← Kinh Trung Bộ

MN103 · Majjhima Nikāya

Kinh Nghĩ Như Thế Nào

Kintisutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Nghĩ Như Thế Nào ghi lời Đức Phật dạy tại Kusinārā, khu rừng Baliharaṇa. Đức Phật hỏi các tỳ-kheo có nghĩ Ngài thuyết pháp vì y áo, đồ ăn khất thực, chỗ nghỉ ngơi hay vì sự tái sinh kiểu này kiểu kia; các tỳ-kheo phủ nhận và trả lời: Thế Tôn là bậc từ mẫn, mong muốn lợi ích, thuyết pháp xuất phát từ lòng từ mẫn.

Đức Phật nhắc lại những gì Ngài đã dạy sau khi thắng tri: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành, tất cả cần được học tập trong hòa hợp, quý mến, không tranh luận. Khi hai vị tỳ-kheo khác nhau về Pháp, kinh xử lý bốn trường hợp: khác cả nghĩa lẫn văn, khác nghĩa cùng văn, cùng nghĩa khác văn, cùng cả hai. Với mỗi trường hợp, người ta đến gặp vị dễ khuyên nhất của mỗi phe, trình bày đúng tình trạng, xin chớ khởi tranh cãi; cùng nghĩa khác văn thì văn chỉ là việc nhỏ nhặt; rồi hãy nói đến Pháp và Luật, ghi nhớ điều sai là sai, điều đúng là đúng.

Khi một tỳ-kheo có tội hoặc vi phạm, chớ vội trách cứ, cần quan sát cá nhân ấy. Nếu nói ra không phiền toái cho ta, không tổn hại người kia, và có thể đưa người ấy ra khỏi bất thiện, lập vào thiện, thì nên nói. Ở các trường hợp còn lại, ta phiền toái hay người kia tổn hại là chuyện nhỏ so với việc đưa người ấy ra khỏi bất thiện; riêng trường hợp vừa phiền toái vừa tổn hại mà không giúp được gì, chớ xem thường sự xả.

Khi trong Tăng đoàn phát sinh lôi chuyện cũ, hiềm khích về kiến, giận dữ, người ta đến hỏi vị dễ khuyên nhất của mỗi phe: nếu vị sa-môn biết rõ điều ấy, Ngài có quở trách không, và không từ bỏ pháp ấy liệu có thể chứng ngộ Niết-bàn. Trả lời đúng là Ngài sẽ quở trách, và không từ bỏ pháp ấy thì không thể chứng ngộ Niết-bàn. Nếu người khác hỏi có đưa các tỳ-kheo ấy ra khỏi bất thiện không, trả lời đúng là mình đã đến nghe Pháp từ Đức Thế Tôn rồi nói lại cho họ; họ nghe xong đã vượt lên khỏi bất thiện, an lập vào thiện.

Trả lời như vậy, vị ấy không tự đề cao, không chê bai người khác, không rơi vào chỗ đáng bị chỉ trích chính đáng. Toàn bài hướng về điều kinh lặp lại nhiều lần: học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 454 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 86855317-fbdb-41eb-94f1-d3ddf5ccd102 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: cbd4f97086a6c25698a896ed3e84b2a57f7bebd06263f81fa0abd7ea4cbca9b5

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 454 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: fc2fa748-e1df-4a58-881b-879066ef58a8 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: cbd4f97086a6c25698a896ed3e84b2a57f7bebd06263f81fa0abd7ea4cbca9b5

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 128 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 209dd956-0603-4369-994f-3116e46f42d5 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f341982a9c94367348ed4ee2eb44e0b8b447a481c2a5d7e87d39be83ca463a09

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 128 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 38a8fe8d-f77a-4556-9ccf-8b5138c3b412 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: f341982a9c94367348ed4ee2eb44e0b8b447a481c2a5d7e87d39be83ca463a09

2026-09-12 · Scorecard lịch sử · 9.69/10

Người/công cụ đánh giá: GLM-5.3 Flash (ZCode).

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ9.8
Đúng nghĩa Pāli9.6
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.6
Đối chiếu nguồn9.6
Tiếng Việt sáng rõ9.6
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.6
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

128/128 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Gồm chỗ Sujato để trống, bù bằng bản lấp của dự án (bản nháp của chúng ta).

126/128 segment có nội dung · ghép từ english-sujato, english-project

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

128/128 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Tra cứu toàn văn

Nguồn dưới đây không phải cột đối chiếu. Nó là văn xuôi liên tục, không chia theo segment, nên không đặt cạnh Pāli từng câu được — dùng để tra từ ngữ và đối chiếu ở mức câu.

Bản Việt của Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson ↗

Hòa thượng Thích Minh Châu, hiệu đính Bình Anson — lấy từ BuddhaSasana (budsas.org) (bản sao chép bên thứ ba). Không theo segment, không dùng để đối chiếu từng câu. NOASSERTION: Hòa thượng Thích Minh Châu (bản dịch); Bình Anson (hiệu đính).

  • Văn xuôi liên tục, không chia theo segment của bilara — đối chiếu ở mức câu chứ không ở mức segment.
  • Trang ghi rõ: "Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ 'The Middle Length Discourses of the Buddha', Tỳ kheo Nanamoli". Tức đây là bản hiệu đính của bản dịch Hòa thượng Thích Minh Châu, có đối chiếu bản Anh của Tỳ khẻo Nanamoli — không phải nguyên văn bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu.
  • Đây là bản sao của bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Bản in lần đầu của Hòa thượng Thích Minh Châu, 1973 (Trung Bộ Kinh, tập I); lần in lại 1986. Trang này là bản sao bên thứ ba, không phải bản xuất bản. Tác phẩm vẫn được tái bản thương mại, nên việc dùng bản sao phải ghi rõ là bản sao.
  • Không có tuyên bố quyền tác giả máy đọc được: NOASSERTION. Không suy ra CC0.

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Majjhima Nikāya 103
Middle Discourses 103
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trung Bộ Kinh 103
Kintisutta
Is This What You Think Of Me?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Nghĩ Như Thế Nào
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā pisinārāyaṁ viharati baliharaṇe vanasaṇḍe.
At one time the Buddha was staying near Kusinārā in the Forest of Offerings.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Phật ở Kusinārā, trong khu rừng Baliharaṇa.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
There the Buddha addressed the mendicants,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tại đó, Đức Phật gọi các tỳ-kheo:
“bhikkhavo”ti.
“Mendicants!”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo!”
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
“Venerable sir,” they replied.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Ngài,” các tỳ-kheo vâng đáp Đức Phật.
Bhagavā etadavoca:
The Buddha said this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật nói điều này:
“kinti vo, bhikkhave, mayi hoti:
“Mendicants, is this what you think of me?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ gì về Ta:
‘cīvarahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ deseti, piṇḍapātahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ deseti, senāsanahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ deseti, itibhavābhavahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ desetī’”ti?
‘The ascetic Gotama teaches the Dhamma for the sake of robes, almsfood, lodgings, or rebirth in this or that state.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sa-môn Gotama thuyết pháp vì y áo, sa-môn Gotama thuyết pháp vì đồ ăn khất thực, sa-môn Gotama thuyết pháp vì chỗ nghỉ ngơi, hay sa-môn Gotama thuyết pháp vì sự tái sinh kiểu này kiểu kia’?”
“Na kho no, bhante, bhagavati evaṁ hoti:
“No sir, we don’t think of you that way.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Ngài, chúng con không nghĩ như vậy về Đức Thế Tôn:
‘cīvarahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ deseti, piṇḍapātahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ deseti, senāsanahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ deseti, itibhavābhavahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ desetī’”ti.
‘The ascetic Gotama teaches the Dhamma for the sake of robes, almsfood, lodgings, or rebirth in this or that state.’”bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sa-môn Gotama thuyết pháp vì y áo, sa-môn Gotama thuyết pháp vì đồ ăn khất thực, sa-môn Gotama thuyết pháp vì chỗ nghỉ ngơi, hay sa-môn Gotama thuyết pháp vì sự tái sinh kiểu này kiểu kia’.”
“Na ca kira vo, bhikkhave, mayi evaṁ hoti:
“If you don’t think of me that way,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Và nếu các ông không nghĩ như vậy về Ta:
‘cīvarahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ deseti …pe…
‘The ascetic Gotama teaches the Dhamma for the sake of robes, …bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Sa-môn Gotama thuyết pháp vì y áo …
itibhavābhavahetu vā samaṇo gotamo dhammaṁ desetī’ti;
or rebirth in this or that state, the ascetic Gotama teaches the Dhamma’;bản lấp của dự án
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hay sa-môn Gotama thuyết pháp vì sự tái sinh kiểu này kiểu kia’;
atha kinti carahi vo, bhikkhave, mayi hotī”ti?
what then do you think of me?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
vậy các ông nghĩ gì về Ta?”
“Evaṁ kho no, bhante, bhagavati hoti:
“We think of you this way:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa Ngài, chúng con nghĩ như vậy về Đức Thế Tôn:
‘anukampako bhagavā hitesī;
‘The Buddha is sympathetic and wants what’s best for us.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế Tôn là bậc từ mẫn, mong muốn lợi ích;
anukampaṁ upādāya dhammaṁ desetī’”ti.
He teaches out of sympathy.’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài thuyết pháp xuất phát từ lòng từ mẫn’.”
“Evañca kira vo, bhikkhave, mayi hoti:
“So it seems you think
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thế ra các ông nghĩ về Ta như vậy:
‘anukampako bhagavā hitesī;
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thế Tôn là bậc từ mẫn, mong muốn lợi ích;
anukampaṁ upādāya dhammaṁ desetī’ti.
that I teach out of sympathy.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ngài thuyết pháp xuất phát từ lòng từ mẫn’.
Tasmātiha, bhikkhave, ye vo mayā dhammā abhiññā desitā, seyyathidaṁ—
In that case, each and every one of you should train in the things I have taught from my direct knowledge, that is:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vậy nên, này các tỳ-kheo, những gì Ta đã giảng dạy cho các ông sau khi thắng tri, tức là—
cattāro satipaṭṭhānā cattāro sammappadhānā cattāro iddhipādā pañcindriyāni pañca balāni satta bojjhaṅgā ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, tattha sabbeheva samaggehi sammodamānehi avivadamānehi sikkhitabbaṁ.
the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, the seven awakening factors, and the noble eightfold path. You should train in these things in harmony, appreciating each other, without dispute.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi và Thánh đạo tám ngành. Trong đó, tất cả cần phải được học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận.
Tesañca vo, bhikkhave, samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ siyaṁsu dve bhikkhū abhidhamme nānāvādā.
As you do so, it may happen that two mendicants disagree about the teaching.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi các ông, này các tỳ-kheo, đang học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận, có thể có hai vị tỳ-kheo chủ trương khác nhau về Pháp.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
Now, you might think,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc đó, nếu các ông nghĩ:
‘imesaṁ kho āyasmantānaṁ atthato ceva nānaṁ byañjanato ca nānan’ti, tattha yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
‘These two venerables disagree on both the meaning and the phrasing.’ So you should approach whichever mendicant you think is most amenable and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả này khác nhau cả về nghĩa lẫn về văn’ — thế thì vị tỳ-kheo nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato ceva nānaṁ, byañjanato ca nānaṁ.
‘The venerables disagree on the meaning and the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả khác nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato ceva nānaṁ, byañjanato ca nānaṁ.
such disagreement on the meaning and the phrasing comes to be.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là khác nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Māyasmanto vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about this.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi.’
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
Then you should approach whichever mendicant they think is most amenable among those who side with the other party and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi với nhóm tỳ-kheo theo phe bên kia, vị nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato ceva nānaṁ, byañjanato ca nānaṁ.
‘The venerables disagree on the meaning and the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả khác nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato ceva nānaṁ, byañjanato ca nānaṁ.
such disagreement on the meaning and the phrasing comes to be.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là khác nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Māyasmanto vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about this.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi.’
Iti duggahitaṁ duggahitato dhāretabbaṁ, suggahitaṁ suggahitato dhāretabbaṁ.
So you should remember what has been incorrectly memorized as incorrectly memorized and what has been correctly memorized as correctly memorized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, điều bị ghi nhớ sai cần được ghi nhớ là bị ghi nhớ sai, điều được ghi nhớ đúng cần được ghi nhớ là được ghi nhớ đúng.
Duggahitaṁ duggahitato dhāretvā suggahitaṁ suggahitato dhāretvā yo dhammo yo vinayo so bhāsitabbo.
Remembering this, you should speak on the teaching and the training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi ghi nhớ điều sai là sai và điều đúng là đúng, hãy nói đến Pháp và Luật.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
Now, you might think,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc đó, nếu các ông nghĩ:
‘imesaṁ kho āyasmantānaṁ atthato hi kho nānaṁ, byañjanato sametī’ti, tattha yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
‘These two venerables disagree on the meaning but agree on the phrasing.’ So you should approach whichever mendicant you think is most amenable and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả này khác nhau về nghĩa nhưng cùng về văn’ — thế thì vị tỳ-kheo nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato hi nānaṁ, byañjanato sameti.
‘The venerables disagree on the meaning but agree on the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả khác nhau về nghĩa nhưng cùng về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato hi kho nānaṁ, byañjanato sameti.
such disagreement on the meaning and agreement on the phrasing comes to be.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là khác nghĩa nhưng cùng văn.
Māyasmanto vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about this.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi.’
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
Then you should approach whichever mendicant they think is most amenable among those who side with the other party and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi với nhóm tỳ-kheo theo phe bên kia, vị nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato hi kho nānaṁ, byañjanato sameti.
‘The venerables disagree on the meaning but agree on the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả khác nhau về nghĩa nhưng cùng về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato hi kho nānaṁ, byañjanato sameti.
such disagreement on the meaning and agreement on the phrasing comes to be.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là khác nghĩa nhưng cùng văn.
Māyasmanto vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about this.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi.’
Iti duggahitaṁ duggahitato dhāretabbaṁ, suggahitaṁ suggahitato dhāretabbaṁ.
So you should remember what has been incorrectly memorized as incorrectly memorized and what has been correctly memorized as correctly memorized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, điều bị ghi nhớ sai cần được ghi nhớ là bị ghi nhớ sai, điều được ghi nhớ đúng cần được ghi nhớ là được ghi nhớ đúng.
Duggahitaṁ duggahitato dhāretvā suggahitaṁ suggahitato dhāretvā yo dhammo yo vinayo so bhāsitabbo.
Remembering this, you should speak on the teaching and the training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi ghi nhớ điều sai là sai và điều đúng là đúng, hãy nói đến Pháp và Luật.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
Now, you might think,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc đó, nếu các ông nghĩ:
‘imesaṁ kho āyasmantānaṁ atthato hi kho sameti, byañjanato nānan’ti, tattha yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
‘These two venerables agree on the meaning but disagree on the phrasing.’ So you should approach whichever mendicant you think is most amenable and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả này cùng về nghĩa nhưng khác nhau về văn’ — thế thì vị tỳ-kheo nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato hi sameti, byañjanato nānaṁ.
‘The venerables agree on the meaning but disagree on the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả cùng về nghĩa nhưng khác nhau về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato hi kho sameti, byañjanato nānaṁ.
such agreement on the meaning and disagreement on the phrasing comes to be.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là cùng nghĩa nhưng khác văn.
Appamattakaṁ kho panetaṁ yadidaṁ—byañjanaṁ.
But the phrasing is a minor matter.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn văn chỉ là việc nhỏ nhặt.
Māyasmanto appamattake vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about something so minor.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi vì việc nhỏ nhặt.’
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
Then you should approach whichever mendicant they think is most amenable among those who side with the other party and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi với nhóm tỳ-kheo theo phe bên kia, vị nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato hi sameti, byañjanato nānaṁ.
‘The venerables agree on the meaning but disagree on the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả cùng về nghĩa nhưng khác nhau về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato hi kho sameti, byañjanato nānaṁ.
such agreement on the meaning and disagreement on the phrasing comes to be.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là cùng nghĩa nhưng khác văn.
Appamattakaṁ kho panetaṁ yadidaṁ—byañjanaṁ.
But the phrasing is a minor matter.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn văn chỉ là việc nhỏ nhặt.
Māyasmanto appamattake vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about something so minor.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi vì việc nhỏ nhặt.’
Iti suggahitaṁ suggahitato dhāretabbaṁ, duggahitaṁ duggahitato dhāretabbaṁ.
So you should remember what has been correctly memorized as correctly memorized and what has been incorrectly memorized as incorrectly memorized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, điều được ghi nhớ đúng cần được ghi nhớ là được ghi nhớ đúng, điều bị ghi nhớ sai cần được ghi nhớ là bị ghi nhớ sai.
Suggahitaṁ suggahitato dhāretvā duggahitaṁ duggahitato dhāretvā yo dhammo yo vinayo so bhāsitabbo.
Remembering this, you should speak on the teaching and the training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi ghi nhớ điều đúng là đúng và điều sai là sai, hãy nói đến Pháp và Luật.
Tatra ce tumhākaṁ evamassa:
Now, you might think,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lúc đó, nếu các ông nghĩ:
‘imesaṁ kho āyasmantānaṁ atthato ceva sameti byañjanato ca sametī’ti, tattha yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
‘These two venerables agree on both the meaning and the phrasing.’ So you should approach whichever mendicant you think is most amenable and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả này cùng nhau cả về nghĩa lẫn về văn’ — thế thì vị tỳ-kheo nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato ceva sameti, byañjanato ca sameti.
‘The venerables agree on both the meaning and the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả cùng nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato ceva sameti byañjanato ca sameti.
they come to agree on the meaning and the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là cùng nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Māyasmanto vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about this.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi.’
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
Then you should approach whichever mendicant they think is most amenable among those who side with the other party and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi với nhóm tỳ-kheo theo phe bên kia, vị nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘āyasmantānaṁ kho atthato ceva sameti byañjanato ca sameti.
‘The venerables agree on both the meaning and the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Các Tôn giả cùng nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Tadamināpetaṁ āyasmanto jānātha—
But the venerables should know that this is how
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các Tôn giả hãy biết nhờ điều này—
yathā atthato ceva sameti byañjanato ca sameti.
they come to agree on the meaning and the phrasing.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
biết như thế nào là cùng nhau cả về nghĩa lẫn về văn.
Māyasmanto vivādaṁ āpajjitthā’ti.
Please don’t get into a dispute about this.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Xin các Tôn giả chớ khởi tranh cãi.’
Iti suggahitaṁ suggahitato dhāretabbaṁ.
So you should remember what has been correctly memorized as correctly memorized.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, điều được ghi nhớ đúng cần được ghi nhớ là được ghi nhớ đúng.
Suggahitaṁ suggahitato dhāretvā yo dhammo yo vinayo so bhāsitabbo.
Remembering this, you should speak on the teaching and the training.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Sau khi ghi nhớ điều đúng là đúng, hãy nói đến Pháp và Luật.
Tesañca vo, bhikkhave, samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ siyā aññatarassa bhikkhuno āpatti siyā vītikkamo,
As you train in harmony, appreciating each other, without dispute, one of the mendicants might commit an offense or transgression.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi các ông, này các tỳ-kheo, đang học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận, một vị tỳ-kheo nào đó có thể có tội hoặc có sự vi phạm.
tatra, bhikkhave, na codanāya taritabbaṁ. Puggalo upaparikkhitabbo:
In such a case, you should not be in a hurry to accuse them. The individual should be examined like this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
trong trường hợp ấy, này các tỳ-kheo, chớ vội trách cứ; cần phải quan sát cá nhân ấy:
‘iti mayhañca avihesā bhavissati parassa ca puggalassa anupaghāto, paro hi puggalo akkodhano anupanāhī adaḷhadiṭṭhī suppaṭinissaggī, sakkomi cāhaṁ etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetun’ti.
‘I won’t be troubled and the other individual won’t be hurt, for they’re not irritable and acrimonious. They don’t hold fast to their views, but let them go easily. I can draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Như vậy, ta sẽ không bị phiền toái và cá nhân kia sẽ không bị tổn hại — vì người ấy không sân, không hận, không giữ kiến chắc chặt, dễ dàng buông bỏ — và ta có thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.’
Sace, bhikkhave, evamassa, kallaṁ vacanāya.
If that’s what you think, then it’s appropriate to speak to them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông nghĩ như vậy, này các tỳ-kheo, thì nên nói.
Sace pana, bhikkhave, evamassa:
But suppose you think this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng nếu, này các tỳ-kheo, các ông nghĩ như sau:
‘mayhaṁ kho avihesā bhavissati parassa ca puggalassa upaghāto, paro hi puggalo kodhano upanāhī adaḷhadiṭṭhī suppaṭinissaggī, sakkomi cāhaṁ etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetuṁ.
‘I will be troubled and the other individual will be hurt, for they’re irritable and acrimonious. However, they don’t hold fast to their views, but let them go easily. I can draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta sẽ không bị phiền toái, nhưng cá nhân kia sẽ bị tổn hại, vì người ấy có sân, có hận, không giữ kiến chắc chặt, dễ dàng buông bỏ; tuy nhiên ta có thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.
Appamattakaṁ kho panetaṁ yadidaṁ—parassa puggalassa upaghāto.
But for the other individual to get hurt is a minor matter.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn việc cá nhân kia bị tổn hại chỉ là chuyện nhỏ nhặt;
Atha kho etadeva bahutaraṁ—
It’s more important
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
quan trọng hơn là—
svāhaṁ sakkomi etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetun’ti.
that I can draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ta có thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.’
Sace, bhikkhave, evamassa, kallaṁ vacanāya.
If that’s what you think, then it’s appropriate to speak to them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông nghĩ như vậy, này các tỳ-kheo, thì nên nói.
Sace pana, bhikkhave, evamassa:
But suppose you think this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng nếu, này các tỳ-kheo, các ông nghĩ như sau:
‘mayhaṁ kho vihesā bhavissati parassa ca puggalassa anupaghāto. Paro hi puggalo akkodhano anupanāhī daḷhadiṭṭhī duppaṭinissaggī, sakkomi cāhaṁ etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetuṁ.
‘I will be troubled but the other individual won’t be hurt, for they’re not irritable and acrimonious. However, they hold fast to their views, refusing to let go. Nevertheless, I can draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta sẽ bị phiền toái, nhưng cá nhân kia sẽ không bị tổn hại, vì người ấy không sân, không hận, giữ kiến chắc chặt, khó buông bỏ; tuy nhiên ta có thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.
Appamattakaṁ kho panetaṁ yadidaṁ—mayhaṁ vihesā.
But for me to be troubled is a minor matter.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn việc ta bị phiền toái chỉ là chuyện nhỏ nhặt;
Atha kho etadeva bahutaraṁ—
It’s more important
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
quan trọng hơn là—
svāhaṁ sakkomi etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetun’ti.
that I can draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ta có thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.’
Sace, bhikkhave, evamassa, kallaṁ vacanāya.
If that’s what you think, then it’s appropriate to speak to them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông nghĩ như vậy, này các tỳ-kheo, thì nên nói.
Sace pana, bhikkhave, evamassa:
But suppose you think this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng nếu, này các tỳ-kheo, các ông nghĩ như sau:
‘mayhañca kho vihesā bhavissati parassa ca puggalassa upaghāto. Paro hi puggalo kodhano upanāhī daḷhadiṭṭhī duppaṭinissaggī, sakkomi cāhaṁ etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetuṁ.
‘I will be troubled and the other individual will be hurt, for they’re irritable and acrimonious. And they hold fast to their views, refusing to let go. Nevertheless, I can draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta sẽ bị phiền toái và cá nhân kia cũng sẽ bị tổn hại, vì người ấy có sân, có hận, giữ kiến chắc chặt, khó buông bỏ; tuy nhiên ta có thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.
Appamattakaṁ kho panetaṁ yadidaṁ—mayhañca vihesā bhavissati parassa ca puggalassa upaghāto.
But for me to be troubled and the other individual to get hurt is a minor matter.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn việc ta bị phiền toái và cá nhân kia bị tổn hại chỉ là chuyện nhỏ nhặt;
Atha kho etadeva bahutaraṁ—
It’s more important
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
quan trọng hơn là—
svāhaṁ sakkomi etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetun’ti.
that I can draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
ta có thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.’
Sace, bhikkhave, evamassa, kallaṁ vacanāya.
If that’s what you think, then it’s appropriate to speak to them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu các ông nghĩ như vậy, này các tỳ-kheo, thì nên nói.
Sace pana, bhikkhave, evamassa:
But suppose you think this:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng nếu, này các tỳ-kheo, các ông nghĩ như sau:
‘mayhañca kho vihesā bhavissati parassa ca puggalassa upaghāto. Paro hi puggalo kodhano upanāhī daḷhadiṭṭhī duppaṭinissaggī, na cāhaṁ sakkomi etaṁ puggalaṁ akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpetun’ti.
‘I will be troubled and the other individual will be hurt, for they’re irritable and acrimonious. And they hold fast to their views, refusing to let go. I cannot draw them away from the unskillful and establish them in the skillful.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ta sẽ bị phiền toái và cá nhân kia cũng sẽ bị tổn hại, vì người ấy có sân, có hận, giữ kiến chắc chặt, khó buông bỏ; và ta không thể đưa cá nhân này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện.’
Evarūpe, bhikkhave, puggale upekkhā nātimaññitabbā.
Don’t underestimate the value of equanimity regarding such an individual.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Với một người như vậy, này các tỳ-kheo, chớ xem thường sự xả.
Tesañca vo, bhikkhave, samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññamaññassa vacīsaṁhāro uppajjeyya diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi.
As you train in harmony, appreciating each other, without quarreling, the sides might continue to bring up settled issues with each other, with contempt for each other’s views, resentful, bitter, and exasperated.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong khi các ông, này các tỳ-kheo, đang học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận, có thể phát sinh sự lôi lại chuyện cũ với nhau bằng lời, hiềm khích về kiến, sự giận dữ trong tâm, không thuận hòa và bất mãn.
Tattha ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
In this case you should approach whichever mendicant you think is most amenable among those who side with one party and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy, với nhóm tỳ-kheo theo phe bên này, vị nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘yaṁ no, āvuso, amhākaṁ samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññamaññassa vacīsaṁhāro uppanno diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi, taṁ jānamāno samaṇo garaheyyā’ti.
‘Reverend, as we were training, the sides continued to bring up settled issues with each other. If the Ascetic knew about this, would he criticize it?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, trong khi chúng tôi học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận, lại phát sinh sự lôi lại chuyện cũ với nhau bằng lời, hiềm khích về kiến, sự giận dữ trong tâm, không thuận hòa và bất mãn — nếu vị sa-môn biết rõ điều ấy, liệu Ngài có quở trách?’
Sammā byākaramāno, bhikkhave, bhikkhu evaṁ byākareyya:
Answering rightly, the mendicant should say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trả lời đúng, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo phải trả lời như sau:
‘yaṁ no, āvuso, amhākaṁ samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññamaññassa vacīsaṁhāro uppanno diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi, taṁ jānamāno samaṇo garaheyyāti.
‘Yes, reverend, he would.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, trong khi chúng tôi học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận, lại phát sinh sự lôi lại chuyện cũ với nhau bằng lời, hiềm khích về kiến, sự giận dữ trong tâm, không thuận hòa và bất mãn — nếu vị sa-môn biết rõ điều ấy, Ngài sẽ quở trách.
Etaṁ panāvuso, dhammaṁ appahāya nibbānaṁ sacchikareyyā’ti.
‘But without giving that up, reverend, can one realize extinguishment?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn này Hiền giả, không từ bỏ pháp ấy, liệu có thể chứng ngộ Niết-bàn?’
Sammā byākaramāno, bhikkhave, bhikkhu evaṁ byākareyya:
Answering rightly, the mendicant should say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trả lời đúng, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo phải trả lời như sau:
‘etaṁ, āvuso, dhammaṁ appahāya na nibbānaṁ sacchikareyyā’ti.
‘No, reverend, one cannot.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Không từ bỏ pháp ấy, này Hiền giả, thì không thể chứng ngộ Niết-bàn.’
Athāparesaṁ ekatopakkhikānaṁ bhikkhūnaṁ yaṁ bhikkhuṁ suvacataraṁ maññeyyātha, so upasaṅkamitvā evamassa vacanīyo:
Then you should approach whichever mendicant they think is most amenable among those who side with the other party and say to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi với nhóm tỳ-kheo theo phe bên kia, vị nào các ông nghĩ là dễ khuyên nhất, hãy đến gặp vị ấy và nói với vị ấy:
‘yaṁ no, āvuso, amhākaṁ samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññamaññassa vacīsaṁhāro uppanno diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi, taṁ jānamāno samaṇo garaheyyā’ti.
‘Reverend, as we were training, the sides continued to bring up settled issues with each other. If the Ascetic knew about this, would he criticize it?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, trong khi chúng tôi học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận, lại phát sinh sự lôi lại chuyện cũ với nhau bằng lời, hiềm khích về kiến, sự giận dữ trong tâm, không thuận hòa và bất mãn — nếu vị sa-môn biết rõ điều ấy, liệu Ngài có quở trách?’
Sammā byākaramāno, bhikkhave, bhikkhu evaṁ byākareyya:
Answering rightly, the mendicant should say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trả lời đúng, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo phải trả lời như sau:
‘yaṁ no, āvuso, amhākaṁ samaggānaṁ sammodamānānaṁ avivadamānānaṁ sikkhataṁ aññamaññassa vacīsaṁhāro uppanno diṭṭhipaḷāso cetaso āghāto appaccayo anabhiraddhi taṁ jānamāno samaṇo garaheyyāti.
‘Yes, reverend, he would.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, trong khi chúng tôi học tập trong hòa hợp, quý mến nhau, không tranh luận, lại phát sinh sự lôi lại chuyện cũ với nhau bằng lời, hiềm khích về kiến, sự giận dữ trong tâm, không thuận hòa và bất mãn — nếu vị sa-môn biết rõ điều ấy, Ngài sẽ quở trách.
Etaṁ panāvuso, dhammaṁ appahāya nibbānaṁ sacchikareyyā’ti.
‘But without giving that up, reverend, can one realize extinguishment?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Còn này Hiền giả, không từ bỏ pháp ấy, liệu có thể chứng ngộ Niết-bàn?’
Sammā byākaramāno, bhikkhave, bhikkhu evaṁ byākareyya:
Answering rightly, the mendicant should say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trả lời đúng, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo phải trả lời như sau:
‘etaṁ kho, āvuso, dhammaṁ appahāya na nibbānaṁ sacchikareyyā’ti.
‘No, reverend, one cannot.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Chính không từ bỏ pháp ấy, này Hiền giả, thì không thể chứng ngộ Niết-bàn.’
Tañce, bhikkhave, bhikkhuṁ pare evaṁ puccheyyuṁ:
If others should ask that mendicant:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Rồi nếu người khác hỏi vị tỳ-kheo ấy:
‘āyasmatā no ete bhikkhū akusalā vuṭṭhāpetvā kusale patiṭṭhāpitā’ti?
‘Were you the venerable who drew those mendicants away from the unskillful and established them in the skillful?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Phải chăng chính Tôn giả đã đưa các tỳ-kheo này ra khỏi bất thiện và an lập vào thiện?’
Sammā byākaramāno, bhikkhave, bhikkhu evaṁ byākareyya:
Answering rightly, the mendicant should say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trả lời đúng, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo phải trả lời như sau:
‘idhāhaṁ, āvuso, yena bhagavā tenupasaṅkamiṁ, tassa me bhagavā dhammaṁ desesi, tāhaṁ dhammaṁ sutvā tesaṁ bhikkhūnaṁ abhāsiṁ.
‘Well, reverends, I approached the Buddha. He taught me the Dhamma. After hearing that teaching I explained it to those mendicants.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, ở đây tôi đã đến gặp Đức Thế Tôn; Đức Thế Tôn thuyết Pháp cho tôi; nghe Pháp ấy xong, tôi đã nói lại cho các tỳ-kheo ấy.
Taṁ te bhikkhū dhammaṁ sutvā akusalā vuṭṭhahiṁsu, kusale patiṭṭhahiṁsū’ti.
When those mendicants heard that teaching they were drawn away from the unskillful and established in the skillful.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các tỳ-kheo ấy nghe Pháp ấy xong đã vượt lên khỏi bất thiện và an lập vào thiện.’
Evaṁ byākaramāno kho, bhikkhave, bhikkhu na ceva attānaṁ ukkaṁseti, na paraṁ vambheti, dhammassa cānudhammaṁ byākaroti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti.
Answering in this way, that mendicant doesn’t glorify themselves or put others down. They answer in line with the teaching, with no legitimate grounds for rebuttal and criticism.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trả lời như vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo không tự đề cao mình, không chê bai người khác, trả lời đúng theo Pháp, và không rơi vào chỗ đáng bị bác bỏ, chỉ trích một cách chính đáng nào.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Phật đã nói như vậy.
Attamanā te bhikkhū bhagavato bhāsitaṁ abhinandunti.
Satisfied, the mendicants approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Các vị tỳ-kheo hoan hỷ và tán đồng lời Đức Phật dạy.
Kintisuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Nghĩ Như Thế Nào, bài thứ ba, kết thúc.