mil5.5.10:0.1
Milindapañha
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Milindapañha
mil5.5.10:0.2
Meṇḍakapañha
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Meṇḍakapañha
mil5.5.10:0.3
Santhavavagga
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Santhavavagga
mil5.5.10:0.4
10. Dhammadesanāyaappossukkapañha
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
10. Câu Hỏi Về Ý Định Ít Thích Thuyết Pháp
mil5.5.10:1.1
“Bhante nāgasena, tumhe bhaṇatha—
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thưa ngài Nāgasena, các ngài từng nói rằng:
mil5.5.10:1.2
‘tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāyā’ti.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Trong suốt bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, Đức Như Lai đã vun bồi toàn giác trí để tế độ cứu vớt đại chúng chúng sinh’.
mil5.5.10:1.3
Puna ca ‘sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāyā’ti.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng lại có lời nói rằng: ‘Khi đắc Nhất Thiết Trí, tâm Ngài lại nghiêng về hướng ít thích thú, không muốn thuyết pháp’.
mil5.5.10:2.1
Yathā nāma, bhante nāgasena, issāso vā issāsantevāsī vā bahuke divase saṅgāmatthāya upāsanaṁ sikkhitvā sampatte mahāyuddhe osakkeyya;
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa ngài Nāgasena, ví như một cung thủ hay môn đệ của cung thủ đã luyện tập bắn cung nhiều ngày chuẩn bị cho chiến trận, nhưng khi đại chiến đến nơi thì lại thối lui;
mil5.5.10:2.2
evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṁ pattena dhammadesanāya osakkitaṁ.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, thưa ngài Nāgasena, Đức Như Lai trong suốt bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp đã vun bồi toàn giác trí để tế độ cứu vớt đại chúng chúng sinh, nhưng khi đắc Nhất Thiết Trí lại thối lui việc thuyết pháp.
mil5.5.10:3.1
Yathā vā pana, bhante nāgasena, mallo vā mallantevāsī vā bahuke divase nibbuddhaṁ sikkhitvā sampatte mallayuddhe osakkeyya;
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Lại nữa, thưa ngài Nāgasena, ví như một đô vật hay môn đệ của đô vật đã luyện tập đấu vật nhiều ngày chuẩn bị cho cuộc đọ sức, nhưng khi cuộc đấu vật diễn ra thì lại thối lui;
mil5.5.10:3.2
evameva kho, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācetvā mahato janakāyassa samuddharaṇāya sabbaññutaṁ pattena dhammadesanāya osakkitaṁ.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, thưa ngài Nāgasena, Đức Như Lai trong suốt bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp đã vun bồi toàn giác trí để tế độ cứu vớt đại chúng chúng sinh, nhưng khi đắc Nhất Thiết Trí lại thối lui việc thuyết pháp.
mil5.5.10:4.1
Kiṁ nu kho, bhante nāgasena, tathāgatena bhayā osakkitaṁ, udāhu apākaṭatāya osakkitaṁ, udāhu dubbalatāya osakkitaṁ, udāhu asabbaññutāya osakkitaṁ, kiṁ tattha kāraṇaṁ, iṅgha me tvaṁ kāraṇaṁ brūhi kaṅkhāvitaraṇāya.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa ngài Nāgasena, phải chăng Đức Như Lai thối lui vì sợ hãi, hay thối lui vì chưa tường minh, hay thối lui vì suy yếu mỏi mệt, hay thối lui vì chưa thật sự toàn giác? Đâu là nguyên nhân ở đây? Xin ngài hãy giải thích nguyên do để phá tan mối nghi ngờ của trẫm.
mil5.5.10:4.2
Yadi, bhante nāgasena, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, tena hi ‘sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāyā’ti yaṁ vacanaṁ, taṁ micchā.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thưa ngài Nāgasena, nếu Đức Như Lai trong suốt bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp đã vun bồi toàn giác trí để tế độ cứu vớt đại chúng chúng sinh, thì lời nói rằng: ‘Khi đắc Nhất Thiết Trí, tâm Ngài nghiêng về hướng ít thích thú, không muốn thuyết pháp’ là sai.
mil5.5.10:4.3
Yadi sabbaññutaṁ pattassa appossukkatāya cittaṁ nami no dhammadesanāya, tena hi ‘tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ paripācitaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāyā’ti tampi vacanaṁ micchā.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu khi đắc Nhất Thiết Trí, tâm Ngài nghiêng về hướng ít thích thú, không muốn thuyết pháp, thì lời nói rằng: ‘Trong suốt bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp, Đức Như Lai đã vun bồi toàn giác trí để tế độ cứu vớt đại chúng chúng sinh’, lời ấy cũng sai.
mil5.5.10:4.4
Ayampi ubhato koṭiko pañho gambhīro dunnibbeṭho tavānuppatto, so tayā nibbāhitabbo”ti.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là câu hỏi hai đầu mối sâu xa khó gỡ đã đến với ngài, xin ngài hãy gỡ mối cho thỏa đáng”.
mil5.5.10:5.1
“Paripācitañca, mahārāja, tathāgatena catūhi ca asaṅkhyeyyehi kappānaṁ satasahassena ca etthantare sabbaññutañāṇaṁ mahato janakāyassa samuddharaṇāya, pattasabbaññutassa ca appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Tâu đại vương, Đức Như Lai quả đã vun bồi toàn giác trí trong suốt bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn đại kiếp để tế độ cứu vớt đại chúng chúng sinh, và khi đắc Nhất Thiết Trí tâm Ngài quả đã nghiêng về hướng ít bận tâm, không muốn thuyết pháp.
mil5.5.10:5.2
Tañca pana dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ sattānañca ālayārāmataṁ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nhưng điều đó là vì quán thấy Chánh pháp thâm sâu, vi tế, khó thấy, khó hiểu, nhiệm mầu, khó liễu đạt, trong khi chúng sinh lại đắm chìm trong ái luyến, chấp chặt lấy thân kiến, nên Ngài nghĩ rằng: ‘Sẽ ra sao đây, bằng cách nào đây?’ mà tâm nghiêng về hướng ít bận tâm, không muốn thuyết pháp; đó chính là tâm tư suy xét về khả năng thấu triệt của chúng sinh.
mil5.5.10:6.1
Yathā, mahārāja, bhisakko sallakatto anekabyādhiparipīḷitaṁ naraṁ upasaṅkamitvā evaṁ cintayati ‘kena nu kho upakkamena katamena vā bhesajjena imassa byādhi vūpasameyyā’ti;
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâu đại vương, ví như người thầy thuốc giải phẫu khi đến gặp người bệnh bị nhiều chứng nan y hành hạ, liền suy nghĩ: ‘Dùng phương tiện nào, bằng phương thuốc nào để làm lắng dịu cơn bệnh của người này?’;
mil5.5.10:6.2
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa sabbakilesabyādhiparipīḷitaṁ janaṁ dhammassa ca gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, tâu đại vương, khi Đức Như Lai quán thấy chúng sinh bị bệnh tật của tất cả phiền não vây hãm, và quán thấy Chánh pháp thâm sâu, vi tế, khó thấy, khó hiểu, nhiệm mầu, khó liễu đạt, Ngài nghĩ rằng: ‘Sẽ ra sao đây, bằng cách nào đây?’ mà tâm nghiêng về hướng ít bận tâm, không muốn thuyết pháp; đó chính là tâm tư suy xét về khả năng thấu triệt của chúng sinh.
mil5.5.10:7.1
Yathā, mahārāja, rañño khattiyassa muddhāvasittassa dovārikaanīkaṭṭhapārisajjanegamabhaṭabalaamaccarājaññarājūpajīvine jane disvā evaṁ cittamuppajjeyya ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho ime saṅgaṇhissāmī’ti;
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâu đại vương, ví như vị vua Sát-đế-lợi đã được quán đảnh, khi nhìn thấy đoàn tùy tùng gồm lính canh cửa, cận vệ, thị thần, dân thị tứ, quân binh, tướng soái, đại thần, hoàng thân và những người nương nhờ vào nhà vua, liền khởi lên ý nghĩ: ‘Bằng cách nào đây, làm sao để ta có thể bao bọc giúp đỡ tất cả những người này?’;
mil5.5.10:7.2
evameva kho, mahārāja, tathāgatassa dhammassa gambhīranipuṇaduddasaduranubodhasukhumaduppaṭivedhataṁ sattānañca ālayārāmataṁ sakkāyadiṭṭhiyā daḷhasuggahitatañca disvā ‘kiṁ nu kho, kathaṁ nu kho’ti appossukkatāya cittaṁ nami, no dhammadesanāya, sattānaṁ paṭivedhacintanamānasaṁ yevetaṁ.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, tâu đại vương, khi Đức Như Lai quán thấy Chánh pháp thâm sâu, vi tế, khó thấy, khó hiểu, nhiệm mầu, khó liễu đạt, và quán thấy chúng sinh đắm chìm trong ái luyến, chấp chặt lấy thân kiến, Ngài nghĩ rằng: ‘Sẽ ra sao đây, bằng cách nào đây?’ mà tâm nghiêng về hướng ít bận tâm, không muốn thuyết pháp; đó chính là tâm tư suy xét về khả năng thấu triệt của chúng sinh.
mil5.5.10:8.1
Api ca, mahārāja, sabbesaṁ tathāgatānaṁ dhammatā esā, yaṁ brahmunā āyācitā dhammaṁ desenti.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hơn nữa, tâu đại vương, đó là thường pháp của tất cả chư Phật Như Lai, rằng các Ngài chỉ thuyết pháp khi được Phạm thiên thỉnh cầu.
mil5.5.10:8.2
Tattha pana kiṅkāraṇaṁ?
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Ở đây nguyên do là gì?
mil5.5.10:8.3
Ye tena samayena manussā tāpasaparibbājakā samaṇabrāhmaṇā, sabbete brahmadevatā honti brahmagarukā brahmaparāyaṇā, tasmā tassa balavato yasavato ñātassa paññātassa uttarassa accuggatassa onamanena sadevako loko onamissati okappessati adhimuccissatīti iminā ca, mahārāja, kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṁ desenti.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vào thời bấy giờ, con người, các đạo sĩ khổ hạnh, du sĩ, các sa-môn, bà-la-môn đều tôn thờ Phạm thiên, tôn kính Phạm thiên, xem Phạm thiên là nơi nương tựa tối hậu; do đó, khi một vị có oai lực lớn lao, danh tiếng lẫy lừng, được biết đến rộng rãi, cao thượng và tuyệt đỉnh như Phạm thiên cúi đầu đảnh lễ, thời toàn thể thế gian với chư Thiên sẽ cùng cúi đầu đảnh lễ, tin tưởng và quy phục. Tâu đại vương, chính vì nguyên do ấy mà chư Như Lai thuyết pháp khi được Phạm thiên thỉnh cầu.
mil5.5.10:9.1
Yathā, mahārāja, koci rājā vā rājamahāmatto vā yassa onamati apacitiṁ karoti, balavatarassa tassa onamanena avasesā janatā onamati apacitiṁ karoti;
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tâu đại vương, ví như một vị quốc vương hay đại thần của triều đình cúi mình cung kính trước ai, thì do sự cúi mình của bậc quyền thế hơn ấy, tất cả những người còn lại đều sẽ cúi mình cung kính theo;
mil5.5.10:9.2
evameva kho, mahārāja, brahme onamite tathāgatānaṁ sadevako loko onamissati, pūjitapūjako, mahārāja, loko, tasmā so brahmā sabbesaṁ tathāgatānaṁ āyācati dhammadesanāya, tena ca kāraṇena tathāgatā brahmunā āyācitā dhammaṁ desentī”ti.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
cũng vậy, tâu đại vương, khi Phạm thiên cúi mình đảnh lễ Đức Như Lai, thì toàn thể thế gian với chư Thiên sẽ cùng cúi mình đảnh lễ; tâu đại vương, thế gian vốn tôn kính kẻ được tôn kính, do đó vị Phạm thiên ấy đã thỉnh cầu tất cả chư Phật Như Lai thuyết pháp, và vì nguyên do ấy mà chư Như Lai thuyết pháp khi được Phạm thiên thỉnh cầu”.
mil5.5.10:9.3
“Sādhu, bhante nāgasena, sunibbeṭhito pañho, atibhadrakaṁ veyyākaraṇaṁ, evametaṁ tathā sampaṭicchāmī”ti.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Lành thay, thưa ngài Nāgasena, câu hỏi đã được gỡ mối khéo léo, lời giải thích vô cùng tuyệt diệu, đúng là như vậy, trẫm xin kính nhận”.
mil5.5.10:10.1
Dhammadesanāya appossukkapañho dasamo.
Bản chụp không có bản Anh cho bài này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Câu hỏi về ý định ít thích thuyết pháp là thứ mười.