← Kinh Trường Bộ

DN15 · Dīgha Nikāya

Kinh Đại Duyên

Mahānidānasutta

published

Pāli đọc tại bilara commit 11c9d708978c · 4 bản: Pāli, English, Việt hiện hành, Việt dự án

Tóm tắt & diễn giải

Kinh Đại Duyên được Đức Thế Tôn thuyết trong xứ Kuru, tại thị trấn Kammāsadhamma. Tôn giả Ānanda bạch rằng Pháp duyên khởi sâu xa, biểu hiện cũng sâu xa, nhưng con thấy dễ hiểu. Đức Thế Tôn bảo chớ nói vậy: không giác ngộ, không thâm nhập pháp này mà chúng sinh bị rối như cuộn chỉ, không vượt khỏi ác thú, đọa xứ và luân hồi.

Đức Thế Tôn dạy cách đáp khi được hỏi: già-chết có duyên, do duyên sinh mà có già-chết; sinh do duyên hữu; hữu do duyên thủ; thủ do duyên ái; ái do duyên thọ; thọ do duyên xúc; xúc do duyên danh-sắc; danh-sắc do duyên thức; thức lại do duyên danh-sắc. Như vậy, từ hai pháp duyên lẫn nhau, già-chết cùng toàn khối khổ tập khởi. Mỗi mắt xích bị phủ định: nếu mắt ấy hoàn toàn không có, điều nó duyên khởi không thể được thấy.

Từ thọ, ái sinh tầm cầu, lần lượt lợi, quyết định, tham dục, đắm trước, chấp giữ, hà tiện, thủ hộ; từ thủ hộ, nhiều pháp ác bất thiện sinh khởi; hai dòng tuy hai phương diện, cùng hội tụ ở thọ. Bảy câu hỏi bảy đáp quanh danh-sắc, bốn về xúc, ba về thức trong thai mẹ, đều được Tôn giả Ānanda đáp không. Ngược lại, thức không tìm được chỗ đứng trong danh-sắc thì sinh, già, chết không thể được thấy.

Bốn cách tuyên bố về ngã, hữu sắc hay vô sắc, hữu hạn hay vô hạn, tuyên về hiện tại, nơi khác sẽ thành, hay nuôi để thành, đều làm quan kiến tiềm ẩn; không tuyên bố thì không tiềm ẩn. Ba cách quán ngã quanh thọ bị bác: thọ là ngã thì ngã ấy vô thường; bảo ngã không cảm thọ thì nơi không còn thọ, ý niệm 'Tôi là' không hiện hữu; bảo ngã cảm thọ thì mọi thọ đoạn diệt, ý niệm 'Tôi là cái này' cũng vậy. Không quán như vậy, tỳ-kheo không chấp thủ, không dao động, đạt Niết-bàn, không còn quan kiến về Như Lai sau khi chết.

Bảy trú xứ của thức và hai xứ, từ cõi người qua Phạm Chúng, Quang Âm, Biến Tịnh, ba xứ vô sắc, đến Vô Tưởng Hữu Tình Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; người biết như thật từng trú xứ không thích thú nơi đó, tỳ-kheo ấy là tuệ giải thoát. Tám giải thoát, từ thấy sắc đến Diệt Thọ Tưởng Định; tỳ-kheo nhập xuất thuận, nghịch, cả hai chiều, đoạn tận các lậu hoặc, chứng tâm và tuệ giải thoát vô lậu, gọi là câu phần giải thoát. Toàn kinh hướng về một điểm: thấy duyên khởi từ danh-sắc và thức đến toàn bộ khối khổ, qua không chấp thủ đạt giải thoát cao nhất ấy.

Phần tóm tắt do dự án biên soạn để hỗ trợ đọc, không phải kinh văn. Bản Pāli và các bản dịch hiển thị bên dưới mới là nội dung có thẩm quyền.

Rubric chất lượng tóm tắt

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

10 tiêu chí chấm tóm tắt
Tiêu chíCách đánh giá
Bám sát bài kinhMọi khẳng định có căn cứ trong kinh; không thêm giáo lý hoặc suy diễn.
Đủ ý chínhNêu được trọng tâm và kết luận; không bỏ ý khiến người đọc hiểu sai.
Cấu trúc lập luậnGiữ trình tự và các quan hệ điều kiện, đối chiếu, nhân quả của kinh.
Bối cảnh & người nóiĐúng địa điểm, người nói, người nghe và tình huống khi được nêu.
Thuật ngữDùng đúng nghĩa theo ngữ cảnh, nhất quán với bản dịch.
Sáng rõ & tự nhiênVăn xuôi dễ hiểu với người Việt hiện đại, không calque hay giả cổ.
Súc tíchChọn lọc ý, tránh lặp thừa; không quá 500 từ.
Tách biệt lời kinhPhân biệt tóm tắt với nguyên văn; không gán diễn giải cho Đức Phật.
Bất định & trung thựcKhông biến cách hiểu chưa chắc thành kết luận chắc chắn.
Kỹ thuật & trình bàyVăn xuôi thuần, NFC, đoạn văn hợp lệ và hiển thị đúng.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 471 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 7ffda70e-4353-45af-94e5-f91e940dbfca · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4cce6935f1ae3826da202b788322ff729d771fb0fd0fef48d1122c8dbaeef371

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động: 471 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 77a9d07a-b8a2-4214-812f-b8aadbd5a41b · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 4cce6935f1ae3826da202b788322ff729d771fb0fd0fef48d1122c8dbaeef371

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository summary validator.

Nội dung hoặc nguồn đã thay đổi từ lần đánh giá này; điểm không xác nhận bản hiện tại.

Kiểm tra tự động: 470 từ, 5 đoạn, văn xuôi thuần và NFC. Chưa đối chiếu nội dung tóm tắt với toàn bài kinh; chưa chấm độ đúng nghĩa, đủ ý hay văn phong.

Tiêu chíĐiểm / 10
Bám sát bài kinhChưa đánh giá
Đủ ý chínhChưa đánh giá
Cấu trúc lập luậnChưa đánh giá
Bối cảnh & người nóiChưa đánh giá
Thuật ngữChưa đánh giá
Sáng rõ & tự nhiênChưa đánh giá
Súc tíchChưa đánh giá
Tách biệt lời kinhChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & trình bày10

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: c51af312-fe31-456d-ae0f-26e7a034f6ae · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 3d61fb8b78a5e2a72eea6fe974299af76eb4d1cb73059c4d1ef1c471255e9d22

Rubric chất lượng bản dịch

Mỗi tiêu chí chấm từ 0 đến 10. Điểm chung là trung bình của đủ 10 tiêu chí. Kiểm tra kỹ thuật chỉ chấm phần đo được; ô chưa đánh giá không phải điểm 0.

Điểm trên 9, không có lỗi chặn và vượt kiểm tra phát hành mới đủ điều kiện published. Lỗi chặn luôn thắng điểm số.

10 tiêu chí chấm bản dịch
Tiêu chíCách đánh giá
Nguồn & xuất xứĐúng UID, nguồn Pāli đã ghim; xác định đúng tác giả và nguồn tham khảo.
Đúng nghĩa PāliGiữ đủ ý; không thêm diễn giải vào lời kinh, không làm lệch giáo nghĩa.
Ngữ pháp & logicĐúng người nói, chủ thể, phủ định, điều kiện, số lượng và quan hệ mệnh đề.
Đủ đoạn & căn chỉnhĐủ segment, đúng ID và ranh giới; bảo toàn lặp và dấu lược.
Thuật ngữChính xác theo ngữ cảnh, giữ các phân biệt quan trọng và nhất quán.
Đối chiếu nguồnĐọc Pāli, English và Việt truyền thống khi có; phân xử bất đồng bằng Pāli.
Tiếng Việt sáng rõCâu tự nhiên, dễ hiểu, không dịch máy móc hay giả cổ.
Hán–Việt & súc tíchGiữ thuật ngữ hữu ích, giảm từ tối nghĩa và diễn đạt dài dòng.
Bất định & trung thựcGhi nhận cách hiểu khác; không bịa nguồn hoặc che giấu bất định.
Kỹ thuật & phát hànhJSON/YAML, NFC, metadata, giấy phép và các kiểm tra bắt buộc đều đạt.
2026-10-06 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 277 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: d1ec1a7e-443a-4121-9c92-ffe38af6973f · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 43d350024559178e847e12c9f3dfdbe921ac3fcc3fe24518f88e48ff199c4400

2026-10-05 · Kiểm tra kỹ thuật · Chưa có điểm tổng

Người/công cụ đánh giá: Repository segment validator.

Khớp nội dung và nguồn đang hiển thị.

Kiểm tra tự động 277 segment với Pāli trong cache: đủ ID, giá trị, NFC và hệ chữ Latin. Chưa đọc đối chiếu nghĩa, ngữ pháp hoặc văn phong; chưa chấm lại 10 tiêu chí. Đây không phải chứng nhận hash upstream hoặc giấy phép, không xác nhận trạng thái xuất bản.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứChưa đánh giá
Đúng nghĩa PāliChưa đánh giá
Ngữ pháp & logicChưa đánh giá
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữChưa đánh giá
Đối chiếu nguồnChưa đánh giá
Tiếng Việt sáng rõChưa đánh giá
Hán–Việt & súc tíchChưa đánh giá
Bất định & trung thựcChưa đánh giá
Kỹ thuật & phát hànhChưa đánh giá

Lỗi chặn ghi nhận: không ghi nhận trong phạm vi đánh giá này.

Mã lần chấm: 2c4a4202-3444-4bca-9f0c-42b03dbc2936 · Nguồn: 11c9d708978c · SHA-256 nội dung: 43d350024559178e847e12c9f3dfdbe921ac3fcc3fe24518f88e48ff199c4400

2026-09-10 · Scorecard lịch sử · 9.66/10

Người/công cụ đánh giá: GPT-5.6 Sol.

Scorecard trong metadata cũ; chưa lưu dấu vân tay nội dung hoặc ghi chú của lần chấm. Không coi đây là một lượt chấm lại.

Tiêu chíĐiểm / 10
Nguồn & xuất xứ10
Đúng nghĩa Pāli9.4
Ngữ pháp & logic9.6
Đủ đoạn & căn chỉnh10
Thuật ngữ9.3
Đối chiếu nguồn9.8
Tiếng Việt sáng rõ9.3
Hán–Việt & súc tích9.5
Bất định & trung thực9.7
Kỹ thuật & phát hành10

Lỗi chặn: không ghi nhận.

Pāli

Nguồn chuẩn

Nguồn chuẩn quyết định nghĩa. Khi các bản bất đồng, Pāli là chốt.

SuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms).

277/277 segment có nội dung

NguồnSuttaCentral Mahāsaṅgīti (bilara, pli/ms) (phạm vi công cộng — Pāli là nguồn chuẩn duy nhất)

English

Tham khảo

Bản tham khảo do SuttaCentral phát hành, không phải bản của dự án.

Bhikkhu Sujato.

255/277 segment có nội dung

NguồnBhikkhu Sujato — lấy từ SuttaCentral, translation/en/sujato @ 11c9d708978c (bản quyền thuộc Bhikkhu Sujato; dùng theo giấy phép của dịch giả) · SuttaCentral yêu cầu ghi rõ nguồn gốc khi sử dụng lại

Việt hiện hành

Tham khảo

Bản Việt đang lưu hành, tại bản chụp đã pin.

HT. Thích Minh Châu.

Bản chụp đã pin không có bản dịch cho bài này. Đây là giới hạn của bản chụp SuttaCentral, không phải thiếu sót của dự án.

Việt dự án

Bản của dự án

Bản dịch canonical của dự án. Đây là bản đang biên tập.

277/277 segment có nội dung

NguồnBản dịch của dự án Kinh Tạng Pāli Việt — CC0 1.0, không phải bản của SuttaCentral

Bản đang biên tập: Việt dự án · trạng thái published

Dīgha Nikāya 15
Long Discourses 15
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trường Bộ Kinh 15
Mahānidānasutta
The Great Discourse on Causation
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Đại Duyên
1. Paṭiccasamuppāda
1. Dependent Origination
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
1. Duyên khởi
Evaṁ me sutaṁ—
So I have heard.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôi được nghe như vầy.
ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo.
At one time the Buddha was staying in the land of the Kurus, near the Kuru town named Kammāsadamma.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Một thời, Đức Thế Tôn trú trong xứ Kuru, tại thị trấn Kammāsadhamma của người Kuru.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên và thưa:
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
“It’s incredible, sir, it’s amazing,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Thật hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu, bạch Thế Tôn!
Yāva gambhīro cāyaṁ, bhante, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca, atha ca pana me uttānakuttānako viya khāyatī”ti.
in that this dependent origination is deep and appears deep, yet to me it seems as plain as can be.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Pháp duyên khởi này thật sâu xa và biểu hiện cũng sâu xa, vậy mà đối với con nó dường như rất rõ ràng, dễ hiểu.”
“Mā hevaṁ, ānanda, avaca, mā hevaṁ, ānanda, avaca.
“Don’t say that, Ānanda, don’t say that!
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, chớ nói như vậy! Này Ānanda, chớ nói như vậy!
Gambhīro cāyaṁ, ānanda, paṭiccasamuppādo gambhīrāvabhāso ca.
This dependent origination is deep and appears deep.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Pháp duyên khởi này thật sâu xa và biểu hiện cũng sâu xa.
Etassa, ānanda, dhammassa ananubodhā appaṭivedhā evamayaṁ pajā tantākulakajātā kulagaṇṭhikajātā muñjapabbajabhūtā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ saṁsāraṁ nātivattati.
It is because of not understanding and not penetrating this teaching that this population has become tangled like string, knotted like a ball of thread, and matted like rushes and reeds, and it doesn’t escape the places of loss, the bad places, the underworld, transmigration.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Chính vì không giác ngộ, không thâm nhập pháp này mà chúng sinh bị rối như cuộn chỉ, thắt như búi sợi, bện như cỏ muñja và cỏ pabbaja, không vượt khỏi ác thú, đọa xứ và luân hồi.
‘Atthi idappaccayā jarāmaraṇan’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for old age and death?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, nếu được hỏi: ‘Già-chết có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā jarāmaraṇan’ti iti ce vadeyya, ‘jātipaccayā jarāmaraṇan’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for old age and death?’ you should answer, ‘Rebirth is a requirement for old age and death.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Già-chết do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên sinh mà có già-chết.’
‘Atthi idappaccayā jātī’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for rebirth?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Sinh có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā jātī’ti iti ce vadeyya, ‘bhavapaccayā jātī’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for rebirth?’ you should answer, ‘Continued existence is a requirement for rebirth.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Sinh do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên hữu mà có sinh.’
‘Atthi idappaccayā bhavo’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for continued existence?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Hữu có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā bhavo’ti iti ce vadeyya, ‘upādānapaccayā bhavo’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for continued existence?’ you should answer, ‘Grasping is a requirement for continued existence.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Hữu do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên thủ mà có hữu.’
‘Atthi idappaccayā upādānan’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for grasping?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Thủ có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā upādānan’ti iti ce vadeyya, ‘taṇhāpaccayā upādānan’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for grasping?’ you should answer, ‘Craving is a requirement for grasping.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Thủ do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên ái mà có thủ.’
‘Atthi idappaccayā taṇhā’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for craving?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Ái có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā taṇhā’ti iti ce vadeyya, ‘vedanāpaccayā taṇhā’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for craving?’ you should answer, ‘Feeling is a requirement for craving.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Ái do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên thọ mà có ái.’
‘Atthi idappaccayā vedanā’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for feeling?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Thọ có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā vedanā’ti iti ce vadeyya, ‘phassapaccayā vedanā’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for feeling?’ you should answer, ‘Contact is a requirement for feeling.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Thọ do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên xúc mà có thọ.’
‘Atthi idappaccayā phasso’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for contact?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Xúc có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā phasso’ti iti ce vadeyya, ‘nāmarūpapaccayā phasso’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for contact?’ you should answer, ‘Name and form are requirements for contact.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Xúc do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên danh-sắc mà có xúc.’
‘Atthi idappaccayā nāmarūpan’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for name and form?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Danh-sắc có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā nāmarūpan’ti iti ce vadeyya, ‘viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for name and form?’ you should answer, ‘Consciousness is a requirement for name and form.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Danh-sắc do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên thức mà có danh-sắc.’
‘Atthi idappaccayā viññāṇan’ti iti puṭṭhena satā, ānanda, atthītissa vacanīyaṁ.
When asked, ‘Is there a specific condition for consciousness?’ you should answer, ‘There is.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Thức có duyên không?’ thì phải trả lời: ‘Có.’
‘Kiṁpaccayā viññāṇan’ti iti ce vadeyya, ‘nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti iccassa vacanīyaṁ.
If they say, ‘What is a requirement for consciousness?’ you should answer, ‘Name and form are requirements for consciousness.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu được hỏi: ‘Thức do duyên gì?’ thì phải trả lời: ‘Do duyên danh-sắc mà có thức.’
Iti kho, ānanda, nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ, viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ, nāmarūpapaccayā phasso, phassapaccayā vedanā, vedanāpaccayā taṇhā, taṇhāpaccayā upādānaṁ, upādānapaccayā bhavo, bhavapaccayā jāti, jātipaccayā jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
So: name and form are requirements for consciousness. Consciousness is a requirement for name and form. Name and form are requirements for contact. Contact is a requirement for feeling. Feeling is a requirement for craving. Craving is a requirement for grasping. Grasping is a requirement for continued existence. Continued existence is a requirement for rebirth. Rebirth is a requirement for old age and death, sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress to come to be.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, này Ānanda, do duyên danh-sắc mà có thức; do duyên thức mà có danh-sắc; do duyên danh-sắc mà có xúc; do duyên xúc mà có thọ; do duyên thọ mà có ái; do duyên ái mà có thủ; do duyên thủ mà có hữu; do duyên hữu mà có sinh; do duyên sinh mà già-chết, sầu, bi, khổ, ưu và não sinh khởi.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
That is how this entire mass of suffering originates.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khối khổ này.
‘Jātipaccayā jarāmaraṇan’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā jātipaccayā jarāmaraṇaṁ.
‘Rebirth is a requirement for old age and death’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên sinh mà có già-chết.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Jāti ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, seyyathidaṁ—
Suppose there were totally and utterly no rebirth for anyone anywhere.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có sinh dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai,
devānaṁ vā devattāya, gandhabbānaṁ vā gandhabbattāya, yakkhānaṁ vā yakkhattāya, bhūtānaṁ vā bhūtattāya, manussānaṁ vā manussattāya, catuppadānaṁ vā catuppadattāya, pakkhīnaṁ vā pakkhittāya, sarīsapānaṁ vā sarīsapattāya, tesaṁ tesañca hi, ānanda, sattānaṁ tadattāya jāti nābhavissa. Sabbaso jātiyā asati jātinirodhā api nu kho jarāmaraṇaṁ paññāyethā”ti?
That is, there were no rebirth of sentient beings into their various realms—of gods, centaurs, spirits, creatures, humans, quadrupeds, birds, or reptiles, each into their own realm. When there’s no rebirth at all, with the cessation of rebirth, would old age and death still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn không có sinh làm chư thiên, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, các loại hữu tình, loài người, loài bốn chân, loài chim, loài bò sát, hay bất kỳ loại chúng sinh nào khác; nếu sinh hoàn toàn không có và do sinh diệt, thì già-chết có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo jarāmaraṇassa, yadidaṁ jāti.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of old age and death, namely rebirth.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của già-chết, tức là sinh.
‘Bhavapaccayā jātī’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā bhavapaccayā jāti.
‘Continued existence is a requirement for rebirth’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên hữu mà có sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Bhavo ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, seyyathidaṁ—
Suppose there were totally and utterly no continued existence for anyone anywhere.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có hữu dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai,
kāmabhavo vā rūpabhavo vā arūpabhavo vā, sabbaso bhave asati bhavanirodhā api nu kho jāti paññāyethā”ti?
That is, continued existence in the sensual realm, the realm of luminous form, or the formless realm. When there’s no continued existence at all, with the cessation of continued existence, would rebirth still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn dục hữu, sắc hữu hay vô sắc hữu; nếu hữu hoàn toàn không có và do hữu diệt, thì sinh có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo jātiyā, yadidaṁ bhavo.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of rebirth, namely continued existence.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của sinh, tức là hữu.
‘Upādānapaccayā bhavo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā upādānapaccayā bhavo.
‘Grasping is a requirement for continued existence’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên thủ mà có hữu.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Upādānañca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, seyyathidaṁ—
Suppose there were totally and utterly no grasping for anyone anywhere.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có thủ dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai,
kāmupādānaṁ vā diṭṭhupādānaṁ vā sīlabbatupādānaṁ vā attavādupādānaṁ vā, sabbaso upādāne asati upādānanirodhā api nu kho bhavo paññāyethā”ti?
That is, grasping at sensual pleasures, views, precepts and observances, and theories of a self. When there’s no grasping at all, with the cessation of grasping, would continued existence still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ hay ngã luận thủ; nếu thủ hoàn toàn không có và do thủ diệt, thì hữu có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo bhavassa, yadidaṁ upādānaṁ.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of continued existence, namely grasping.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của hữu, tức là thủ.
‘Taṇhāpaccayā upādānan’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā taṇhāpaccayā upādānaṁ.
‘Craving is a requirement for grasping’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên ái mà có thủ.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Taṇhā ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, seyyathidaṁ—
Suppose there were totally and utterly no craving for anyone anywhere.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có ái dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai,
rūpataṇhā saddataṇhā gandhataṇhā rasataṇhā phoṭṭhabbataṇhā dhammataṇhā, sabbaso taṇhāya asati taṇhānirodhā api nu kho upādānaṁ paññāyethā”ti?
That is, craving for sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas. When there’s no craving at all, with the cessation of craving, would grasping still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc hay pháp; nếu ái hoàn toàn không có và do ái diệt, thì thủ có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo upādānassa, yadidaṁ taṇhā.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of grasping, namely craving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của thủ, tức là ái.
‘Vedanāpaccayā taṇhā’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā vedanāpaccayā taṇhā.
‘Feeling is a requirement for craving’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên thọ mà có ái.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Vedanā ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, seyyathidaṁ—
Suppose there were totally and utterly no feeling for anyone anywhere.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có thọ dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai,
cakkhusamphassajā vedanā sotasamphassajā vedanā ghānasamphassajā vedanā jivhāsamphassajā vedanā kāyasamphassajā vedanā manosamphassajā vedanā, sabbaso vedanāya asati vedanānirodhā api nu kho taṇhā paññāyethā”ti?
That is, feeling born of contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. When there’s no feeling at all, with the cessation of feeling, would craving still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn thọ sinh từ nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc hay ý xúc; nếu thọ hoàn toàn không có và do thọ diệt, thì ái có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo taṇhāya, yadidaṁ vedanā.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of craving, namely feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của ái, tức là thọ.
Iti kho panetaṁ, ānanda, vedanaṁ paṭicca taṇhā, taṇhaṁ paṭicca pariyesanā, pariyesanaṁ paṭicca lābho, lābhaṁ paṭicca vinicchayo, vinicchayaṁ paṭicca chandarāgo, chandarāgaṁ paṭicca ajjhosānaṁ, ajjhosānaṁ paṭicca pariggaho, pariggahaṁ paṭicca macchariyaṁ, macchariyaṁ paṭicca ārakkho.
So it is, Ānanda, that feeling gives rise to craving. Craving gives rise to searching. Searching gives rise to gaining material things. Gaining material things gives rise to evaluation. Evaluation gives rise to desire and lust. Desire and lust gives rise to attachment. Attachment gives rise to ownership. Ownership gives rise to stinginess. Stinginess gives rise to safeguarding.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, như vậy do duyên thọ mà ái sinh; do duyên ái mà tầm cầu sinh; do duyên tầm cầu mà lợi sinh; do duyên lợi mà sự quyết định sinh; do duyên quyết định mà tham dục sinh; do duyên tham dục mà đắm trước sinh; do duyên đắm trước mà chấp giữ sinh; do duyên chấp giữ mà hà tiện sinh; do duyên hà tiện mà thủ hộ sinh.
Ārakkhādhikaraṇaṁ daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti.
Owing to safeguarding, many bad, unskillful things come to be: taking up the rod and the sword, quarrels, arguments, and disputes, accusations, backbiting, and lies.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Do thủ hộ làm duyên, nhiều pháp ác bất thiện sinh khởi: cầm gậy, cầm vũ khí, tranh đấu, xung đột, tranh luận, buộc tội nhau, nói ly gián và nói dối.
‘Ārakkhādhikaraṇaṁ daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavantī’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā ārakkhādhikaraṇaṁ daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhavanti.
‘Owing to safeguarding, many bad, unskillful things come to be: taking up the rod and the sword, quarrels, arguments, and disputes, accusations, backbiting, and lies’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do thủ hộ làm duyên, nhiều pháp ác bất thiện sinh khởi: cầm gậy, cầm vũ khí, tranh đấu, xung đột, tranh luận, buộc tội nhau, nói ly gián và nói dối.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Ārakkho ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso ārakkhe asati ārakkhanirodhā api nu kho daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādā aneke pāpakā akusalā dhammā sambhaveyyun”ti?
Suppose there were totally and utterly no safeguarding for anyone anywhere. When there’s no safeguarding at all, with the cessation of safeguarding, would those many bad, unskillful things still come to be?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có thủ hộ dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu thủ hộ hoàn toàn không có và do thủ hộ diệt, thì những pháp ác bất thiện ấy, như cầm gậy, cầm vũ khí, tranh đấu, xung đột, tranh luận, buộc tội nhau, nói ly gián và nói dối, có thể sinh khởi không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādānaṁ anekesaṁ pāpakānaṁ akusalānaṁ dhammānaṁ sambhavāya yadidaṁ ārakkho.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason for the origination of those many bad, unskillful things, namely safeguarding.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của những pháp ác bất thiện ấy, như cầm gậy, cầm vũ khí, tranh đấu, xung đột, tranh luận, buộc tội nhau, nói ly gián và nói dối, tức là thủ hộ.
‘Macchariyaṁ paṭicca ārakkho’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā macchariyaṁ paṭicca ārakkho.
‘Stinginess gives rise to safeguarding’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên hà tiện mà thủ hộ sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Macchariyañca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso macchariye asati macchariyanirodhā api nu kho ārakkho paññāyethā”ti?
Suppose there were totally and utterly no stinginess for anyone anywhere. When there’s no stinginess at all, with the cessation of stinginess, would safeguarding still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có hà tiện dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu hà tiện hoàn toàn không có và do hà tiện diệt, thì thủ hộ có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo ārakkhassa, yadidaṁ macchariyaṁ.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of safeguarding, namely stinginess.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của thủ hộ, tức là hà tiện.
‘Pariggahaṁ paṭicca macchariyan’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā pariggahaṁ paṭicca macchariyaṁ.
‘Ownership gives rise to stinginess’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên chấp giữ mà hà tiện sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Pariggaho ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso pariggahe asati pariggahanirodhā api nu kho macchariyaṁ paññāyethā”ti?
Suppose there were totally and utterly no ownership for anyone anywhere. When there’s no ownership at all, with the cessation of ownership, would stinginess still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có chấp giữ dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu chấp giữ hoàn toàn không có và do chấp giữ diệt, thì hà tiện có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo macchariyassa, yadidaṁ pariggaho.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of stinginess, namely ownership.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của hà tiện, tức là chấp giữ.
‘Ajjhosānaṁ paṭicca pariggaho’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā ajjhosānaṁ paṭicca pariggaho.
‘Attachment gives rise to ownership’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên đắm trước mà chấp giữ sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Ajjhosānañca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso ajjhosāne asati ajjhosānanirodhā api nu kho pariggaho paññāyethā”ti?
Suppose there were totally and utterly no attachment for anyone anywhere. When there’s no attachment at all, with the cessation of attachment, would ownership still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có đắm trước dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu đắm trước hoàn toàn không có và do đắm trước diệt, thì chấp giữ có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo pariggahassa—yadidaṁ ajjhosānaṁ.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of ownership, namely attachment.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của chấp giữ, tức là đắm trước.
‘Chandarāgaṁ paṭicca ajjhosānan’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā chandarāgaṁ paṭicca ajjhosānaṁ.
‘Desire and lust gives rise to attachment’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên tham dục mà đắm trước sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Chandarāgo ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso chandarāge asati chandarāganirodhā api nu kho ajjhosānaṁ paññāyethā”ti?
Suppose there were totally and utterly no desire and lust for anyone anywhere. When there’s no desire and lust at all, with the cessation of desire and lust, would attachment still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có tham dục dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu tham dục hoàn toàn không có và do tham dục diệt, thì đắm trước có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo ajjhosānassa, yadidaṁ chandarāgo.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of attachment, namely desire and lust.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của đắm trước, tức là tham dục.
‘Vinicchayaṁ paṭicca chandarāgo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā vinicchayaṁ paṭicca chandarāgo.
Evaluation gives rise to desire and lust’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên quyết định mà tham dục sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Vinicchayo ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso vinicchaye asati vinicchayanirodhā api nu kho chandarāgo paññāyethā”ti?
Suppose there were totally and utterly no evaluation for anyone anywhere. When there’s no evaluation at all, with the cessation of evaluation, would desire and lust still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có sự quyết định dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu quyết định hoàn toàn không có và do quyết định diệt, thì tham dục có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo chandarāgassa, yadidaṁ vinicchayo.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of desire and lust, namely evaluation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của tham dục, tức là sự quyết định.
‘Lābhaṁ paṭicca vinicchayo’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā lābhaṁ paṭicca vinicchayo.
‘Gaining material things gives rise to evaluation’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên lợi mà sự quyết định sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Lābho ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso lābhe asati lābhanirodhā api nu kho vinicchayo paññāyethā”ti?
Suppose there were totally and utterly no gaining of material things for anyone anywhere. When there’s no gaining of material things at all, with the cessation of gaining material things, would evaluation still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có lợi dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu lợi hoàn toàn không có và do lợi diệt, thì sự quyết định có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo vinicchayassa, yadidaṁ lābho.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of evaluation, namely the gaining of material things.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của sự quyết định, tức là lợi.
‘Pariyesanaṁ paṭicca lābho’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā pariyesanaṁ paṭicca lābho.
‘Searching gives rise to gaining material things’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên tầm cầu mà lợi sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Pariyesanā ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, sabbaso pariyesanāya asati pariyesanānirodhā api nu kho lābho paññāyethā”ti?
Suppose there were totally and utterly no searching for anyone anywhere. When there’s no searching at all, with the cessation of searching, would the gaining of material things still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có tầm cầu dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai; nếu tầm cầu hoàn toàn không có và do tầm cầu diệt, thì lợi có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo lābhassa, yadidaṁ pariyesanā.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of gaining material things, namely searching.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của lợi, tức là tầm cầu.
‘Taṇhaṁ paṭicca pariyesanā’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā taṇhaṁ paṭicca pariyesanā.
‘Craving gives rise to searching’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên ái mà tầm cầu sinh.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Taṇhā ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, seyyathidaṁ—
Suppose there were totally and utterly no craving for anyone anywhere.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có ái dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai,
kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā, sabbaso taṇhāya asati taṇhānirodhā api nu kho pariyesanā paññāyethā”ti?
That is, craving for sensual pleasures, craving for continued existence, and craving for nonexistence. When there’s no craving at all, with the cessation of craving, would searching still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn dục ái, hữu ái và phi hữu ái; nếu ái hoàn toàn không có và do ái diệt, thì tầm cầu có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo pariyesanāya, yadidaṁ taṇhā.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of searching, namely craving.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của tầm cầu, tức là ái.
Iti kho, ānanda, ime dve dhammā dvayena vedanāya ekasamosaraṇā bhavanti.
And so, Ānanda, these two things meet at the two aspects of feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, như vậy hai pháp này, tuy là hai phương diện, cùng hội tụ vào một ở thọ.
‘Phassapaccayā vedanā’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā phassapaccayā vedanā.
‘Contact is a requirement for feeling’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên xúc mà có thọ.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Phasso ca hi, ānanda, nābhavissa sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ kassaci kimhici, seyyathidaṁ—
Suppose there were totally and utterly no contact for anyone anywhere.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Nếu hoàn toàn không có xúc dưới bất kỳ hình thức nào, ở bất kỳ nơi nào, đối với bất kỳ ai,
cakkhusamphasso sotasamphasso ghānasamphasso jivhāsamphasso kāyasamphasso manosamphasso, sabbaso phasse asati phassanirodhā api nu kho vedanā paññāyethā”ti?
That is, contact through the eye, ear, nose, tongue, body, and mind. When there’s no contact at all, with the cessation of contact, would feeling still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
chẳng hạn nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc hay ý xúc; nếu xúc hoàn toàn không có và do xúc diệt, thì thọ có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo vedanāya, yadidaṁ phasso.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of feeling, namely contact.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của thọ, tức là xúc.
‘Nāmarūpapaccayā phasso’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā nāmarūpapaccayā phasso.
‘Name and form are requirements for contact’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên danh-sắc mà có xúc.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Yehi, ānanda, ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi yehi uddesehi nāmakāyassa paññatti hoti, tesu ākāresu tesu liṅgesu tesu nimittesu tesu uddesesu asati api nu kho rūpakāye adhivacanasamphasso paññāyethā”ti?
Suppose there were none of the features, attributes, signs, and details by which the set of mental phenomena known as name is found. Would labeling contact still be found in the set of physical phenomena?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, nếu không có những hình thái, dấu hiệu, đặc trưng và cách chỉ định nhờ đó danh thân được nhận biết và quy ước, thì danh mục xúc có thể được thấy nơi sắc thân không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Yehi, ānanda, ākārehi yehi liṅgehi yehi nimittehi yehi uddesehi rūpakāyassa paññatti hoti, tesu ākāresu …pe… tesu uddesesu asati api nu kho nāmakāye paṭighasamphasso paññāyethā”ti?
“Suppose there were none of the features, attributes, signs, and details by which the set of physical phenomena known as form is found. Would impingement contact still be found in the set of mental phenomena?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, nếu không có những hình thái, dấu hiệu, đặc trưng và cách chỉ định nhờ đó sắc thân được nhận biết và quy ước, thì hữu đối xúc có thể được thấy nơi danh thân không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Yehi, ānanda, ākārehi …pe… yehi uddesehi nāmakāyassa ca rūpakāyassa ca paññatti hoti, tesu ākāresu …pe… tesu uddesesu asati api nu kho adhivacanasamphasso vā paṭighasamphasso vā paññāyethā”ti?
“Suppose there were none of the features, attributes, signs, and details by which the set of phenomena known as name and the set of phenomena known as form are found. Would either labeling contact or impingement contact still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, nếu không có những hình thái, dấu hiệu, đặc trưng và cách chỉ định nhờ đó cả danh thân và sắc thân được nhận biết và quy ước, thì danh mục xúc hay hữu đối xúc có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Yehi, ānanda, ākārehi …pe… yehi uddesehi nāmarūpassa paññatti hoti, tesu ākāresu …pe… tesu uddesesu asati api nu kho phasso paññāyethā”ti?
“Suppose there were none of the features, attributes, signs, and details by which name and form are found. Would contact still be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, nếu không có những hình thái, dấu hiệu, đặc trưng và cách chỉ định nhờ đó danh-sắc được nhận biết và quy ước, thì xúc có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo phassassa, yadidaṁ nāmarūpaṁ.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of contact, namely name and form.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của xúc, tức là danh-sắc.
‘Viññāṇapaccayā nāmarūpan’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā viññāṇapaccayā nāmarūpaṁ.
‘Consciousness is a requirement for name and form’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên thức mà có danh-sắc.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Viññāṇañca hi, ānanda, mātukucchismiṁ na okkamissatha, api nu kho nāmarūpaṁ mātukucchismiṁ samuccissathā”ti?
If consciousness were not conceived in the mother’s womb, would name and form coagulate there?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, nếu thức không nhập vào thai mẹ, danh-sắc có kết tụ trong thai mẹ không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Viññāṇañca hi, ānanda, mātukucchismiṁ okkamitvā vokkamissatha, api nu kho nāmarūpaṁ itthattāya abhinibbattissathā”ti?
“If consciousness, after being conceived in the mother’s womb, were to be miscarried, would name and form be born into this place?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu thức sau khi nhập vào thai mẹ lại rời đi, danh-sắc có sinh thành trong trạng thái này không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Viññāṇañca hi, ānanda, daharasseva sato vocchijjissatha kumārakassa vā kumārikāya vā, api nu kho nāmarūpaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjissathā”ti?
“If the consciousness of a young boy or girl were to be cut off, would name and form achieve growth, increase, and maturity?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Nếu thức của một bé trai hay bé gái bị đoạn khi còn nhỏ, danh-sắc có thể tăng trưởng, phát triển và trưởng thành không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo nāmarūpassa—yadidaṁ viññāṇaṁ.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of name and form, namely consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của danh-sắc, tức là thức.
‘Nāmarūpapaccayā viññāṇan’ti iti kho panetaṁ vuttaṁ, tadānanda, imināpetaṁ pariyāyena veditabbaṁ, yathā nāmarūpapaccayā viññāṇaṁ.
‘Name and form are requirements for consciousness’—that’s what I said. And this is a way to understand how this is so.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đã nói: ‘Do duyên danh-sắc mà có thức.’ Này Ānanda, phải hiểu điều ấy theo cách này.
Viññāṇañca hi, ānanda, nāmarūpe patiṭṭhaṁ na labhissatha, api nu kho āyatiṁ jātijarāmaraṇaṁ dukkhasamudayasambhavo paññāyethā”ti?
If consciousness were not established in name and form, would the coming to be of the origin of suffering—of rebirth, old age, and death in the future—be found?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, nếu thức không tìm được chỗ đứng trong danh-sắc, thì sự phát sinh của khổ trong tương lai, tức sinh, già và chết, có thể được thấy không?”
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, eseva hetu etaṁ nidānaṁ esa samudayo esa paccayo viññāṇassa yadidaṁ nāmarūpaṁ.
“That’s why this is the cause, source, origin, and reason of consciousness, namely name and form.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, đây chính là nhân, duyên, tập khởi và điều kiện của thức, tức là danh-sắc.
Ettāvatā kho, ānanda, jāyetha vā jīyetha vā mīyetha vā cavetha vā upapajjetha vā.
This is the extent to which one may be reborn, grow old, die, pass away, or reappear.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đến chừng này, này Ānanda, mới có sinh, già, chết, qua đời và tái sinh.
Ettāvatā adhivacanapatho, ettāvatā niruttipatho, ettāvatā paññattipatho, ettāvatā paññāvacaraṁ, ettāvatā vaṭṭaṁ vattati itthattaṁ paññāpanāya yadidaṁ nāmarūpaṁ saha viññāṇena aññamaññapaccayatā pavattati.
This is how far the scope of labeling, definition, and description extends; how far the sphere of wisdom extends; how far the cycle of rebirths spins so that this state of being may be found; namely, name and form together with consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đến chừng này là phạm vi của danh xưng, ngôn ngữ và khái niệm; đến chừng này là phạm vi hoạt động của trí; đến chừng này vòng luân hồi vận hành để trạng thái hiện hữu này được quy ước, tức danh-sắc cùng với thức vận hành trong quan hệ duyên lẫn nhau.
2. Attapaññatti
2. Describing the Self
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
2. Những cách tuyên bố về ngã
Kittāvatā ca, ānanda, attānaṁ paññapento paññapeti?
How do those who describe the self describe it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, người tuyên bố về ngã tuyên bố đến mức nào?
Rūpiṁ vā hi, ānanda, parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti:
They describe it as formed and limited:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có người tuyên bố ngã là hữu sắc và hữu hạn:
‘rūpī me paritto attā’ti.
‘My self is formed and limited.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là hữu sắc và hữu hạn.’
Rūpiṁ vā hi, ānanda, anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti:
Or they describe it as formed and infinite:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có người tuyên bố ngã là hữu sắc và vô hạn:
‘rūpī me ananto attā’ti.
‘My self is formed and infinite.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là hữu sắc và vô hạn.’
Arūpiṁ vā hi, ānanda, parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti:
Or they describe it as formless and limited:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có người tuyên bố ngã là vô sắc và hữu hạn:
‘arūpī me paritto attā’ti.
‘My self is formless and limited.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là vô sắc và hữu hạn.’
Arūpiṁ vā hi, ānanda, anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti:
Or they describe it as formless and infinite:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có người tuyên bố ngã là vô sắc và vô hạn:
‘arūpī me ananto attā’ti.
‘My self is formless and infinite.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là vô sắc và vô hạn.’
Tatrānanda, yo so rūpiṁ parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti.
Now, take those who describe the self as formed and limited.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, người tuyên bố ngã là hữu sắc và hữu hạn,
Etarahi vā so rūpiṁ parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, tattha bhāviṁ vā so rūpiṁ parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa hoti.
They describe the self in the present as formed and limited; or they describe it as sure to be in some other place formed and limited; or else they think: ‘Though it is not like that, I will ensure it is provided with what it needs to become like that.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hoặc tuyên bố ngã hiện tại là hữu sắc và hữu hạn; hoặc tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành hữu sắc và hữu hạn ở một nơi khác; hoặc nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, rūpiṁ parittattānudiṭṭhi anusetīti iccālaṁ vacanāya.
This being so, it’s appropriate to say that a theory of self as formed and limited underlies them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã hữu sắc và hữu hạn đang tiềm ẩn nơi người ấy.
Tatrānanda, yo so rūpiṁ anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti.
Now, take those who describe the self as formed and infinite …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người tuyên bố ngã là hữu sắc và vô hạn,
Etarahi vā so rūpiṁ anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, tattha bhāviṁ vā so rūpiṁ anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa hoti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hoặc tuyên bố ngã hiện tại là hữu sắc và vô hạn; hoặc tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành hữu sắc và vô hạn ở một nơi khác; hoặc nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, rūpiṁ anantattānudiṭṭhi anusetīti iccālaṁ vacanāya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã hữu sắc và vô hạn đang tiềm ẩn nơi người ấy.
Tatrānanda, yo so arūpiṁ parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti.
formless and limited …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người tuyên bố ngã là vô sắc và hữu hạn,
Etarahi vā so arūpiṁ parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, tattha bhāviṁ vā so arūpiṁ parittaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa hoti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hoặc tuyên bố ngã hiện tại là vô sắc và hữu hạn; hoặc tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành vô sắc và hữu hạn ở một nơi khác; hoặc nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, arūpiṁ parittattānudiṭṭhi anusetīti iccālaṁ vacanāya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã vô sắc và hữu hạn đang tiềm ẩn nơi người ấy.
Tatrānanda, yo so arūpiṁ anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti.
formless and infinite.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người tuyên bố ngã là vô sắc và vô hạn,
Etarahi vā so arūpiṁ anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, tattha bhāviṁ vā so arūpiṁ anantaṁ attānaṁ paññapento paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa hoti.
They describe the self as formless and infinite in the present; or as sure to become formless and infinite in some other place; or else they think: ‘Though it is not like that, I will ensure it is provided with what it needs to become like that.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hoặc tuyên bố ngã hiện tại là vô sắc và vô hạn; hoặc tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành vô sắc và vô hạn ở một nơi khác; hoặc nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, arūpiṁ anantattānudiṭṭhi anusetīti iccālaṁ vacanāya.
This being so, it’s appropriate to say that a theory of self as formless and infinite underlies them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã vô sắc và vô hạn đang tiềm ẩn nơi người ấy.
Ettāvatā kho, ānanda, attānaṁ paññapento paññapeti.
That’s how those who describe the self describe it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đến chừng này, này Ānanda, là những cách người ta tuyên bố về ngã.
3. Naattapaññatti
3. Not Describing the Self
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
3. Những cách không tuyên bố về ngã
Kittāvatā ca, ānanda, attānaṁ na paññapento na paññapeti?
How do those who don’t describe the self not describe it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, người không tuyên bố về ngã không tuyên bố đến mức nào?
Rūpiṁ vā hi, ānanda, parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti:
They don’t describe it as formed and limited …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy không tuyên bố ngã là hữu sắc và hữu hạn:
‘rūpī me paritto attā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là hữu sắc và hữu hạn.’
Rūpiṁ vā hi, ānanda, anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti:
formed and infinite …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy không tuyên bố ngã là hữu sắc và vô hạn:
‘rūpī me ananto attā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là hữu sắc và vô hạn.’
Arūpiṁ vā hi, ānanda, parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti:
formless and limited …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy không tuyên bố ngã là vô sắc và hữu hạn:
‘arūpī me paritto attā’ti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là vô sắc và hữu hạn.’
Arūpiṁ vā hi, ānanda, anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti:
formless and infinite:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người ấy không tuyên bố ngã là vô sắc và vô hạn:
‘arūpī me ananto attā’ti.
‘My self is formless and infinite.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Ngã của tôi là vô sắc và vô hạn.’
Tatrānanda, yo so rūpiṁ parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti.
Now, take those who don’t describe the self as formed and limited …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, người không tuyên bố ngã là hữu sắc và hữu hạn,
Etarahi vā so rūpiṁ parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, tattha bhāviṁ vā so rūpiṁ parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa na hoti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không tuyên bố ngã hiện tại là hữu sắc và hữu hạn; không tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành hữu sắc và hữu hạn ở một nơi khác; cũng không nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, rūpiṁ parittattānudiṭṭhi nānusetīti iccālaṁ vacanāya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã hữu sắc và hữu hạn không tiềm ẩn nơi người ấy.
Tatrānanda, yo so rūpiṁ anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti.
formed and infinite …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người không tuyên bố ngã là hữu sắc và vô hạn,
Etarahi vā so rūpiṁ anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, tattha bhāviṁ vā so rūpiṁ anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa na hoti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không tuyên bố ngã hiện tại là hữu sắc và vô hạn; không tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành hữu sắc và vô hạn ở một nơi khác; cũng không nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, rūpiṁ anantattānudiṭṭhi nānusetīti iccālaṁ vacanāya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã hữu sắc và vô hạn không tiềm ẩn nơi người ấy.
Tatrānanda, yo so arūpiṁ parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti.
formless and limited …
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người không tuyên bố ngã là vô sắc và hữu hạn,
Etarahi vā so arūpiṁ parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, tattha bhāviṁ vā so arūpiṁ parittaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa na hoti.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không tuyên bố ngã hiện tại là vô sắc và hữu hạn; không tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành vô sắc và hữu hạn ở một nơi khác; cũng không nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, arūpiṁ parittattānudiṭṭhi nānusetīti iccālaṁ vacanāya.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã vô sắc và hữu hạn không tiềm ẩn nơi người ấy.
Tatrānanda, yo so arūpiṁ anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti.
formless and infinite.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người không tuyên bố ngã là vô sắc và vô hạn,
Etarahi vā so arūpiṁ anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, tattha bhāviṁ vā so arūpiṁ anantaṁ attānaṁ na paññapento na paññapeti, ‘atathaṁ vā pana santaṁ tathattāya upakappessāmī’ti iti vā panassa na hoti.
They don’t describe the self in the present as formless and infinite; or as sure to become in some other place formless and infinite; and they don’t think: ‘Though it is not like that, I will ensure it is provided with what it needs to become like that.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
không tuyên bố ngã hiện tại là vô sắc và vô hạn; không tuyên bố ngã chắc chắn sẽ trở thành vô sắc và vô hạn ở một nơi khác; cũng không nghĩ: ‘Dù hiện chưa như vậy, tôi sẽ làm cho nó trở thành như vậy.’
Evaṁ santaṁ kho, ānanda, arūpiṁ anantattānudiṭṭhi nānusetīti iccālaṁ vacanāya.
This being so, it’s appropriate to say that a theory of self as formless and infinite doesn’t underlie them.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi ấy có thể nói rằng quan kiến về ngã vô sắc và vô hạn không tiềm ẩn nơi người ấy.
Ettāvatā kho, ānanda, attānaṁ na paññapento na paññapeti.
That’s how those who don’t describe the self don’t describe it.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đến chừng này, này Ānanda, là những cách người ta không tuyên bố về ngã.
4. Attasamanupassanā
4. Regarding a Self
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
4. Những cách quán ngã
Kittāvatā ca, ānanda, attānaṁ samanupassamāno samanupassati?
How do those who regard the self regard it?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, người quán ngã quán ngã theo những cách nào?
Vedanaṁ vā hi, ānanda, attānaṁ samanupassamāno samanupassati:
They regard feeling as self:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có người quán thọ là ngã:
‘vedanā me attā’ti.
‘Feeling is my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thọ là ngã của tôi.’
‘Na heva kho me vedanā attā, appaṭisaṁvedano me attā’ti iti vā hi, ānanda, attānaṁ samanupassamāno samanupassati.
Or they regard it like this: ‘Feeling is definitely not my self. My self does not experience feeling.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoặc quán như vậy: ‘Thọ chắc chắn không phải ngã của tôi; ngã của tôi không cảm thọ.’
‘Na heva kho me vedanā attā, nopi appaṭisaṁvedano me attā, attā me vediyati, vedanādhammo hi me attā’ti iti vā hi, ānanda, attānaṁ samanupassamāno samanupassati.
Or they regard it like this: ‘Feeling is definitely not my self. But it’s not that my self does not experience feeling. My self feels, for my self is liable to feel.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoặc quán như vậy: ‘Thọ chắc chắn không phải ngã của tôi, nhưng không phải ngã không cảm thọ. Ngã của tôi cảm thọ; ngã của tôi có bản chất cảm thọ.’
Tatrānanda, yo so evamāha:
Now, as to those who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đối với người nói:
‘vedanā me attā’ti,
‘Feeling is my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thọ là ngã của tôi,’
so evamassa vacanīyo:
You should say this to them:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hãy nói với người ấy:
‘tisso kho imā, āvuso, vedanā—
‘Reverend, there are three feelings:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, có ba loại thọ:
sukhā vedanā dukkhā vedanā adukkhamasukhā vedanā.
pleasant, painful, and neutral.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lạc thọ, khổ thọ và thọ không khổ không lạc.
Imāsaṁ kho tvaṁ tissannaṁ vedanānaṁ katamaṁ attato samanupassasī’ti?
Which one of these do you regard as self?’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Trong ba loại thọ này, Hiền giả quán loại nào là ngã?’
Yasmiṁ, ānanda, samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti;
Ānanda, at a time when you feel a pleasant feeling, you don’t feel a painful or neutral feeling;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, khi cảm nhận lạc thọ, người ấy không cảm nhận khổ thọ hay thọ không khổ không lạc;
sukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
you only feel a pleasant feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lúc ấy người ấy chỉ cảm nhận lạc thọ.
Yasmiṁ, ānanda, samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti;
At a time when you feel a painful feeling, you don’t feel a pleasant or neutral feeling;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm nhận khổ thọ, người ấy không cảm nhận lạc thọ hay thọ không khổ không lạc;
dukkhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
you only feel a painful feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lúc ấy người ấy chỉ cảm nhận khổ thọ.
Yasmiṁ, ānanda, samaye adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na dukkhaṁ vedanaṁ vedeti;
At a time when you feel a neutral feeling, you don’t feel a pleasant or painful feeling;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm nhận thọ không khổ không lạc, người ấy không cảm nhận lạc thọ hay khổ thọ;
adukkhamasukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
you only feel a neutral feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
lúc ấy người ấy chỉ cảm nhận thọ không khổ không lạc.
Sukhāpi kho, ānanda, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā.
Pleasant feelings, painful feelings, and neutral feelings are all impermanent, conditioned, dependently originated, liable to end, vanish, fade away, and cease.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sinh, có bản chất tiêu hoại, suy tàn, ly tham và đoạn diệt.
Dukkhāpi kho, ānanda, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khổ thọ cũng vô thường, hữu vi, do duyên sinh, có bản chất tiêu hoại, suy tàn, ly tham và đoạn diệt.
Adukkhamasukhāpi kho, ānanda, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Thọ không khổ không lạc cũng vô thường, hữu vi, do duyên sinh, có bản chất tiêu hoại, suy tàn, ly tham và đoạn diệt.
Tassa sukhaṁ vedanaṁ vediyamānassa ‘eso me attā’ti hoti.
When feeling a pleasant feeling they think: ‘This is my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm nhận lạc thọ, người ấy nghĩ: ‘Đây là ngã của tôi.’
Tassāyeva sukhāya vedanāya nirodhā ‘byagā me attā’ti hoti.
When their pleasant feeling ceases they think: ‘My self has expired.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi lạc thọ ấy đoạn diệt, người ấy nghĩ: ‘Ngã của tôi đã biến mất.’
Dukkhaṁ vedanaṁ vediyamānassa ‘eso me attā’ti hoti.
When feeling a painful feeling they think: ‘This is my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm nhận khổ thọ, người ấy nghĩ: ‘Đây là ngã của tôi.’
Tassāyeva dukkhāya vedanāya nirodhā ‘byagā me attā’ti hoti.
When their painful feeling ceases they think: ‘My self has expired.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi khổ thọ ấy đoạn diệt, người ấy nghĩ: ‘Ngã của tôi đã biến mất.’
Adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vediyamānassa ‘eso me attā’ti hoti.
When feeling a neutral feeling they think: ‘This is my self.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi cảm nhận thọ không khổ không lạc, người ấy nghĩ: ‘Đây là ngã của tôi.’
Tassāyeva adukkhamasukhāya vedanāya nirodhā ‘byagā me attā’ti hoti.
When their neutral feeling ceases they think: ‘My self has expired.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi thọ không khổ không lạc ấy đoạn diệt, người ấy nghĩ: ‘Ngã của tôi đã biến mất.’
Iti so diṭṭheva dhamme aniccasukhadukkhavokiṇṇaṁ uppādavayadhammaṁ attānaṁ samanupassamāno samanupassati, yo so evamāha: ‘vedanā me attā’ti.
So those who say ‘feeling is my self’ regard as self that which is evidently impermanent, mixed with pleasure and pain, and liable to rise and fall.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Như vậy, người nói ‘thọ là ngã của tôi’ đang quán ngay trong hiện tại một cái ngã rõ ràng vô thường, pha trộn lạc và khổ, có bản chất sinh rồi diệt.
Tasmātihānanda, etena petaṁ nakkhamati: ‘vedanā me attā’ti samanupassituṁ.
That’s why it’s not acceptable to regard feeling as my self.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vậy, này Ānanda, không thích hợp để quán: ‘Thọ là ngã của tôi.’
Tatrānanda, yo so evamāha:
Now, as to those who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đối với người nói:
‘na heva kho me vedanā attā, appaṭisaṁvedano me attā’ti, so evamassa vacanīyo:
‘Feeling is definitely not my self. My self does not experience feeling.’ You should say this to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thọ chắc chắn không phải ngã của tôi; ngã của tôi không cảm thọ,’ hãy nói với người ấy:
‘yattha panāvuso, sabbaso vedayitaṁ natthi api nu kho, tattha “ayamahamasmī”ti siyā’”ti?
‘But reverend, where there is nothing felt at all, would the thought “I am” occur there?’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, nơi hoàn toàn không có bất kỳ cảm thọ nào, ý niệm “Tôi là” có thể hiện hữu không?’
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, etena petaṁ nakkhamati: ‘na heva kho me vedanā attā, appaṭisaṁvedano me attā’ti samanupassituṁ.
“That’s why it’s not acceptable to regard self as that which does not experience feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, này Ānanda, không thích hợp để quán: ‘Thọ chắc chắn không phải ngã của tôi; ngã của tôi không cảm thọ.’
Tatrānanda, yo so evamāha:
Now, as to those who say:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đối với người nói:
‘na heva kho me vedanā attā, nopi appaṭisaṁvedano me attā, attā me vediyati, vedanādhammo hi me attā’ti.
‘Feeling is definitely not my self. But it’s not that my self does not experience feeling. My self feels, for my self is liable to feel.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Thọ chắc chắn không phải ngã của tôi, nhưng không phải ngã không cảm thọ. Ngã của tôi cảm thọ; ngã của tôi có bản chất cảm thọ,’
So evamassa vacanīyo—
You should say this to them,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
hãy nói với người ấy:
vedanā ca hi, āvuso, sabbena sabbaṁ sabbathā sabbaṁ aparisesā nirujjheyyuṁ.
‘Suppose feelings were to totally and utterly cease without remainder.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Này Hiền giả, giả sử tất cả các thọ hoàn toàn đoạn diệt không còn dư sót.
Sabbaso vedanāya asati vedanānirodhā api nu kho tattha ‘ayamahamasmī’ti siyā”ti?
When there’s no feeling at all, with the cessation of feeling, would the thought “I am this” occur there?’”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Khi hoàn toàn không có thọ do thọ diệt, ý niệm “Tôi là cái này” có thể hiện hữu không?’
“No hetaṁ, bhante”.
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tasmātihānanda, etena petaṁ nakkhamati: ‘na heva kho me vedanā attā, nopi appaṭisaṁvedano me attā, attā me vediyati, vedanādhammo hi me attā’ti samanupassituṁ.
“That’s why it’s not acceptable to regard self as that which is liable to feel.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Vì vậy, này Ānanda, không thích hợp để quán: ‘Thọ chắc chắn không phải ngã của tôi, nhưng không phải ngã không cảm thọ. Ngã của tôi cảm thọ; ngã của tôi có bản chất cảm thọ.’
Yato kho, ānanda, bhikkhu neva vedanaṁ attānaṁ samanupassati, nopi appaṭisaṁvedanaṁ attānaṁ samanupassati, nopi ‘attā me vediyati, vedanādhammo hi me attā’ti samanupassati.
When a mendicant does not regard feeling as self; does not regard self as not experiencing feeling; and does not regard it thus: ‘my self feels, for my self is liable to feel’—
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, khi một vị tỳ-kheo không quán thọ là ngã, không quán ngã là không cảm thọ, cũng không quán rằng ‘ngã của tôi cảm thọ; ngã của tôi có bản chất cảm thọ,’
So evaṁ na samanupassanto na ca kiñci loke upādiyati,
not regarding in this way, they don’t grasp at anything in the world.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
do không quán như vậy, vị ấy không chấp thủ bất cứ gì ở đời.
anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati,
Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không chấp thủ, vị ấy không dao động; không dao động, vị ấy tự mình đạt Niết-bàn.
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy biết: ‘Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái hiện hữu này nữa.’
Evaṁ vimuttacittaṁ kho, ānanda, bhikkhuṁ yo evaṁ vadeyya:
It wouldn’t be appropriate to say that a mendicant whose mind is freed like this holds the following views:
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đối với một vị tỳ-kheo có tâm giải thoát như vậy, nếu ai nói rằng vị ấy có quan kiến:
‘hoti tathāgato paraṁ maraṇā itissa diṭṭhī’ti, tadakallaṁ.
‘A realized one still exists after death’;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Như Lai tồn tại sau khi chết,’ thì không thích hợp;
‘Na hoti tathāgato paraṁ maraṇā itissa diṭṭhī’ti, tadakallaṁ.
‘A realized one no longer exists after death’;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Như Lai không tồn tại sau khi chết,’ thì không thích hợp;
‘Hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇā itissa diṭṭhī’ti, tadakallaṁ.
‘A realized one both still exists and no longer exists after death’;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại sau khi chết,’ thì không thích hợp;
‘Neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇā itissa diṭṭhī’ti, tadakallaṁ.
‘A realized one neither still exists nor no longer exists after death’.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
‘Như Lai chẳng tồn tại cũng chẳng không tồn tại sau khi chết,’ thì không thích hợp.
Taṁ kissa hetu?
Why is that?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì sao?
Yāvatā, ānanda, adhivacanaṁ yāvatā adhivacanapatho, yāvatā nirutti yāvatā niruttipatho, yāvatā paññatti yāvatā paññattipatho, yāvatā paññā yāvatā paññāvacaraṁ, yāvatā vaṭṭaṁ, yāvatā vaṭṭati, tadabhiññāvimutto bhikkhu, tadabhiññāvimuttaṁ bhikkhuṁ ‘na jānāti na passati itissa diṭṭhī’ti, tadakallaṁ.
A mendicant is freed by directly knowing this: how far labeling and the scope of labeling extend; how far definition and the scope of definition extend; how far description and the scope of description extend; how far wisdom and the sphere of wisdom extend; how far the cycle of rebirths and its continuation extend. It wouldn’t be appropriate to say that a mendicant freed by directly knowing this holds the view: ‘There is no such thing as knowing and seeing.’
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vì vị tỳ-kheo ấy được giải thoát do thắng tri toàn bộ phạm vi của danh xưng và con đường danh xưng, ngôn ngữ và con đường ngôn ngữ, khái niệm và con đường khái niệm, trí tuệ và phạm vi của trí tuệ, cùng vòng luân hồi và phạm vi vận hành của nó. Đối với vị tỳ-kheo được giải thoát do thắng tri như vậy, nếu nói rằng vị ấy có quan kiến ‘không biết, không thấy’ thì không thích hợp.
5. Sattaviññāṇaṭṭhiti
5. Planes of Consciousness
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
5. Bảy trú xứ của thức
Satta kho, ānanda, viññāṇaṭṭhitiyo, dve āyatanāni.
Ānanda, there are seven planes of consciousness and two dimensions.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, có bảy trú xứ của thức và hai xứ.
Katamā satta?
What seven?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Bảy là gì?
Santānanda, sattā nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā, ekacce ca devā, ekacce ca vinipātikā.
There are sentient beings that are diverse in body and diverse in perception, such as human beings, some gods, and some beings in the underworld.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có những chúng sinh thân khác nhau và tưởng khác nhau, như loài người, một số chư thiên và một số chúng sinh ở đọa xứ.
Ayaṁ paṭhamā viññāṇaṭṭhiti.
This is the first plane of consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là trú xứ thứ nhất của thức.
Santānanda, sattā nānattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā brahmakāyikā paṭhamābhinibbattā.
There are sentient beings that are diverse in body and unified in perception, such as the gods reborn in the Divinity’s host through the first absorption.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có những chúng sinh thân khác nhau nhưng tưởng giống nhau, như các vị Phạm Chúng thiên mới sinh vào cõi ấy.
Ayaṁ dutiyā viññāṇaṭṭhiti.
This is the second plane of consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là trú xứ thứ hai của thức.
Santānanda, sattā ekattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi devā ābhassarā.
There are sentient beings that are unified in body and diverse in perception, such as the gods of sublime luminosity.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có những chúng sinh thân giống nhau nhưng tưởng khác nhau, như các vị Quang Âm thiên.
Ayaṁ tatiyā viññāṇaṭṭhiti.
This is the third plane of consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là trú xứ thứ ba của thức.
Santānanda, sattā ekattakāyā ekattasaññino, seyyathāpi devā subhakiṇhā.
There are sentient beings that are unified in body and unified in perception, such as the gods of universal beauty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có những chúng sinh thân giống nhau và tưởng giống nhau, như các vị Biến Tịnh thiên.
Ayaṁ catutthī viññāṇaṭṭhiti.
This is the fourth plane of consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là trú xứ thứ tư của thức.
Santānanda, sattā sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanūpagā.
There are sentient beings that have gone totally beyond perceptions of form. With the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite space.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có những chúng sinh hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do các tưởng về đối ngại chấm dứt, không tác ý đến các tưởng sai biệt, với nhận thức ‘hư không là vô biên,’ sinh vào Không Vô Biên Xứ.
Ayaṁ pañcamī viññāṇaṭṭhiti.
This is the fifth plane of consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là trú xứ thứ năm của thức.
Santānanda, sattā sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanūpagā.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite space. Aware that ‘consciousness is infinite’, they have been reborn in the dimension of infinite consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có những chúng sinh hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, với nhận thức ‘thức là vô biên,’ sinh vào Thức Vô Biên Xứ.
Ayaṁ chaṭṭhī viññāṇaṭṭhiti.
This is the sixth plane of consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là trú xứ thứ sáu của thức.
Santānanda, sattā sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanūpagā.
There are sentient beings that have gone totally beyond the dimension of infinite consciousness. Aware that ‘there is nothing at all’, they have been reborn in the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có những chúng sinh hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, với nhận thức ‘không có gì,’ sinh vào Vô Sở Hữu Xứ.
Ayaṁ sattamī viññāṇaṭṭhiti.
This is the seventh plane of consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đó là trú xứ thứ bảy của thức.
Asaññasattāyatanaṁ nevasaññānāsaññāyatanameva dutiyaṁ.
Then there is the dimension of non-percipient beings, and secondly, the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hai xứ là Vô Tưởng Hữu Tình Xứ và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Tatrānanda, yāyaṁ paṭhamā viññāṇaṭṭhiti nānattakāyā nānattasaññino, seyyathāpi manussā, ekacce ca devā, ekacce ca vinipātikā.
Now, regarding these seven planes of consciousness and two dimensions,
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, đối với trú xứ thứ nhất của thức, nơi chúng sinh có thân khác nhau và tưởng khác nhau, như loài người, một số chư thiên và một số chúng sinh ở đọa xứ:
Yo nu kho, ānanda, tañca pajānāti, tassā ca samudayaṁ pajānāti, tassā ca atthaṅgamaṁ pajānāti, tassā ca assādaṁ pajānāti, tassā ca ādīnavaṁ pajānāti, tassā ca nissaraṇaṁ pajānāti, kallaṁ nu tena tadabhinanditun”ti?
is it appropriate for someone who understands them—and their origin, disappearance, gratification, drawback, and escape—to take pleasure in them?”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
người nào biết như thật trú xứ ấy, sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, nguy hại và sự xuất ly của nó, người ấy có thích thú và hoan hỷ nơi đó không?”
“No hetaṁ, bhante” …pe…
“No, sir.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.” …
“tatrānanda, yamidaṁ asaññasattāyatanaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, còn Vô Tưởng Hữu Tình Xứ.
Yo nu kho, ānanda, tañca pajānāti, tassa ca samudayaṁ pajānāti, tassa ca atthaṅgamaṁ pajānāti, tassa ca assādaṁ pajānāti, tassa ca ādīnavaṁ pajānāti, tassa ca nissaraṇaṁ pajānāti, kallaṁ nu tena tadabhinanditun”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người nào biết như thật xứ ấy, sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, nguy hại và sự xuất ly của nó, người ấy có thích thú và hoan hỷ nơi đó không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Tatrānanda, yamidaṁ nevasaññānāsaññāyatanaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, còn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Yo nu kho, ānanda, tañca pajānāti, tassa ca samudayaṁ pajānāti, tassa ca atthaṅgamaṁ pajānāti, tassa ca assādaṁ pajānāti, tassa ca ādīnavaṁ pajānāti, tassa ca nissaraṇaṁ pajānāti, kallaṁ nu tena tadabhinanditun”ti?
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Người nào biết như thật xứ ấy, sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, nguy hại và sự xuất ly của nó, người ấy có thích thú và hoan hỷ nơi đó không?”
“No hetaṁ, bhante”.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Bạch Thế Tôn, không.”
“Yato kho, ānanda, bhikkhu imāsañca sattannaṁ viññāṇaṭṭhitīnaṁ imesañca dvinnaṁ āyatanānaṁ samudayañca atthaṅgamañca assādañca ādīnavañca nissaraṇañca yathābhūtaṁ viditvā anupādā vimutto hoti, ayaṁ vuccatānanda, bhikkhu paññāvimutto.
“When a mendicant, having truly understood the origin, disappearance, gratification, drawback, and escape regarding these seven planes of consciousness and these two dimensions, is freed by not grasping, they’re called a mendicant who is freed by wisdom.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
“Này Ānanda, khi một vị tỳ-kheo biết như thật sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, nguy hại và sự xuất ly của bảy trú xứ của thức và hai xứ này, rồi giải thoát không do chấp thủ, vị ấy được gọi là tỳ-kheo tuệ giải thoát.
6. Aṭṭhavimokkha
6. The Eight Liberations
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
6. Tám giải thoát
Aṭṭha kho ime, ānanda, vimokkhā.
Ānanda, there are these eight liberations.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, có tám giải thoát.
Katame aṭṭha?
What eight?
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tám là gì?
Rūpī rūpāni passati
Having physical form, they see forms.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Có sắc, vị ấy thấy các sắc.
ayaṁ paṭhamo vimokkho.
This is the first liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ nhất.
Ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati,
Not perceiving form internally, they see forms externally.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Không tưởng sắc ở bên trong, vị ấy thấy các sắc ở bên ngoài.
ayaṁ dutiyo vimokkho.
This is the second liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ hai.
Subhanteva adhimutto hoti,
They’re focused only on beauty.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Vị ấy chú tâm hoàn toàn vào tịnh tướng.
ayaṁ tatiyo vimokkho.
This is the third liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ ba.
Sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati,
Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoàn toàn vượt qua các sắc tưởng, do các tưởng về đối ngại chấm dứt, không tác ý đến các tưởng sai biệt, với nhận thức ‘hư không là vô biên,’ vị ấy chứng và trú Không Vô Biên Xứ.
ayaṁ catuttho vimokkho.
This is the fourth liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ tư.
Sabbaso ākāsānañcāyatanaṁ samatikkamma ‘anantaṁ viññāṇan’ti viññāṇañcāyatanaṁ upasampajja viharati,
Going totally beyond the dimension of infinite space, aware that ‘consciousness is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite consciousness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoàn toàn vượt qua Không Vô Biên Xứ, với nhận thức ‘thức là vô biên,’ vị ấy chứng và trú Thức Vô Biên Xứ.
ayaṁ pañcamo vimokkho.
This is the fifth liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ năm.
Sabbaso viññāṇañcāyatanaṁ samatikkamma ‘natthi kiñcī’ti ākiñcaññāyatanaṁ upasampajja viharati,
Going totally beyond the dimension of infinite consciousness, aware that ‘there is nothing at all’, they enter and remain in the dimension of nothingness.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoàn toàn vượt qua Thức Vô Biên Xứ, với nhận thức ‘không có gì,’ vị ấy chứng và trú Vô Sở Hữu Xứ.
ayaṁ chaṭṭho vimokkho.
This is the sixth liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ sáu.
Sabbaso ākiñcaññāyatanaṁ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṁ upasampajja viharati,
Going totally beyond the dimension of nothingness, they enter and remain in the dimension of neither perception nor non-perception.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoàn toàn vượt qua Vô Sở Hữu Xứ, vị ấy chứng và trú Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
ayaṁ sattamo vimokkho.
This is the seventh liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ bảy.
Sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati,
Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Hoàn toàn vượt qua Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, vị ấy chứng và trú Diệt Thọ Tưởng Định.
ayaṁ aṭṭhamo vimokkho.
This is the eighth liberation.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là giải thoát thứ tám.
Ime kho, ānanda, aṭṭha vimokkhā.
These are the eight liberations.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đây là tám giải thoát.
Yato kho, ānanda, bhikkhu ime aṭṭha vimokkhe anulomampi samāpajjati, paṭilomampi samāpajjati, anulomapaṭilomampi samāpajjati, yatthicchakaṁ yadicchakaṁ yāvaticchakaṁ samāpajjatipi vuṭṭhātipi.
When a mendicant enters into and withdraws from these eight liberations—in forward order, in reverse order, and in forward and reverse order—wherever they wish, whenever they wish, and for as long as they wish;
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, khi một vị tỳ-kheo chứng nhập và xuất khỏi tám giải thoát này theo thứ tự thuận, thứ tự nghịch, và cả thuận lẫn nghịch, ở đâu tùy ý, khi nào tùy ý và bao lâu tùy ý;
Āsavānañca khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati, ayaṁ vuccatānanda, bhikkhu ubhatobhāgavimutto.
and when they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom, and live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements, they’re called a mendicant who is freed both ways.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
và do đoạn tận các lậu hoặc, vị ấy tự mình bằng thắng trí chứng ngộ và an trú ngay trong hiện tại tâm giải thoát và tuệ giải thoát vô lậu; vị ấy được gọi là tỳ-kheo câu phần giải thoát.
Imāya ca, ānanda, ubhatobhāgavimuttiyā aññā ubhatobhāgavimutti uttaritarā vā paṇītatarā vā natthī”ti.
And, Ānanda, there is no other freedom both ways that is better or finer than this.”
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Này Ānanda, không có câu phần giải thoát nào khác cao hơn hay thù thắng hơn sự câu phần giải thoát này.”
Idamavoca bhagavā.
That is what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Tôn giả Ānanda hoan hỷ, tùy hỷ lời Đức Thế Tôn dạy.
Mahānidānasuttaṁ niṭṭhitaṁ dutiyaṁ.
Bản tham khảo để trống ở đoạn này
Bản chụp không có bản Việt hiện hành cho bài này
Kinh Đại Duyên kết thúc, bài thứ hai.