← Kinh Trung Bộ

MN104 · Majjhima Nikāya

Kinh Sāmagāma

Sāmagāmasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Sāmagāma ghi lại khi Đức Phật trú ở xứ Sakiya, thị trấn Sāmagāma, sau khi Nigaṇṭha Nāṭaputta qua đời tại Pāvā. Đám Nigaṇṭha chia rẽ thành hai phe, cãi vã, tổn thương nhau bằng lời như gai nhọn; đệ tử tại gia chán ghét quay lưng, vì đó là pháp và luật giảng dạy dở, không đưa đến an tịnh. Sa-di Cunda thuật chuyện cho Tôn giả Ānanda; Ānanda trình lên Đức Phật, mong sau khi Đức Phật qua đời không có tranh luận trong Tăng đưa đến bất an, bất hạnh cho đa số.

Đức Phật hỏi Ānanda có thấy tỳ-kheo nào khác ý kiến về những pháp Ngài đã dạy không; Ānanda thưa không, nhưng lo những kẻ sống bề ngoài như vâng lời sẽ tranh luận về sinh sống hay giới bổn. Tranh luận về sinh sống hay giới bổn là việc nhỏ nhặt; tranh luận về đạo hay hạnh mới nguy hại. Sáu gốc tranh luận: sân hận; khinh mạn, đố kỵ; ganh ghét, bỏn xẻn; gian trá, dối gạt; ác dục, tà kiến; chấp mắc trong kiến. Mỗi gốc khiến vị tỳ-kheo thiếu cung kính, tôn trọng, khởi tranh luận trong Tăng; thấy nơi mình hay nơi người thì nỗ lực từ bỏ, không thấy thì thực hành cho không lưu rơi về sau.

Bốn tránh sự là tranh luận, trách móc, tội lỗi, công việc; bảy cách dàn xếp: phán quyết hiện tiền, đa số, ức niệm, bất si, thừa nhận, nặng hơn, che rơm. Với hiện tiền hay đa số, hai phe họp hòa hợp, xét đường lối Pháp rồi làm lắng dịu như sự thuận hợp; ức niệm cho vị không nhớ tội nặng; bất si cho vị phạm khi tâm loạn; che rơm là hai phe cùng đưa tội của nhau và của mình ra giữa Tăng, trừ trọng tội và chuyện với người tại gia.

Đức Phật nêu sáu pháp đáng ghi nhớ tạo nên thương mến, hòa hợp, không tranh chấp, nhất trí: thân hành, khẩu hành, ý hành đầy lòng từ với người đồng phạm hạnh; dùng chung lợi dưỡng chân chánh có được đúng Pháp; hòa đồng trong giới không sứt mẻ; và hòa đồng trong kiến Thánh dẫn đến chấm dứt khổ. Hành trì sáu pháp ấy, không còn lời nào dù nhỏ hay thô mà không kham nhẫn chịu đựng; điều ấy đưa đến an lạc, hạnh phúc lâu dài.

Toàn bài đặt cạnh một tôn phái tan vỡ thành tranh chấp sau khi đạo sư qua đời, và những điều giữ hòa hợp trong Tăng: gốc tranh luận được từ bỏ, tránh sự được dàn xếp đúng phép, sáu pháp làm nền.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 449 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: b6f5ef4a-5b15-418f-adac-f348c201a59f · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4e94d35bd055b84ee6cf52eade75ff6242a63f7084bbc277147202254f67c398

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 449 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 67672aa3-4ffc-4949-8f53-472c5160d725 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4e94d35bd055b84ee6cf52eade75ff6242a63f7084bbc277147202254f67c398

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 166 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: bf3e0e47-b146-490d-8745-d78200e85dd1 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: c0596afd62f224020135a48b1caf79ca184a1cf27b6207339271a13cefb7db6f

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 166 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: a1e7b612-6ad3-4a30-8d26-c9b8560cbfc3 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: c0596afd62f224020135a48b1caf79ca184a1cf27b6207339271a13cefb7db6f

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

166/166 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

165/166 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

166/166 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 104
Middle Discourses 104
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 104
Sāmagāmasutta
At Sāmagāma
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Sāmagāma
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati sāmagāme.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans near the village of Sāma.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật trú ở xứ Sakiya, tại thị trấn Sāmagāma.
Tena kho pana samayena nigaṇṭho nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato hoti.
Now at that time the Jain ascetic of the Ñātika clan had recently passed away at Pāvā.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc bấy giờ, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời tại Pāvā.
Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti:
With his passing the Jain ascetics split, dividing into two factions, fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi vị ấy chết, các Nigaṇṭha chia rẽ thành hai phe, sinh lời lẽ bất hòa, sinh cãi vã, mắc phải tranh luận, sống làm tổn thương lẫn nhau bằng những lời nói như gai nhọn:
“na tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāsi, ahaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānāmi. Kiṁ tvaṁ imaṁ dhammavinayaṁ ājānissasi. Micchāpaṭipanno tvamasi, ahamasmi sammāpaṭipanno. Sahitaṁ me, asahitaṁ te. Purevacanīyaṁ pacchā avaca, pacchāvacanīyaṁ pure avaca. Adhiciṇṇaṁ te viparāvattaṁ. Āropito te vādo. Niggahitosi, cara vādappamokkhāya; nibbeṭhehi vā sace pahosī”ti.
“You don’t understand this teaching and training. I understand this teaching and training. What, you understand this teaching and training? You’re practicing wrong. I’m practicing right. I stay on topic, you don’t. You said last what you should have said first. You said first what you should have said last. What you’ve thought so much about has been disproved. Your doctrine is refuted. Go on, save your doctrine! You’re trapped; get yourself out of this—if you can!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Ông không hiểu pháp và luật này; tôi hiểu pháp và luật này. Ông làm gì mà hiểu được pháp và luật này? Ông hành trì sai; tôi mới hành trì đúng. Điều liên hệ với tôi thì không liên hệ với ông; điều liên hệ với ông thì không liên hệ với tôi. Điều cần nói trước, ông lại nói sau; điều cần nói sau, ông lại nói trước. Điều ông suy gẫm lâu ngày đã bị đảo ngược. Luận của ông đã bị bác bỏ. Ông đã bị khuất phục; hãy ra sức gỡ luận của ông, hay hãy thoát ra nếu ông có thể!”
Vadhoyeva kho maññe nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu vattati.
You’d think there was nothing but slaughter going on among the Jain ascetics.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ta nghĩ rằng giữa các Nigaṇṭha con Nāṭaputta chẳng có gì khác hơn sự tàn sát lẫn nhau.
Yepi nigaṇṭhassa nāṭaputtassa sāvakā gihī odātavasanā tepi nigaṇṭhesu nāṭaputtiyesu nibbinnarūpā virattarūpā paṭivānarūpā yathā taṁ durakkhāte dhammavinaye duppavedite aniyyānike anupasamasaṁvattanike asammāsambuddhappavedite bhinnathūpe appaṭisaraṇe.
And the Jain Ñātika’s white-clothed lay disciples were disillusioned, dismayed, and disappointed in the Jain ascetics. They were equally disappointed with a teaching and training so poorly explained and poorly propounded, not emancipating, not leading to peace, proclaimed by someone who is not a fully awakened Buddha, with broken monument and without a refuge.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Cả những đệ tử tại gia mặc y trắng của Nigaṇṭha Nāṭaputta cũng chán ghét, ghét bỏ và quay lưng với các Nigaṇṭha con Nāṭaputta, vì đó là pháp và luật được giảng dạy dở, được truyền dạy dở, không đưa ra khỏi, không đưa đến an tịnh, không được bậc Chánh Đẳng Giác hoàn toàn giác ngộ tuyên bố, với đài kỷ niệm bị đổ vỡ và không có nơi nương tựa.
Atha kho cundo samaṇuddeso pāvāyaṁ vassaṁvuṭṭho yena sāmagāmo yenāyasmā ānando tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ ānandaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho cundo samaṇuddeso āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
And then, after completing the rainy season residence near Pāvā, the novice Cunda went to see Venerable Ānanda at Sāma village. He bowed, sat down to one side, and told him what had happened.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi sa-di Cunda, sau khi an cư mùa mưa tại Pāvā, đi đến Sāmagāma, đến gặp Tôn giả Ānanda; đến rồi, đảnh lễ Tôn giả Ānanda rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, sa-di Cunda nói với Tôn giả Ānanda điều này:
“nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato.
“The Jain ascetic of the Ñātika clan, sir, had recently passed away at Pāvā.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Tôn giả, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời tại Pāvā.
Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe”ti.
With his passing the Jain ascetics split, dividing into two factions … with a broken monument and without a refuge.”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi vị ấy chết, các Nigaṇṭha chia rẽ thành hai phe … với đài kỷ niệm bị đổ vỡ và không có nơi nương tựa.”
Evaṁ vutte, āyasmā ānando cundaṁ samaṇuddesaṁ etadavoca:
Ānanda said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi được nói vậy, Tôn giả Ānanda nói với sa-di Cunda điều này:
“atthi kho idaṁ, āvuso cunda, kathāpābhataṁ bhagavantaṁ dassanāya.
“Reverend Cunda, we should see the Buddha about this matter.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Hiền giả Cunda, đây là chuyện nên trình lên Đức Phật.
Āyāma, āvuso cunda, yena bhagavā tenupasaṅkamissāma; upasaṅkamitvā etamatthaṁ bhagavato ārocessāmā”ti.
Come, let’s go to the Buddha and inform him about this.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nào Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi đến Đức Phật; đến rồi, sẽ trình chuyện này lên Đức Phật.”
“Evaṁ, bhante”ti kho cundo samaṇuddeso āyasmato ānandassa paccassosi.
“Yes, sir,” replied Cunda.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa vâng, thưa Tôn giả,” sa-di Cunda vâng đáp Tôn giả Ānanda.
Atha kho āyasmā ca ānando cundo ca samaṇuddeso yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
Then Ānanda and Cunda went to the Buddha, bowed, sat down to one side, and Ānanda informed him of what Cunda had said. He went on to say,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi Tôn giả Ānanda và sa-di Cunda đi đến Đức Phật; đến rồi, đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Đức Phật những gì sa-di Cunda đã nói:
“ayaṁ, bhante, cundo samaṇuddeso evamāha:
“Sir, this novice Cunda said this:bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Ngài, sa-di Cunda này nói như sau:
‘nigaṇṭho, bhante, nāṭaputto pāvāyaṁ adhunākālaṅkato.
‘The Jain ascetic of the Ñātika clan, sir, had recently passed away at Pāvā.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Ngài, Nigaṇṭha Nāṭaputta vừa mới qua đời tại Pāvā.
Tassa kālaṅkiriyāya bhinnā nigaṇṭhā dvedhikajātā …pe… bhinnathūpe appaṭisaraṇe’ti.
With his passing the Jain ascetics split, dividing into two factions … with a broken monument and without a refuge’.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi vị ấy chết, các Nigaṇṭha chia rẽ thành hai phe … với đài kỷ niệm bị đổ vỡ và không có nơi nương tựa’.
Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti:
“Sir, it occurs to me:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa Ngài, con nghĩ như sau:
‘mā heva bhagavato accayena saṅghe vivādo uppajji;
‘When the Buddha has passed away, let no dispute arise in the Saṅgha.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Mong rằng sau khi Đức Phật qua đời, không phát sinh tranh luận trong Tăng;
svāssa vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānan’”ti.
For such a dispute would be for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vì tranh luận ấy đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an và đau khổ cho chư thiên và loài người’”
“Taṁ kiṁ maññasi, ānanda,
“What do you think, Ānanda?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, ông nghĩ thế nào:
ye vo mayā dhammā abhiññā desitā, seyyathidaṁ—
Do you see even two mendicants whose opinion differs regarding the things I have taught from my direct knowledge, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những pháp nào Ta đã giảng dạy với thắng tri, tức là—
cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, passasi no tvaṁ, ānanda, imesu dhammesu dvepi bhikkhū nānāvāde”ti?
the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và Thánh đạo tám ngành — này Ānanda, ông có thấy hai vị tỳ-kheo nào khác ý kiến về những pháp này chăng?”
“Ye me, bhante, dhammā bhagavatā abhiññā desitā, seyyathidaṁ—
“No, sir, I do not.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Ngài, những pháp nào Đức Phật đã giảng dạy cho con với thắng tri, tức là—
cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, nāhaṁ passāmi imesu dhammesu dvepi bhikkhū nānāvāde.
the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path, I don’t see two mendicants whose opinion differs about these teachings.bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và Thánh đạo tám ngành — con không thấy hai vị tỳ-kheo nào khác ý kiến về những pháp này.
Ye ca kho, bhante, puggalā bhagavantaṁ patissayamānarūpā viharanti tepi bhagavato accayena saṅghe vivādaṁ janeyyuṁ ajjhājīve vā adhipātimokkhe vā.
Nevertheless, there are some individuals who appear to live obedient to the Buddha, but when the Buddha has passed away they might create a dispute in the Saṅgha regarding livelihood or the monastic code.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng thưa Ngài, có những cá nhân sống bề ngoài như vâng lời Đức Phật; những vị ấy, sau khi Đức Phật qua đời, có thể khởi lên tranh luận trong Tăng về cách sinh sống hay về giới bổn.
Svāssa vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānan”ti.
Such a dispute would be for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì tranh luận ấy đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an và đau khổ cho chư thiên và loài người.”
“Appamattako so, ānanda, vivādo yadidaṁ—ajjhājīve vā adhipātimokkhe vā.
“Ānanda, dispute about livelihood or the monastic code is a minor matter.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, tranh luận về cách sinh sống hay về giới bổn là việc nhỏ nhặt.
Magge vā hi, ānanda, paṭipadāya vā saṅghe vivādo uppajjamāno uppajjeyya; svāssa vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ.
But should a dispute arise in the Saṅgha concerning the path or the practice, that would be for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng này Ānanda, nếu phát sinh tranh luận trong Tăng về đạo hay về hạnh, thì tranh luận ấy đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an và đau khổ cho chư thiên và loài người.
Chayimāni, ānanda, vivādamūlāni.
Ānanda, there are these six roots of dispute.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, có sáu gốc tranh luận này.
Katamāni cha?
What six?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sáu gốc nào?
Idhānanda, bhikkhu kodhano hoti upanāhī.
Firstly, a mendicant is irritable and acrimonious.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, vị tỳ-kheo có sân, có hận.
Yo so, ānanda, bhikkhu kodhano hoti upanāhī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti.
Such a mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, and they don’t fulfill the training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị tỳ-kheo nào, này Ānanda, có sân, có hận, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Đạo sư, không cung kính, không tôn trọng Pháp, không cung kính, không tôn trọng Tăng, và không hoàn tất việc học tập.
Yo so, ānanda, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme … saṅghe agāravo viharati appatisso, sikkhāya na paripūrakārī hoti, so saṅghe vivādaṁ janeti; yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya, bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ.
They create a dispute in the Saṅgha, which is for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị tỳ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Đạo sư, đối với Pháp … đối với Tăng, không hoàn tất việc học tập, vị ấy khởi lên tranh luận trong Tăng; và tranh luận ấy đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an và đau khổ cho chư thiên và loài người.
Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha, tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha.
If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông thấy một gốc tranh luận như vậy này, ở nội tâm hay ở bên ngoài, thì này Ānanda, các ông hãy nỗ lực từ bỏ chính gốc tranh luận xấu ác ấy.
Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha. Tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha.
If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông không thấy một gốc tranh luận như vậy này, ở nội tâm hay ở bên ngoài, thì này Ānanda, các ông hãy thực hành để gốc tranh luận xấu ác ấy không lưu rơi trong tương lai.
Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti, evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy là sự từ bỏ gốc tranh luận xấu ác ấy; như vậy là sự không lưu rơi trong tương lai của gốc tranh luận xấu ác ấy.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu makkhī hoti paḷāsī …pe…
Furthermore, a mendicant is offensive and contemptuous …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo có khinh mạn, có đố kỵ …
issukī hoti maccharī …pe…
They’re jealous and stingy …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo có ganh ghét, có bỏn xẻn …
saṭho hoti māyāvī …pe…
They’re devious and deceitful …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo có gian trá, có dối gạt …
pāpiccho hoti micchādiṭṭhi …pe…
They have corrupt wishes and wrong view …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo có ác dục, có tà kiến …
sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī.
They’re attached to their own views, holding them tight, and refusing to let go.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chấp mắc trong kiến của mình, nắm giữ chắc, khó buông bỏ.
Yo so, ānanda, bhikkhu sandiṭṭhiparāmāsī hoti ādhānaggāhī duppaṭinissaggī so sattharipi agāravo viharati appatisso, dhammepi agāravo viharati appatisso, saṅghepi agāravo viharati appatisso, sikkhāyapi na paripūrakārī hoti.
Such a mendicant lacks respect and reverence for the Teacher, the teaching, and the Saṅgha, and they don’t fulfill the training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị tỳ-kheo nào, này Ānanda, chấp mắc trong kiến của mình, nắm giữ chắc, khó buông bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Đạo sư, không cung kính, không tôn trọng Pháp, không cung kính, không tôn trọng Tăng, và không hoàn tất việc học tập.
Yo so, ānanda, bhikkhu satthari agāravo viharati appatisso, dhamme … saṅghe … sikkhāya na paripūrakārī hoti so saṅghe vivādaṁ janeti; yo hoti vivādo bahujanāhitāya bahujanāsukhāya, bahuno janassa anatthāya ahitāya dukkhāya devamanussānaṁ.
They create a dispute in the Saṅgha, which is for the detriment and unhappiness of the people, against the people, for the harm, detriment, and suffering of gods and humans.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị tỳ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Đạo sư, đối với Pháp … đối với Tăng … không hoàn tất việc học tập, vị ấy khởi lên tranh luận trong Tăng; và tranh luận ấy đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an và đau khổ cho chư thiên và loài người.
Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā samanupasseyyātha. Tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa pahānāya vāyameyyātha.
If you see such a root of dispute in yourselves or others, you should try to give up this bad thing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông thấy một gốc tranh luận như vậy này, ở nội tâm hay ở bên ngoài, thì này Ānanda, các ông hãy nỗ lực từ bỏ chính gốc tranh luận xấu ác ấy.
Evarūpañce tumhe, ānanda, vivādamūlaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā na samanupasseyyātha, tatra tumhe, ānanda, tasseva pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavāya paṭipajjeyyātha.
If you don’t see it, you should practice so that it doesn’t come up in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông không thấy một gốc tranh luận như vậy này, ở nội tâm hay ở bên ngoài, thì này Ānanda, các ông hãy thực hành để gốc tranh luận xấu ác ấy không lưu rơi trong tương lai.
Evametassa pāpakassa vivādamūlassa pahānaṁ hoti, evametassa pāpakassa vivādamūlassa āyatiṁ anavassavo hoti.
That’s how to give up this bad root of dispute, so it doesn’t come up in the future.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy là sự từ bỏ gốc tranh luận xấu ác ấy; như vậy là sự không lưu rơi trong tương lai của gốc tranh luận xấu ác ấy.
Imāni kho, ānanda, cha vivādamūlāni.
These are the six roots of dispute.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đó là sáu gốc tranh luận.
Cattārimāni, ānanda, adhikaraṇāni.
There are four kinds of disciplinary issues.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, có bốn tránh sự này.
Katamāni cattāri?
What four?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bốn tránh sự nào?
Vivādādhikaraṇaṁ, anuvādādhikaraṇaṁ, āpattādhikaraṇaṁ, kiccādhikaraṇaṁ—
Disciplinary issues due to disputes, accusations, offenses, or business.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tránh sự do tranh luận, tránh sự do trách móc, tránh sự do tội lỗi, tránh sự do công việc—
imāni kho, ānanda, cattāri adhikaraṇāni.
These are the four kinds of disciplinary issues.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
này Ānanda, đó là bốn tránh sự.
Satta kho panime, ānanda, adhikaraṇasamathā uppannuppannānaṁ adhikaraṇānaṁ samathāya vūpasamāya—
There are these seven means of settling any disciplinary issues that might arise.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, có bảy cách dàn xếp tránh sự này, để dàn xếp và làm lắng dịu những tránh sự khi chúng phát sinh—
sammukhāvinayo dātabbo, sativinayo dātabbo, amūḷhavinayo dātabbo, paṭiññāya kāretabbaṁ, yebhuyyasikā, tassapāpiyasikā, tiṇavatthārako.
Resolution face-to-face to be applied. Resolution through recollection to be granted. Resolution because of past insanity to be granted. Acting according to what has been admitted. Majority decision. Further penalty. Covering over as if with grass.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
phán quyết hiện tiền nên được ban cho, phán quyết ức niệm nên được ban cho, phán quyết bất si nên được ban cho, xử lý theo sự thừa nhận, phán quyết theo đa số, phán quyết nặng hơn, và sự che rơm.
Kathañcānanda, sammukhāvinayo hoti?
And how is there resolution face-to-face?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này Ānanda, là sự phán quyết hiện tiền?
Idhānanda, bhikkhū vivadanti dhammoti vā adhammoti vā vinayoti vā avinayoti vā.
It’s when mendicants are disputing: ‘This is the teaching,’ ‘This is not the teaching,’ ‘This is the monastic law,’ ‘This is not the monastic law.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, các tỳ-kheo tranh luận rằng đây là Pháp hay đây không phải Pháp, đây là Luật hay đây không phải Luật.
Tehānanda, bhikkhūhi sabbeheva samaggehi sannipatitabbaṁ.
Those mendicants should all sit together in harmony
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những tỳ-kheo ấy, này Ānanda, tất cả trong hòa hợp nên họp lại.
Sannipatitvā dhammanetti samanumajjitabbā.
and thoroughly go over the guidelines of the teaching.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họp lại rồi, nên xét kỹ đường lối Pháp.
Dhammanettiṁ samanumajjitvā yathā tattha sameti tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametabbaṁ.
They should settle that disciplinary issue in agreement with the guidelines.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xét kỹ đường lối Pháp rồi, nên làm lắng dịu tránh sự ấy đúng như sự thuận hợp ở đó.
Evaṁ kho, ānanda, sammukhāvinayo hoti;
That’s how there is resolution face-to-face.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự phán quyết hiện tiền;
evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—
And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và như vậy là một số tránh sự được làm lắng dịu, đó là—
sammukhāvinayena.
by resolution face-to-face.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bằng sự phán quyết hiện tiền.
Kathañcānanda, yebhuyyasikā hoti?
And how is there majority decision?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này Ānanda, là sự phán quyết theo đa số?
Te ce, ānanda, bhikkhū na sakkonti taṁ adhikaraṇaṁ tasmiṁ āvāse vūpasametuṁ.
If those mendicants are not able to settle that issue in that monastery,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các tỳ-kheo ấy, này Ānanda, không thể làm lắng dịu tránh sự ấy tại chỗ ở đó,
Tehānanda, bhikkhūhi yasmiṁ āvāse bahutarā bhikkhū so āvāso gantabbo.
they should go to another monastery with more mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
thì các tỳ-kheo ấy nên đi đến chỗ ở có số tỳ-kheo đông hơn.
Tattha sabbeheva samaggehi sannipatitabbaṁ.
There they should all sit together in harmony
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đó, tất cả trong hòa hợp nên họp lại.
Sannipatitvā dhammanetti samanumajjitabbā.
and thoroughly go over the guidelines of the teaching.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họp lại rồi, nên xét kỹ đường lối Pháp.
Dhammanettiṁ samanumajjitvā yathā tattha sameti tathā taṁ adhikaraṇaṁ vūpasametabbaṁ.
They should settle that disciplinary issue in agreement with the guidelines.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xét kỹ đường lối Pháp rồi, nên làm lắng dịu tránh sự ấy đúng như sự thuận hợp ở đó.
Evaṁ kho, ānanda, yebhuyyasikā hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—
That’s how there is majority decision. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự phán quyết theo đa số; và như vậy là một số tránh sự được làm lắng dịu, đó là—
yebhuyyasikāya.
by majority decision.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bằng sự phán quyết theo đa số.
Kathañcānanda, sativinayo hoti?
And how is there resolution through recollection?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này Ānanda, là sự phán quyết ức niệm?
Idhānanda, bhikkhū bhikkhuṁ evarūpāya garukāya āpattiyā codenti pārājikena vā pārājikasāmantena vā:
It’s when a mendicant accuses a mendicant of a heavy offense; one entailing expulsion, or close to it:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, các tỳ-kheo trách móc một tỳ-kheo về tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị:
‘saratāyasmā evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti?
‘Venerable, do you recall committing the kind of serious offense that entails expulsion or close to it?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tôn giả có nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị chăng?’
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
‘No, reverend, I don’t recall committing such an offense.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Hiền giả, tôi không nhớ đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị’.
Tassa kho, ānanda, bhikkhuno sativinayo dātabbo.
The resolution through recollection should be granted to them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị tỳ-kheo ấy, này Ānanda, nên được ban cho sự phán quyết ức niệm.
Evaṁ kho, ānanda, sativinayo hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—
That’s how there is the resolution through recollection. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự phán quyết ức niệm; và như vậy là một số tránh sự được làm lắng dịu, đó là—
sativinayena.
by resolution through recollection.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bằng sự phán quyết ức niệm.
Kathañcānanda, amūḷhavinayo hoti?
And how is there resolution because of past insanity?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này Ānanda, là sự phán quyết bất si?
Idhānanda, bhikkhū bhikkhuṁ evarūpāya garukāya āpattiyā codenti pārājikena vā pārājikasāmantena vā:
It’s when a mendicant accuses a mendicant of the kind of serious offense that entails expulsion, or close to it:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, các tỳ-kheo trách móc một tỳ-kheo về tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị:
‘saratāyasmā evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti?
‘Venerable, do you recall committing the kind of serious offense that entails expulsion or close to it?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tôn giả có nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị chăng?’
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
‘No, reverend, I don’t recall committing such an offense.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Hiền giả, tôi không nhớ đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị’.
Tamenaṁ so nibbeṭhentaṁ ativeṭheti:
But though they try to get out of it, the mendicant pursues the issue:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người kia bám lấy vị ấy đang tìm cách thoát ly, truy vấn:
‘iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
‘Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Tôn giả, Tôn giả hãy cho biết rõ ràng, Tôn giả có nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị chăng!’
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘ahaṁ kho, āvuso, ummādaṁ pāpuṇiṁ cetaso vipariyāsaṁ.
‘Reverend, I had gone mad, I was out of my mind.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Hiền giả, tôi bị tâm loạn, bị tâm đảo lộn.
Tena me ummattakena bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ.
And while I was mad I did and said many things that are not proper for an ascetic.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi bị loạn tâm, tôi đã làm và đã nói nhiều điều không xứng đáng bậc sa-môn.
Nāhaṁ taṁ sarāmi.
I don’t remember any of that,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi không nhớ các điều ấy.
Mūḷhena me etaṁ katan’ti.
I was mad when I did it.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi đã làm điều ấy trong lúc tâm loạn’.
Tassa kho, ānanda, bhikkhuno amūḷhavinayo dātabbo.
The resolution because of past insanity should be granted to them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị tỳ-kheo ấy, này Ānanda, nên được ban cho sự phán quyết bất si.
Evaṁ kho, ānanda, amūḷhavinayo hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—
That’s how there is resolution because of past insanity. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự phán quyết bất si; và như vậy là một số tránh sự được làm lắng dịu, đó là—
amūḷhavinayena.
by resolution because of past insanity.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bằng sự phán quyết bất si.
Kathañcānanda, paṭiññātakaraṇaṁ hoti?
And how is there acting according to what has been admitted?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này Ānanda, là sự xử lý theo sự thừa nhận?
Idhānanda, bhikkhu codito vā acodito vā āpattiṁ sarati, vivarati uttānīkaroti.
It’s when a mendicant, whether accused or not, recalls an offense and clarifies it and reveals it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, vị tỳ-kheo, dầu bị trách móc hay không bị trách móc, nhớ lại tội, mở ra và tỏ bày tội.
Tena, ānanda, bhikkhunā vuḍḍhataraṁ bhikkhuṁ upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā pāde vanditvā ukkuṭikaṁ nisīditvā añjaliṁ paggahetvā evamassa vacanīyo:
After approaching a more senior mendicant, that mendicant should arrange his robe over one shoulder, bow to that mendicant’s feet, squat on their heels, raise their cupped palms, and say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị tỳ-kheo ấy, này Ānanda, sau khi đến gặp một tỳ-kheo thượng tọa hơn, trật y một bờ vai, đảnh lễ dưới chân, ngồi ghé gối, chắp tay cung kính rồi nên nói với vị ấy:
‘ahaṁ, bhante, itthannāmaṁ āpattiṁ āpanno, taṁ paṭidesemī’ti.
‘Sir, I have fallen into such-and-such an offense. I confess it.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Ngài, con đã phạm tội tên như vầy; con xin sám hối tội ấy’.
So evamāha:
The senior mendicant says:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘passasī’ti?
‘Do you see it?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ông có thấy (tội ấy) chăng?’
‘Āma passāmī’ti.
‘Yes, I see it.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa, con thấy’.
‘Āyatiṁ saṁvareyyāsī’ti.
‘Then restrain yourself in future.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Vậy hãy phòng hộ trong tương lai’.
‘Saṁvarissāmī’ti.
‘I shall restrain myself.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Con sẽ phòng hộ’.
Evaṁ kho, ānanda, paṭiññātakaraṇaṁ hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—
That’s how there is acting according to what has been admitted. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự xử lý theo sự thừa nhận; và như vậy là một số tránh sự được làm lắng dịu, đó là—
paṭiññātakaraṇena.
by acting according to what has been admitted.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bằng sự xử lý theo sự thừa nhận.
Kathañcānanda, tassapāpiyasikā hoti?
And how is there a verdict of further penalty?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này Ānanda, là sự phán quyết nặng hơn?
Idhānanda, bhikkhu bhikkhuṁ evarūpāya garukāya āpattiyā codeti pārājikena vā pārājikasāmantena vā:
It’s when a mendicant accuses a mendicant of the kind of heavy offense that entails expulsion, or close to it:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, một tỳ-kheo trách móc một tỳ-kheo về tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị:
‘saratāyasmā evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti?
‘Venerable, do you recall committing the kind of heavy offense that entails expulsion or close to it?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Tôn giả có nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị chăng?’
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
‘No, reverend, I don’t recall committing such an offense.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Hiền giả, tôi không nhớ đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị’.
Tamenaṁ so nibbeṭhentaṁ ativeṭheti:
But though they try to get out of it, the mendicant pursues the issue:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người kia bám lấy vị ấy đang tìm cách thoát ly, truy hỏi:
‘iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
‘Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Tôn giả, Tôn giả hãy cho biết rõ ràng, Tôn giả có nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị chăng!’
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘na kho ahaṁ, āvuso, sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā;
‘Reverend, I don’t recall committing a heavy offense of that nature.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Hiền giả, tôi không nhớ đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị;
sarāmi ca kho ahaṁ, āvuso, evarūpiṁ appamattikaṁ āpattiṁ āpajjitā’ti.
But I do recall committing a light offense.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
nhưng thưa Hiền giả, tôi nhớ là đã phạm một tội nhẹ như thế’.
Tamenaṁ so nibbeṭhentaṁ ativeṭheti:
But though they try to get out of it, the mendicant pursues the issue:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người kia bám lấy vị ấy đang tìm cách thoát ly, truy hỏi:
‘iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti?
‘Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Tôn giả, Tôn giả hãy cho biết rõ ràng, Tôn giả có nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị chăng?’
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘imañhi nāmāhaṁ, āvuso, appamattikaṁ āpattiṁ āpajjitvā apuṭṭho paṭijānissāmi.
‘Reverend, I’ll go so far as to admit this light offense even when not asked.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Hiền giả, dầu không được hỏi, tôi còn thừa nhận tội nhẹ như thế này;
Kiṁ panāhaṁ evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitvā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā puṭṭho na paṭijānissāmī’ti?
Why wouldn’t I admit a heavy offense when asked?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
sao tôi lại được hỏi mà không thừa nhận tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị’?
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘imañhi nāma tvaṁ, āvuso, appamattikaṁ āpattiṁ āpajjitvā apuṭṭho na paṭijānissasi, kiṁ pana tvaṁ evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitvā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā puṭṭho paṭijānissasi?
‘You wouldn’t have admitted that light offense without being asked, so why would you admit a heavy offense?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, chính ông, dầu không được hỏi, còn không thừa nhận tội nhẹ như thế này; sao ông lại được hỏi mà thừa nhận tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị?
Iṅghāyasmā sādhukameva jānāhi yadi sarasi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
Surely the venerable must know perfectly well if you recall committing an offense that entails expulsion or close to it!’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Tôn giả, Tôn giả hãy cho biết rõ ràng, Tôn giả có nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị chăng!’
So evamāha:
They say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy nói:
‘sarāmi kho ahaṁ, āvuso, evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā.
‘Reverend, I do recall committing the kind of heavy offense that entails expulsion or close to it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thưa Hiền giả, tôi nhớ là đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị.
Davā me etaṁ vuttaṁ, ravā me etaṁ vuttaṁ—
I spoke too hastily when I said
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều ấy tôi đã nói một cách vội vàng, một cách hấp tấp—
nāhaṁ taṁ sarāmi evarūpiṁ garukaṁ āpattiṁ āpajjitā pārājikaṁ vā pārājikasāmantaṁ vā’ti.
that I didn’t recall it.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
tôi không nhớ đã phạm tội nặng như thế, tội ba-la-dị hay cận ba-la-dị’.
Evaṁ kho, ānanda, tassapāpiyasikā hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—
That’s how there is further penalty. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự phán quyết nặng hơn; và như vậy là một số tránh sự được làm lắng dịu, đó là—
tassapāpiyasikāya.
by further penalty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bằng sự phán quyết nặng hơn.
Kathañcānanda, tiṇavatthārako hoti?
And how is there the covering over as if with grass?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thế nào, này Ānanda, là sự che rơm?
Idhānanda, bhikkhūnaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ hoti bhāsitaparikkantaṁ.
It’s when the mendicants continually fight, quarrel, and dispute, doing and saying many things that are not proper for an ascetic.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, các tỳ-kheo sống với lời lẽ bất hòa, sinh cãi vã, mắc phải tranh luận, đã làm và đã nói nhiều điều không xứng đáng bậc sa-môn.
Tehānanda, bhikkhūhi sabbeheva samaggehi sannipatitabbaṁ.
Those mendicants should all sit together in harmony.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Những tỳ-kheo ấy, này Ānanda, tất cả trong hòa hợp nên họp lại.
Sannipatitvā ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā saṅgho ñāpetabbo—
A competent mendicant of one party, having risen from their seat, arranged their robe over one shoulder, and raised their cupped palms, should inform the Saṅgha:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Họp lại rồi, một tỳ-kheo khéo léo thuộc phe bên này, sau khi rời khỏi chỗ ngồi, trật y một bờ vai, chắp tay cung kính, nên báo lên Tăng chúng—
Suṇātu me, bhante, saṅgho.
‘Sir, let the Saṅgha listen to me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chư Tôn giả hãy lắng nghe tôi.
Idaṁ amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ.
We have been continually fighting, quarreling, and disputing, doing and saying many things that are not proper for an ascetic.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng tôi sống với lời lẽ bất hòa, sinh cãi vã, mắc phải tranh luận, đã làm và đã nói nhiều điều không xứng đáng bậc sa-môn.
Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ ṭhapetvā gihipaṭisaṁyuttan’ti.
If it seems appropriate to the Saṅgha, then—for the benefit of these venerables and myself—I disclose in the middle of the Saṅgha by means of covering over as if with grass any offenses committed by these venerables and by myself, excepting only those that are gravely blameworthy and those connected with laypeople.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Tăng chúng thấy đúng lúc, thì tôi sẽ vì lợi ích của chư Tôn giả này và lợi ích của chính tôi, đưa ra giữa Tăng chúng, bằng sự che rơm, những tội của chư Tôn giả này và tội của chính tôi, ngoại trừ trọng tội và những điều liên hệ đến người tại gia’.
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ byattena bhikkhunā uṭṭhāyāsanā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā añjaliṁ paṇāmetvā saṅgho ñāpetabbo:
Then a competent mendicant of the other party, having risen from their seat, arranged their robe over one shoulder, and raising their cupped palms, should inform the Saṅgha:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi một tỳ-kheo khéo léo thuộc phe bên kia, sau khi rời khỏi chỗ ngồi, trật y một bờ vai, chắp tay cung kính, nên báo lên Tăng chúng:
‘Suṇātu me, bhante, saṅgho.
‘Sir, let the Saṅgha listen to me.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chư Tôn giả hãy lắng nghe tôi.
Idaṁ amhākaṁ bhaṇḍanajātānaṁ kalahajātānaṁ vivādāpannānaṁ viharataṁ bahuṁ assāmaṇakaṁ ajjhāciṇṇaṁ bhāsitaparikkantaṁ.
We have been continually fighting, quarreling, and disputing, doing and saying many things that are not proper for an ascetic.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chúng tôi sống với lời lẽ bất hòa, sinh cãi vã, mắc phải tranh luận, đã làm và đã nói nhiều điều không xứng đáng bậc sa-môn.
Yadi saṅghassa pattakallaṁ, ahaṁ yā ceva imesaṁ āyasmantānaṁ āpatti yā ca attano āpatti, imesañceva āyasmantānaṁ atthāya attano ca atthāya, saṅghamajjhe tiṇavatthārakena deseyyaṁ, ṭhapetvā thullavajjaṁ ṭhapetvā gihipaṭisaṁyuttan’ti.
If it seems appropriate to the Saṅgha, then—for the benefit of these venerables and myself—I disclose in the middle of the Saṅgha by means of covering over as if with grass any offenses committed by these venerables and by myself, excepting only those that are gravely blameworthy and those connected with laypeople.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu Tăng chúng thấy đúng lúc, thì tôi sẽ vì lợi ích của chư Tôn giả này và lợi ích của chính tôi, đưa ra giữa Tăng chúng, bằng sự che rơm, những tội của chư Tôn giả này và tội của chính tôi, ngoại trừ trọng tội và những điều liên hệ đến người tại gia’.
Evaṁ kho, ānanda, tiṇavatthārako hoti, evañca panidhekaccānaṁ adhikaraṇānaṁ vūpasamo hoti yadidaṁ—
That’s how there is the covering over as if with grass. And that’s how certain disciplinary issues are settled, that is,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, là sự che rơm; và như vậy là một số tránh sự được làm lắng dịu, đó là—
tiṇavatthārakena.
by covering over as if with grass.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bằng sự che rơm.
Chayime, ānanda, dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti.
Ānanda, these six warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, có sáu pháp đáng ghi nhớ này, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Katame cha?
What six?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sáu pháp nào?
Idhānanda, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca.
Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây, này Ānanda, vị tỳ-kheo duy trì thân hành đầy lòng từ đối với những người đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
This warm-hearted quality makes for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là một pháp đáng ghi nhớ, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with verbal kindness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo duy trì khẩu hành đầy lòng từ đối với những người đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
This too is a warm-hearted quality.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây cũng là một pháp đáng ghi nhớ, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhuno mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca.
Furthermore, a mendicant consistently treats their spiritual companions with mental kindness …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo duy trì ý hành đầy lòng từ đối với những người đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
This too is a warm-hearted quality.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây cũng là một pháp đáng ghi nhớ, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu—ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi tathārūpehi lābhehi—apaṭivibhattabhogī hoti, sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo — đối với những lợi dưỡng chân chánh, có được đúng Pháp, dầu chỉ là phần thức ăn trong bình bát — không dùng riêng mà dùng chung với những người đồng phạm hạnh có giới.
Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
This too is a warm-hearted quality.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây cũng là một pháp đáng ghi nhớ, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu—yāni tāni sīlāni akhaṇḍāni acchiddāni asabalāni akammāsāni bhujissāni viññuppasatthāni aparāmaṭṭhāni samādhisaṁvattanikāni tathārūpesu sīlesu—sīlasāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca.
Furthermore, a mendicant lives according to the precepts shared with their spiritual companions, both in public and in private. Those precepts are intact, impeccable, spotless, and unmarred, liberating, praised by sensible people, not mistaken, and leading to immersion.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo — đối với những giới không sứt mẻ, không thủng, không lốm đốm, không vết nhơ, giải thoát, được người trí ca ngợi, không chấp trước, đưa đến định — sống hòa đồng trong những giới ấy với những người đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
This too is a warm-hearted quality.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây cũng là một pháp đáng ghi nhớ, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Puna caparaṁ, ānanda, bhikkhu—yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya tathārūpāya diṭṭhiyā—diṭṭhisāmaññagato viharati sabrahmacārīhi āvi ceva raho ca.
Furthermore, a mendicant lives according to the view shared with their spiritual companions, both in public and in private. That view is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, này Ānanda, vị tỳ-kheo — đối với kiến Thánh, đưa ra khỏi, dẫn người thực hành đến sự chấm dứt khổ hoàn toàn — sống hòa đồng trong kiến ấy với những người đồng phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng.
Ayampi dhammo sāraṇīyo piyakaraṇo garukaraṇo saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattati.
This too is a warm-hearted quality.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây cũng là một pháp đáng ghi nhớ, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Ime kho, ānanda, cha sāraṇīyā dhammā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti.
These six warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without dispute.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đó là sáu pháp đáng ghi nhớ, tạo nên thương mến và kính trọng, đưa đến nâng đỡ lẫn nhau, không tranh chấp, hòa hợp và nhất trí.
Ime ce tumhe, ānanda, cha sāraṇīye dhamme samādāya vatteyyātha, passatha no tumhe, ānanda, taṁ vacanapathaṁ aṇuṁ vā thūlaṁ vā yaṁ tumhe nādhivāseyyāthā”ti?
If you should proceed having undertaken these six warm-hearted qualities, do you see any criticism, large or small, that you could not endure?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông, này Ānanda, sau khi thọ trì sáu pháp đáng ghi nhớ này mà hành trì, thì này Ānanda, các ông có thấy con đường lời nói nào, dù nhỏ hay thô, mà các ông không kham nhẫn chịu đựng?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa không, bạch Thế Tôn.”
“Tasmātihānanda, ime cha sāraṇīye dhamme samādāya vattatha.
“That’s why, Ānanda, you should proceed having undertaken these six warm-hearted qualities.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Do đó, này Ānanda, hãy thọ trì và hành trì sáu pháp đáng ghi nhớ này.
Taṁ vo bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
That will be for your lasting welfare and happiness.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Điều ấy sẽ đưa đến an lạc và hạnh phúc lâu dài cho các ông.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Sāmagāmasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Sāmagāma, bài thứ tư, kết thúc.