mn121:0.1
Majjhima Nikāya 121
Middle Discourses 121
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 121
mn121:0.2
Cūḷasuññatasutta
The Shorter Discourse on Emptiness
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Tiểu Không
mn121:1.1
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
mn121:1.2
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati pubbārāme migāramātupāsāde.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in the stilt longhouse of Migāra’s mother in the Eastern Monastery.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Sāvatthī, tại Đông Viên, trong lâu đài của mẹ Migāra.
mn121:2.1
Atha kho āyasmā ānando sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
Then in the late afternoon, Venerable Ānanda came out of retreat and went to the Buddha. He bowed, sat down to one side, and said to him:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi chiều, sau khi ra khỏi nơi thiền tịnh, đi đến chỗ Đức Phật; sau khi đến, đảnh lễ Đức Phật, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda thưa với Đức Phật:
mn121:3.1
“Ekamidaṁ, bhante, samayaṁ bhagavā sakkesu viharati nagarakaṁ nāma sakyānaṁ nigamo.
“Sir, this one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans where they have a town named Townsville.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, một thời Đức Phật trú ở giữa dân Sakya, tại Nagaraka, một thị trấn của người Sakya.
mn121:3.2
Tattha me, bhante, bhagavato sammukhā sutaṁ, sammukhā paṭiggahitaṁ:
There I heard and learned this in the presence of the Buddha:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, bạch Thế Tôn, con đã nghe ngay trước mặt Đức Phật, đã thọ trì ngay trước mặt Đức Phật:
mn121:3.3
‘suññatāvihārenāhaṁ, ānanda, etarahi bahulaṁ viharāmī’ti.
‘Ānanda, these days I usually practice the meditation on emptiness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Ānanda, nay Ta thường an trú bằng pháp không.’
mn121:3.4
Kacci metaṁ, bhante, sussutaṁ suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritan”ti?
I trust I properly heard, learned, applied the mind, and remembered that from the Buddha?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bạch Thế Tôn, phải chăng con đã nghe đúng, đã thọ trì đúng, đã tác ý đúng, đã ghi nhớ đúng điều ấy?”
mn121:3.5
“Taggha te etaṁ, ānanda, sussutaṁ suggahitaṁ sumanasikataṁ sūpadhāritaṁ.
“Indeed, Ānanda, you properly heard, learned, applied the mind, and remembered that.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật vậy, này Ānanda, ông đã nghe đúng, đã thọ trì đúng, đã tác ý đúng, đã ghi nhớ đúng.
mn121:3.6
Pubbepāhaṁ, ānanda, etarahipi suññatāvihārena bahulaṁ viharāmi.
Now, as before, I usually practice the meditation on emptiness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trước đây cũng như hiện nay, này Ānanda, Ta đều thường an trú bằng pháp không.
mn121:4.1
Seyyathāpi, ānanda, ayaṁ migāramātupāsādo suñño hatthigavassavaḷavena, suñño jātarūparajatena, suñño itthipurisasannipātena atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
Consider this stilt longhouse of Migāra’s mother. It’s empty of elephants, cows, horses, and mares; of gold and silver; and of gatherings of men and women.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, như chính lâu đài của mẹ Migāra này trống không voi, bò, ngựa, ngựa cái; trống không vàng và bạc; trống không hội họp nam nữ; chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:4.2
bhikkhusaṅghaṁ paṭicca ekattaṁ;
There is only this that is not emptiness, namely, the oneness dependent on the mendicant Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên Tăng chúng tỳ-kheo;
mn121:4.3
evameva kho, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā gāmasaññaṁ, amanasikaritvā manussasaññaṁ, araññasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
In the same way, a mendicant—ignoring the perception of the village and the perception of people—focuses on the oneness dependent on the perception of wilderness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng làng, không tác ý tưởng người, tác ý tính một do duyên tưởng rừng.
mn121:4.4
Tassa araññasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of wilderness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi tưởng rừng.
mn121:4.5
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:4.6
‘ye assu darathā gāmasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā manussasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the perception of village or the perception of people.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên tưởng làng, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên tưởng người, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:4.7
araññasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of wilderness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng rừng.’
mn121:4.8
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ gāmasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ manussasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the village. It is empty of the perception of people.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng làng’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng người’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:4.9
araññasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of wilderness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng rừng.’
mn121:4.10
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:4.11
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh có mặt nơi vị ấy.
mn121:5.1
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā manussasaññaṁ, amanasikaritvā araññasaññaṁ, pathavīsaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of people and the perception of wilderness—focuses on the oneness dependent on the perception of earth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng người, không tác ý tưởng rừng, tác ý tính một do duyên tưởng đất.
mn121:5.2
Tassa pathavīsaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of earth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi tưởng đất.
mn121:5.3
Seyyathāpi, ānanda, āsabhacammaṁ saṅkusatena suvihataṁ vigatavalikaṁ;
As a bull’s hide is rid of folds when fully stretched out by a hundred pegs,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, như tấm da bò đực được căng phẳng với một trăm cây cọc, không còn nếp nhăn;
mn121:5.4
evameva kho, ānanda, bhikkhu yaṁ imissā pathaviyā ukkūlavikkūlaṁ nadīviduggaṁ khāṇukaṇṭakaṭṭhānaṁ pabbatavisamaṁ taṁ sabbaṁ amanasikaritvā pathavīsaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
so too, ignoring the hilly terrain, inaccessible riverlands, stumps and thorns, and rugged mountains, they focus on the oneness dependent on the perception of earth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cũng vậy, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tất cả những gì trên mặt đất này: chỗ cao thấp nhấp nhô, sông ngòi khó lội, nơi gốc cây chông gai, núi non gồ ghề; tác ý tính một do duyên tưởng đất.
mn121:5.5
Tassa pathavīsaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of earth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi tưởng đất.
mn121:5.6
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:5.7
‘ye assu darathā manussasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā araññasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the perception of people or the perception of wilderness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên tưởng người, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên tưởng rừng, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:5.8
pathavīsaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of earth.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng đất.’
mn121:5.9
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ manussasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ araññasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of people. It is empty of the perception of wilderness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng người’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng rừng’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:5.10
pathavīsaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of earth.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng đất.’
mn121:5.11
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:5.12
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh có mặt nơi vị ấy.
mn121:6.1
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā araññasaññaṁ, amanasikaritvā pathavīsaññaṁ, ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of wilderness and the perception of earth—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite space.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng rừng, không tác ý tưởng đất, tác ý tính một do duyên tưởng hư không vô biên xứ.
mn121:6.2
Tassa ākāsānañcāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of infinite space.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi tưởng hư không vô biên xứ.
mn121:6.3
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:6.4
‘ye assu darathā araññasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā pathavīsaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the perception of wilderness or the perception of earth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên tưởng rừng, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên tưởng đất, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:6.5
ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite space.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng hư không vô biên xứ.’
mn121:6.6
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ araññasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ pathavīsaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of wilderness. It is empty of the perception of earth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng rừng’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng đất’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:6.7
ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite space.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng hư không vô biên xứ.’
mn121:6.8
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:6.9
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh có mặt nơi vị ấy.
mn121:7.1
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā pathavīsaññaṁ, amanasikaritvā ākāsānañcāyatanasaññaṁ, viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of earth and the perception of the dimension of infinite space—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng đất, không tác ý tưởng hư không vô biên xứ, tác ý tính một do duyên tưởng thức vô biên xứ.
mn121:7.2
Tassa viññāṇañcāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of infinite consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi tưởng thức vô biên xứ.
mn121:7.3
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:7.4
‘ye assu darathā pathavīsaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the perception of earth or the perception of the dimension of infinite space.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên tưởng đất, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên tưởng hư không vô biên xứ, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:7.5
viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite consciousness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng thức vô biên xứ.’
mn121:7.6
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ pathavīsaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākāsānañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of earth. It is empty of the perception of the dimension of infinite space.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng đất’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng hư không vô biên xứ’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:7.7
viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of infinite consciousness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng thức vô biên xứ.’
mn121:7.8
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:7.9
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh có mặt nơi vị ấy.
mn121:8.1
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā ākāsānañcāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā viññāṇañcāyatanasaññaṁ, ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of infinite space and the perception of the dimension of infinite consciousness—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng hư không vô biên xứ, không tác ý tưởng thức vô biên xứ, tác ý tính một do duyên tưởng vô sở hữu xứ.
mn121:8.2
Tassa ākiñcaññāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi tưởng vô sở hữu xứ.
mn121:8.3
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:8.4
‘ye assu darathā ākāsānañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the perception of the dimension of infinite space or the perception of the dimension of infinite consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên tưởng hư không vô biên xứ, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên tưởng thức vô biên xứ, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:8.5
ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of nothingness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng vô sở hữu xứ.’
mn121:8.6
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākāsānañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ viññāṇañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the dimension of infinite space. It is empty of the perception of the dimension of infinite consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng hư không vô biên xứ’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng thức vô biên xứ’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:8.7
ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of nothingness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng vô sở hữu xứ.’
mn121:8.8
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:8.9
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh có mặt nơi vị ấy.
mn121:9.1
Puna caparaṁ, ānanda bhikkhu amanasikaritvā viññāṇañcāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā ākiñcaññāyatanasaññaṁ, nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of infinite consciousness and the perception of the dimension of nothingness—focuses on the oneness dependent on the perception of the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng thức vô biên xứ, không tác ý tưởng vô sở hữu xứ, tác ý tính một do duyên tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ.
mn121:9.2
Tassa nevasaññānāsaññāyatanasaññāya cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that perception of the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ.
mn121:9.3
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:9.4
‘ye assu darathā viññāṇañcāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the perception of the dimension of infinite consciousness or the perception of the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên tưởng thức vô biên xứ, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên tưởng vô sở hữu xứ, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:9.5
nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this modicum of stress, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of neither perception nor non-perception.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ.’
mn121:9.6
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ viññāṇañcāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākiñcaññāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the dimension of infinite consciousness. It is empty of the perception of the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng thức vô biên xứ’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng vô sở hữu xứ’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:9.7
nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca ekattan’ti.
There is only this that is not emptiness, namely the oneness dependent on the perception of the dimension of neither perception nor non-perception.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tính một do duyên tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ.’
mn121:9.8
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:9.9
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh có mặt nơi vị ấy.
mn121:10.1
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā ākiñcaññāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ, animittaṁ cetosamādhiṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of nothingness and the perception of the dimension of neither perception nor non-perception—focuses on the oneness dependent on the signless immersion of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng vô sở hữu xứ, không tác ý tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ, tác ý tính một do duyên vô tướng tâm định.
mn121:10.2
Tassa animitte cetosamādhimhi cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that signless immersion of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi vô tướng tâm định.
mn121:10.3
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:10.4
‘ye assu darathā ākiñcaññāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the perception of the dimension of nothingness or the perception of the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên tưởng vô sở hữu xứ, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:10.5
imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti.
There is only this modicum of stress, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sáu xứ tùy thuộc chính thân này, do mạng sống làm điều kiện.’
mn121:10.6
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ ākiñcaññāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ nevasaññānāsaññāyatanasaññāyā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the dimension of nothingness. It is empty of the perception of the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng vô sở hữu xứ’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:10.7
imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti.
There is only this that is not emptiness, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sáu xứ tùy thuộc chính thân này, do mạng sống làm điều kiện.’
mn121:10.8
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:10.9
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, and pure.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh có mặt nơi vị ấy.
mn121:11.1
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu amanasikaritvā ākiñcaññāyatanasaññaṁ, amanasikaritvā nevasaññānāsaññāyatanasaññaṁ, animittaṁ cetosamādhiṁ paṭicca manasi karoti ekattaṁ.
Furthermore, a mendicant—ignoring the perception of the dimension of nothingness and the perception of the dimension of neither perception nor non-perception—focuses on the oneness dependent on the signless immersion of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, tỳ-kheo không tác ý tưởng vô sở hữu xứ, không tác ý tưởng phi tưởng phi phi tưởng xứ, tác ý tính một do duyên vô tướng tâm định.
mn121:11.2
Tassa animitte cetosamādhimhi cittaṁ pakkhandati pasīdati santiṭṭhati adhimuccati.
Their mind leaps forth, gains confidence, settles down, and becomes decided in that signless immersion of the heart.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâm vị ấy hướng đến, tịnh tín, an trú, quyết định nơi vô tướng tâm định.
mn121:11.3
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:11.4
‘ayampi kho animitto cetosamādhi abhisaṅkhato abhisañcetayito’.
‘Even this signless immersion of the heart is produced by choices and intentions.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Cả vô tướng tâm định này cũng là do hành tạo tác, do tư tạo tác.’
mn121:11.5
‘Yaṁ kho pana kiñci abhisaṅkhataṁ abhisañcetayitaṁ tadaniccaṁ nirodhadhamman’ti pajānāti.
They understand: ‘But whatever is produced by choices and intentions is impermanent and liable to cessation.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Còn phàm cái gì do hành tạo tác, do tư tạo tác, đó là vô thường, có bản chất đoạn diệt’, vị ấy biết rõ như vậy.
mn121:11.6
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi biết và thấy như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
mn121:11.7
Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
When they’re freed, they know they’re freed.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi đã giải thoát, vị ấy biết rằng mình đã giải thoát.
mn121:11.8
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Sinh đã tận, đời phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’
mn121:12.1
So evaṁ pajānāti:
They understand:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết như sau:
mn121:12.2
‘ye assu darathā kāmāsavaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā bhavāsavaṁ paṭicca tedha na santi, ye assu darathā avijjāsavaṁ paṭicca tedha na santi, atthi cevāyaṁ darathamattā yadidaṁ—
‘Here there is no stress due to the defilements of sensuality, desire to be reborn, or ignorance.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Những não hại nào do duyên dục lậu, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên hữu lậu, không có mặt ở đây; những não hại nào do duyên vô minh lậu, không có mặt ở đây; và chỉ còn lại một chút não hại này, tức là—
mn121:12.3
imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti.
There is only this modicum of stress, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sáu xứ tùy thuộc chính thân này, do mạng sống làm điều kiện.’
mn121:12.4
So ‘suññamidaṁ saññāgataṁ kāmāsavenā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ bhavāsavenā’ti pajānāti, ‘suññamidaṁ saññāgataṁ avijjāsavenā’ti pajānāti, ‘atthi cevidaṁ asuññataṁ yadidaṁ—
They understand: ‘This field of perception is empty of the perception of the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không dục lậu’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không hữu lậu’; vị ấy biết rõ: ‘Lĩnh vực tưởng này trống không vô minh lậu’; vị ấy biết rõ: ‘Chỉ còn lại có cái này không trống không, tức là—
mn121:12.5
imameva kāyaṁ paṭicca saḷāyatanikaṁ jīvitapaccayā’ti.
There is only this that is not emptiness, namely that related to the six sense fields dependent on this body and conditioned by life.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sáu xứ tùy thuộc chính thân này, do mạng sống làm điều kiện.’
mn121:12.6
Iti yañhi kho tattha na hoti tena taṁ suññaṁ samanupassati, yaṁ pana tattha avasiṭṭhaṁ hoti taṁ ‘santamidaṁ atthī’ti pajānāti.
And so they regard it as empty of what is not there, but as to what remains they understand that it is present.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, cái gì không có mặt ở đó, vị ấy thấy cái ấy là trống không; còn cái gì còn lại ở đó, vị ấy biết rõ: ‘Cái này có mặt.’
mn121:12.7
Evampissa esā, ānanda, yathābhuccā avipallatthā parisuddhā paramānuttarā suññatāvakkanti bhavati.
That’s how emptiness manifests in them—genuine, undistorted, pure, and supreme.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, sự hiện khởi của pháp không chân thật, không đảo, thuần tịnh, tối thượng vô thượng có mặt nơi vị ấy.
mn121:13.1
Yepi hi keci, ānanda, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja vihariṁsu, sabbe te imaṁyeva parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja vihariṁsu.
Whatever ascetics and brahmins enter and remain in the pure, ultimate, supreme emptiness—whether in the past, future, or present—all of them enter and remain in this same pure, ultimate, supreme emptiness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, những sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã chứng đạt và an trú pháp không thuần tịnh tối thượng vô thượng, tất cả đều chứng đạt và an trú chính pháp không thuần tịnh tối thượng vô thượng này.
mn121:13.2
Yepi hi keci, ānanda, anāgatamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharissanti, sabbe te imaṁyeva parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharissanti.
Ānanda, whatever ascetics and brahmins enter and remain in the pure, ultimate, supreme emptiness—whether in the future—all of them will enter and remain in this same pure, ultimate, supreme emptiness.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, những sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời tương lai sẽ chứng đạt và an trú pháp không thuần tịnh tối thượng vô thượng, tất cả đều sẽ chứng đạt và an trú chính pháp không thuần tịnh tối thượng vô thượng này.
mn121:13.3
Yepi hi keci, ānanda, etarahi samaṇā vā brāhmaṇā vā parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharanti, sabbe te imaṁyeva parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharanti.
Ānanda, whatever ascetics and brahmins enter and remain in the pure, ultimate, supreme emptiness—whether in the present—all of them enter and remain in this same pure, ultimate, supreme emptiness.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, những sa-môn hay bà-la-môn nào trong thời hiện tại chứng đạt và an trú pháp không thuần tịnh tối thượng vô thượng, tất cả đều chứng đạt và an trú chính pháp không thuần tịnh tối thượng vô thượng này.
mn121:13.4
Tasmātiha, ānanda, ‘parisuddhaṁ paramānuttaraṁ suññataṁ upasampajja viharissāmā’ti—
So, Ānanda, you should train like this: ‘We will enter and remain in the pure, ultimate, supreme emptiness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do vậy, này Ānanda: ‘Chúng ta sẽ chứng đạt và an trú pháp không thuần tịnh tối thượng vô thượng’ —
mn121:13.5
evañhi vo, ānanda, sikkhitabban”ti.
That’s how you should train.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
như vậy, này Ānanda, các thầy cần phải học như vậy.”
mn121:13.6
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
mn121:13.7
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
mn121:13.8
Cūḷasuññatasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Tiểu Không, bài thứ nhất, kết thúc.