vitakkā hīnā gammā pothujjanikā anariyā anatthasaṁhitā na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṁvattanti, seyyathidaṁ—kāmavitakko byāpādavitakko vihiṁsāvitakko iti evarūpe vitakke na vitakkessāmī’ti.
‘I will not think the kind of thought that is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. Such thoughts don’t lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That is, sensual, malicious, or cruel thoughts.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những suy nghĩ nào hạ liệt, thô tục, thuộc phàm phu, không thuộc bậc Thánh, không đem lại lợi ích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, đó là: suy nghĩ về dục, suy nghĩ sân hận, suy nghĩ gây hại — ta sẽ không tư duy những suy nghĩ như vậy.’
mn122:13.3
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:13.4
Ye ca kho ime, ānanda, vitakkā ariyā niyyānikā niyyanti takkarassa sammādukkhakkhayāya, seyyathidaṁ—nekkhammavitakko abyāpādavitakko avihiṁsāvitakko iti: ‘evarūpe vitakke vitakkessāmī’ti.
‘But I will think the kind of thought that is noble and emancipating, and brings one who practices it to the complete ending of suffering. That is, thoughts of renunciation, good will, and harmlessness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn những suy nghĩ nào thuộc bậc Thánh, đưa ra ngoài, đưa người hành trì đến sự chấm dứt khổ đau hoàn toàn, đó là: suy nghĩ ly dục, suy nghĩ không sân, suy nghĩ không gây hại — vị ấy nghĩ: ‘Ta sẽ tư duy những suy nghĩ như vậy.’
mn122:13.5
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:14.1
Pañca kho ime, ānanda, kāmaguṇā.
There are these five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, có năm loại đối tượng dục này.
mn122:14.2
Katame pañca?
What five?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Năm nào?
mn122:14.3
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn;
mn122:14.4
sotaviññeyyā saddā …
Sounds known by the ear …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tiếng do tai nhận biết …
mn122:14.5
ghānaviññeyyā gandhā …
Smells known by the nose …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hương do mũi nhận biết …
mn122:14.6
jivhāviññeyyā rasā …
Tastes known by the tongue …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị được lưỡi nhận biết …
mn122:14.7
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—
Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
xúc do thân nhận biết, đáng ưa, đáng thích, dễ chịu, hấp dẫn, liên hệ đến dục và khơi dậy ham muốn —
mn122:14.8
ime kho, ānanda, pañca kāmaguṇā.
These are the five kinds of sensual stimulation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ānanda, đó là năm loại đối tượng dục.
mn122:15.1
Yattha bhikkhunā abhikkhaṇaṁ sakaṁ cittaṁ paccavekkhitabbaṁ:
So a mendicant should regularly check their own mind:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, vị tỳ-kheo cần phải thường xuyên quán sát tự tâm như sau:
mn122:15.2
‘atthi nu kho me imesu pañcasu kāmaguṇesu aññatarasmiṁ vā aññatarasmiṁ vā āyatane uppajjati cetaso samudācāro’ti?
‘Does my mind take an interest in any of these five kinds of sensual stimulation?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Liệu có khởi lên sự hướng động của tâm ta đối với một trong năm đối tượng dục này, hay tại một cảnh nào trong đó hay không?’
mn122:15.3
Sace, ānanda, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ pajānāti:
Suppose that, upon checking, a mendicant knows this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, nếu trong khi quán sát, vị tỳ-kheo biết rõ:
mn122:15.4
‘atthi kho me imesu pañcasu kāmaguṇesu aññatarasmiṁ vā aññatarasmiṁ vā āyatane uppajjati cetaso samudācāro’ti,
‘My mind does take an interest.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Có khởi lên sự hướng động của tâm ta đối với một trong năm đối tượng dục này, hay tại một cảnh nào trong đó’,
mn122:15.5
evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti:
In that case, they understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo biết rõ như sau:
mn122:15.6
‘yo kho imesu pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo so me nappahīno’ti.
‘I have not given up desire and greed for the five kinds of sensual stimulation.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Dục vọng và tham ái của ta đối với năm đối tượng dục này chưa được đoạn trừ.’
mn122:15.7
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:15.8
Sace panānanda, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ pajānāti:
But suppose that, upon checking, a mendicant knows this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, còn nếu trong khi quán sát, vị tỳ-kheo biết rõ:
mn122:15.9
‘natthi kho me imesu pañcasu kāmaguṇesu aññatarasmiṁ vā aññatarasmiṁ vā āyatane uppajjati cetaso samudācāro’ti,
‘My mind does not take an interest.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không khởi lên sự hướng động của tâm ta đối với một trong năm đối tượng dục này, hay tại một cảnh nào trong đó’,
mn122:15.10
evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti:
In that case, they understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo biết rõ như sau:
mn122:15.11
‘yo kho imesu pañcasu kāmaguṇesu chandarāgo so me pahīno’ti.
‘I have given up desire and greed for the five kinds of sensual stimulation.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Dục vọng và tham ái của ta đối với năm đối tượng dục này đã được đoạn trừ.’
mn122:15.12
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:16.1
Pañca kho ime, ānanda, upādānakkhandhā yattha bhikkhunā udayabbayānupassinā vihātabbaṁ:
A mendicant should meditate observing rise and fall in these five grasping aggregates:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, có năm thủ uẩn này mà vị tỳ-kheo phải an trú quán sát sự sinh khởi và biến mất nơi chúng:
mn122:16.2
‘iti rūpaṁ iti rūpassa samudayo iti rūpassa atthaṅgamo,
‘Such is form, such is the origin of form, such is the disappearance of form.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây là sắc, đây là sự sinh khởi của sắc, đây là sự biến mất của sắc,
mn122:16.3
iti vedanā …
Such is feeling …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là thọ …
mn122:16.4
iti saññā …
Such is perception …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là tưởng …
mn122:16.5
iti saṅkhārā …
Such are choices …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là các hành …
mn122:16.6
iti viññāṇaṁ iti viññāṇassa samudayo iti viññāṇassa atthaṅgamo’ti.
Such is consciousness, such is the origin of consciousness, such is the disappearance of consciousness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là thức, đây là sự sinh khởi của thức, đây là sự biến mất của thức.’
mn122:17.1
Tassa imesu pañcasu upādānakkhandhesu udayabbayānupassino viharato yo pañcasu upādānakkhandhesu asmimāno so pahīyati.
As they do so, they give up the conceit ‘I am’ regarding the five grasping aggregates.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi vị ấy an trú quán sát sự sinh khởi và biến mất nơi năm thủ uẩn này, mọi tâm ngã mạn đối với năm thủ uẩn ấy đều được đoạn trừ.
mn122:17.2
Evaṁ santametaṁ, ānanda, bhikkhu evaṁ pajānāti:
In that case, they understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, vị tỳ-kheo biết rõ như sau:
mn122:17.3
‘yo kho imesu pañcasu upādānakkhandhesu asmimāno so me pahīno’ti.
‘I have given up the conceit “I am” regarding the five grasping aggregates.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Mọi tâm ngã mạn của ta đối với năm thủ uẩn đã được đoạn trừ.’
mn122:17.4
Itiha tattha sampajāno hoti.
In this way they are aware of the situation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, vị ấy tỉnh giác rõ ràng về điều đó.
mn122:18.1
Ime kho te, ānanda, dhammā ekantakusalā kusalāyātikā ariyā lokuttarā anavakkantā pāpimatā.
These principles are entirely skillful, with skillful outcomes; they are noble, transcendent, and inaccessible to the Wicked One.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, những pháp này thuần túy là thiện, lấy thiện làm quả, là Thánh, là xuất thế, không thể bị Ma vương xâm nhập.
mn122:19.1
Taṁ kiṁ maññasi, ānanda,
What do you think, Ānanda?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, Ông nghĩ thế nào:
mn122:19.2
kaṁ atthavasaṁ sampassamāno arahati sāvako satthāraṁ anubandhituṁ api paṇujjamāno”ti?
For what reason would a disciple deem it worthwhile to follow the Teacher, even if driven away?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thấy lợi ích gì, đệ tử xứng đáng bám theo bậc Đạo sư, ngay cả khi bị xua đuổi?”
mn122:19.3
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Our teachings are rooted in the Buddha. He is our guide and our refuge. Sir, may the Buddha himself please clarify the meaning of this. The mendicants will listen and remember it.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, Pháp của chúng con lấy Đức Phật làm gốc, lấy Đức Phật làm người dẫn đường, lấy Đức Phật làm nơi nương tựa. Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật tự lưu ý làm rõ ý nghĩa của lời nói ấy. Các tỳ-kheo nghe Đức Phật rồi sẽ ghi nhớ.”
mn122:20.1
“Na kho, ānanda, arahati sāvako satthāraṁ anubandhituṁ, yadidaṁ suttaṁ geyyaṁ veyyākaraṇaṁ tassa hetu.
“A disciple would not deem it worthwhile to follow the Teacher for the sake of this, namely statements, mixed prose & verse, or discussions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, đệ tử không xứng đáng bám theo bậc Đạo sư vì những thứ ấy, đó là vì các bài kinh, những bản kệ hay các lời giải thích.
mn122:20.2
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao vậy?
mn122:20.3
Dīgharattassa hi te, ānanda, dhammā sutā dhātā vacasā paricitā manasānupekkhitā diṭṭhiyā suppaṭividdhā.
Because for a long time you have learned the teachings, remembering them, rehearsing them, mentally scrutinizing them, and penetrating them theoretically.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì các pháp ấy, này Ānanda, đã được nghe lâu ngày, được ghi giữ, được đọc tụng bằng lời, được suy xét bằng tâm, được thâm nhập chắc chắn bằng chánh kiến.
mn122:20.4
Yā ca kho ayaṁ, ānanda, kathā abhisallekhikā cetovinīvaraṇasappāyā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati, seyyathidaṁ—appicchakathā santuṭṭhikathā pavivekakathā asaṁsaggakathā vīriyārambhakathā sīlakathā samādhikathā paññākathā vimuttikathā vimuttiñāṇadassanakathā—evarūpiyā kho, ānanda, kathāya hetu arahati sāvako satthāraṁ anubandhituṁ api paṇujjamāno.
But a disciple would deem it worthwhile to follow the Teacher, even if driven away, for the sake of talk about self-effacement that helps open the heart and leads solely to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment. That is, talk about fewness of wishes, contentment, seclusion, aloofness, arousing energy, ethics, immersion, wisdom, freedom, and the knowledge and vision of freedom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn đàm luận hướng đến tự trừ bỏ, giúp lắng yên các che chướng của tâm, đưa đến hoàn toàn yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, đó là: đàm luận về ít muốn, đàm luận về biết đủ, đàm luận về độc cư, đàm luận về không lui tới, đàm luận về tinh cần tinh tấn, đàm luận về giới, đàm luận về định, đàm luận về tuệ, đàm luận về giải thoát, đàm luận về tri kiến giải thoát — vì loại đàm luận như vậy, này Ānanda, đệ tử xứng đáng bám theo bậc Đạo sư, ngay cả khi bị xua đuổi.
mn122:21.1
Evaṁ sante kho, ānanda, ācariyūpaddavo hoti, evaṁ sante antevāsūpaddavo hoti, evaṁ sante brahmacārūpaddavo hoti.
This being so, Ānanda, there is a peril for the tutor, a peril for the pupil, and a peril for a spiritual practitioner.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi sự việc như vậy, này Ānanda, có sự nguy hại cho bậc thầy; khi sự việc như vậy, có sự nguy hại cho đồ đệ; khi sự việc như vậy, có sự nguy hại cho người phạm hạnh.
mn122:22.1
Kathañcānanda, ācariyūpaddavo hoti?
And how is there a peril for the tutor?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Ānanda, thế nào là sự nguy hại cho bậc thầy?
mn122:22.2
Idhānanda, ekacco satthā vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
It’s when some teacher frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, một vị đạo sư vị ấy lui tới những chỗ ở vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang động, nghĩa địa, rừng sâu, ngoài trời hay đống rơm.
mn122:22.3
Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
While meditating withdrawn, they’re visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi vị ấy sống độc cư như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê kéo đến lui tới.
mn122:22.4
So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca mucchaṁ nikāmayati, gedhaṁ āpajjati, āvattati bāhullāya.
When this happens, they enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê lui tới như vậy, vị ấy ưa thích sự say mê, rơi vào tham lam, quay về với đời sống phóng túng.
mn122:22.5
Ayaṁ vuccatānanda, upaddavo ācariyo.
This is said to be the tutor’s peril.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây, này Ānanda, được gọi là sự nguy hại của bậc thầy.
mn122:22.6
Ācariyūpaddavena avadhiṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā.
They’re ruined by bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sự nguy hại của bậc thầy, các pháp ác bất thiện — tạp nhiễm, dẫn đến tái sinh, đem theo phiền lụy, cho quả khổ và dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai — đã hủy hoại vị ấy.
mn122:22.7
Evaṁ kho, ānanda, ācariyūpaddavo hoti.
That’s how there is a peril for the tutor.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự nguy hại cho bậc thầy.
mn122:23.1
Kathañcānanda, antevāsūpaddavo hoti?
And how is there a peril for the pupil?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Ānanda, thế nào là sự nguy hại cho đồ đệ?
mn122:23.2
Tasseva kho panānanda, satthu sāvako tassa satthu vivekamanubrūhayamāno
It’s when the disciple of a teacher, emulating their teacher’s fostering of seclusion,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đệ tử của vị đạo sư ấy, noi theo sự nuôi dưỡng viễn ly của đạo sư mình
mn122:23.3
vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy lui tới những chỗ ở vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang động, nghĩa địa, rừng sâu, ngoài trời hay đống rơm.
mn122:23.4
Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
While meditating withdrawn, they’re visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi vị ấy sống độc cư như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê kéo đến lui tới.
mn122:23.5
So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca mucchaṁ nikāmayati, gedhaṁ āpajjati, āvattati bāhullāya.
When this happens, they enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê lui tới như vậy, vị ấy ưa thích sự say mê, rơi vào tham lam, quay về với đời sống phóng túng.
mn122:23.6
Ayaṁ vuccatānanda, upaddavo antevāsī.
This is said to be the pupil’s peril.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây, này Ānanda, được gọi là sự nguy hại của đồ đệ.
mn122:23.7
Antevāsūpaddavena avadhiṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā.
They’re ruined by bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sự nguy hại của đồ đệ, các pháp ác bất thiện — tạp nhiễm, dẫn đến tái sinh, đem theo phiền lụy, cho quả khổ và dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai — đã hủy hoại vị ấy.
mn122:23.8
Evaṁ kho, ānanda, antevāsūpaddavo hoti.
That’s how there is a peril for the pupil.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự nguy hại cho đồ đệ.
mn122:24.1
Kathañcānanda, brahmacārūpaddavo hoti?
And how is there a peril for a spiritual practitioner?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Ānanda, thế nào là sự nguy hại cho người phạm hạnh?
mn122:24.2
Idhānanda, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā.
It’s when a Realized One arises in the world, perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, một Đức Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, đầy đủ minh và hạnh, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc vô thượng điều phục những người đáng được điều phục, bậc thầy của trời và người, bậc Giác Ngộ, Thế Tôn.
mn122:24.3
So vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
He frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy thân cận nơi trú ẩn viễn ly: vùng rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang núi, xóm mộ, rừng rậm, bãi trống, đống rơm.
mn122:24.4
Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
While meditating withdrawn, he’s visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi Ngài sống độc cư như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê kéo đến lui tới.
mn122:24.5
So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca na mucchaṁ nikāmayati, na gedhaṁ āpajjati, na āvattati bāhullāya.
When this happens, he doesn’t enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê lui tới như vậy, Ngài không ưa thích sự say mê, không rơi vào tham lam, không quay về với đời sống phóng túng.
mn122:24.6
Tasseva kho panānanda, satthu sāvako tassa satthu vivekamanubrūhayamāno
But a disciple of this teacher, emulating their teacher’s fostering of seclusion,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đệ tử của vị đạo sư ấy, noi theo sự nuôi dưỡng viễn ly của đạo sư mình
mn122:24.7
vivittaṁ senāsanaṁ bhajati araññaṁ rukkhamūlaṁ pabbataṁ kandaraṁ giriguhaṁ susānaṁ vanapatthaṁ abbhokāsaṁ palālapuñjaṁ.
frequents a secluded lodging—a wilderness, the root of a tree, a hill, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a forest, the open air, a heap of straw.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vị ấy lui tới những chỗ ở vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi, khe núi, hang động, nghĩa địa, rừng sâu, ngoài trời hay đống rơm.
mn122:24.8
Tassa tathāvūpakaṭṭhassa viharato anvāvattanti brāhmaṇagahapatikā negamā ceva jānapadā ca.
While meditating withdrawn, they’re visited by a stream of brahmins and householders, and people of town and country.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi vị ấy sống độc cư như vậy, các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê kéo đến lui tới.
mn122:24.9
So anvāvattantesu brāhmaṇagahapatikesu negamesu ceva jānapadesu ca mucchaṁ nikāmayati, gedhaṁ āpajjati, āvattati bāhullāya.
When this happens, they enjoy infatuation, fall into greed, and return to indulgence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được các bà-la-môn và gia chủ, dân thị trấn và dân quê lui tới như vậy, vị ấy ưa thích sự say mê, rơi vào tham lam, quay về với đời sống phóng túng.
mn122:24.10
Ayaṁ vuccatānanda, upaddavo brahmacārī.
This is said to be the spiritual practitioner’s peril.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây, này Ānanda, được gọi là sự nguy hại của người phạm hạnh.
mn122:24.11
Brahmacārūpaddavena avadhiṁsu naṁ pāpakā akusalā dhammā saṅkilesikā ponobbhavikā sadarā dukkhavipākā āyatiṁ jātijarāmaraṇiyā.
They’re ruined by bad, unskillful qualities that are corrupting, leading to future lives, hurtful, resulting in suffering and future rebirth, old age, and death.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sự nguy hại của người phạm hạnh, các pháp ác bất thiện — tạp nhiễm, dẫn đến tái sinh, đem theo phiền lụy, cho quả khổ và dẫn đến sinh, già, chết trong tương lai — đã hủy hoại vị ấy.
mn122:24.12
Evaṁ kho, ānanda, brahmacārūpaddavo hoti.
That’s how there is a peril for the spiritual practitioner.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự nguy hại cho người phạm hạnh.
mn122:24.13
Tatrānanda, yo cevāyaṁ ācariyūpaddavo, yo ca antevāsūpaddavo ayaṁ tehi brahmacārūpaddavo dukkhavipākataro ceva kaṭukavipākataro ca, api ca vinipātāya saṁvattati.
And in this context, Ānanda, as compared to the peril of the tutor or the pupil, the peril of the spiritual practitioner has more painful, bitter results, and even leads to the underworld.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong đó, này Ānanda, sự nguy hại của người phạm hạnh này, so với sự nguy hại của bậc thầy và sự nguy hại của đồ đệ, cho quả khổ hơn và cho quả cay đắng hơn, và còn đưa đến sự đọa lạc.
mn122:25.1
Tasmātiha maṁ, ānanda, mittavatāya samudācaratha, mā sapattavatāya.
So, Ānanda, treat me as a friend, not as an enemy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này Ānanda, các thầy hãy đối xử với Ta như người bạn, đừng đối xử như kẻ thù.
mn122:25.2
Taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
That will be for your lasting welfare and happiness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều đó sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho các thầy.
mn122:25.3
Kathañcānanda, satthāraṁ sāvakā sapattavatāya samudācaranti, no mittavatāya?
And how do disciples treat their Teacher as an enemy, not a friend?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Ānanda, thế nào là các đệ tử đối xử với bậc Đạo sư như kẻ thù, không như người bạn?
mn122:25.4
Idhānanda, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya:
It’s when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, bậc Đạo sư xuất phát từ lòng thương xót, tìm cầu phước lợi, vì lòng thương xót mà thuyết pháp cho các đệ tử:
mn122:25.5
‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti.
‘This is for your welfare. This is for your happiness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây là hạnh phúc cho các thầy, đây là an lạc cho các thầy.’
mn122:25.6
Tassa sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti.
But their disciples don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They proceed having turned away from the Teacher’s instruction.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng các đệ tử không chịu lắng nghe, không lắng tai, không thiết lập tâm để hiểu biết, đi lạc khỏi giáo huấn của bậc Đạo sư.
mn122:25.7
Evaṁ kho, ānanda, satthāraṁ sāvakā sapattavatāya samudācaranti, no mittavatāya.
That’s how the disciples treat their Teacher as an enemy, not a friend.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Đạo sư như kẻ thù, không như người bạn.
mn122:26.1
Kathañcānanda, satthāraṁ sāvakā mittavatāya samudācaranti, no sapattavatāya?
And how do disciples treat their Teacher as a friend, not an enemy?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Và này Ānanda, thế nào là các đệ tử đối xử với bậc Đạo sư như người bạn, không như kẻ thù?
mn122:26.2
Idhānanda, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya:
It’s when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, bậc Đạo sư xuất phát từ lòng thương xót, tìm cầu phước lợi, vì lòng thương xót mà thuyết pháp cho các đệ tử:
mn122:26.3
‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti.
‘This is for your welfare. This is for your happiness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Đây là hạnh phúc cho các thầy, đây là an lạc cho các thầy.’
mn122:26.4
Tassa sāvakā sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, na ca vokkamma satthusāsanā vattanti.
And their disciples want to listen. They actively listen and try to understand. They don’t proceed having turned away from the Teacher’s instruction.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn các đệ tử chịu lắng nghe, lắng tai, thiết lập tâm để hiểu biết, không đi lạc khỏi giáo huấn của bậc Đạo sư.
mn122:26.5
Evaṁ kho, ānanda, satthāraṁ sāvakā mittavatāya samudācaranti, no sapattavatāya.
That’s how the disciples treat their Teacher as a friend, not an enemy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là các đệ tử đối xử với bậc Đạo sư như người bạn, không như kẻ thù.
mn122:26.6
Tasmātiha maṁ, ānanda, mittavatāya samudācaratha, mā sapattavatāya.
So, Ānanda, treat me as a friend, not as an enemy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này Ānanda, các thầy hãy đối xử với Ta như người bạn, đừng đối xử như kẻ thù.
mn122:26.7
Taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāya.
That will be for your lasting welfare and happiness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều đó sẽ đưa đến hạnh phúc và an lạc lâu dài cho các thầy.
mn122:27.1
Na vo ahaṁ, ānanda, tathā parakkamissāmi yathā kumbhakāro āmake āmakamatte.
I shall not mollycoddle you like a potter with their damp, unfired pots.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, Ta sẽ không nâng niu các thầy như người thợ gốm nâng niu những chiếc chum còn thô, chưa nung.
mn122:27.2
Niggayha niggayhāhaṁ, ānanda, vakkhāmi;
I shall speak, curbing you again and again,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, Ta sẽ nói sau khi quở trách đi quở trách lại;
mn122:27.3
pavayha pavayha, ānanda, vakkhāmi.
pressing you again and again.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sau khi thúc dục đi thúc dục lại, này Ānanda, Ta sẽ nói.
mn122:27.4
Yo sāro so ṭhassatī”ti.
The core will stand the test.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cái gì là lõi, cái ấy sẽ đứng vững.”
mn122:27.5
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
mn122:27.6
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
mn122:27.7
Mahāsuññatasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Đại Không, bài thứ hai, kết thúc.